K. KHÍA CẠNH TÂM LÝ HỌC CỦA CẦU NGUYỆN, một con đường dẫn tới đời sống thiêng liêng lành mạnh
K.1. Dẫn nhập
Tâm lý học là khoa học về tâm trí và cách ứng xử của con người mà mục đích tối hậu là để mưu ích cho xã hội. Các nhà tâm lý tìm hiểu vai trò của các chức năng tinh thần trong cách ứng xử cá nhân và xã hội, bằng việc khảo sát những quá trình tâm lý và thần kinh-sinh học làm nền tảng cho một số những chức năng và cách ứng xử nào đó. Chúng ta sẽ khảo sát khía cạnh tâm lý học đằng sau lời cầu nguyện như một con đường dẫn tới linh đạo lành mạnh.
K.2. Các tính chất và tác động tâm lý trong việc cầu nguyện
K.2.1 Tâm lý tôn giáo phát triển theo lịch sử
Con người thời thượng cổ nhìn ra bên ngoài nhận thấy các sự vật to lớn hơn họ mà họ không kiểm soát được, như sức nóng của mặt trời, lửa, gió, mưa v.v. và khi đối mặt với những yếu tố không thể kiểm soát được này, con người cảm thấy bất lực và bắt đầu cầu xin sự giúp đỡ, bằng cách hiến dâng những gì tốt nhất mà họ có để đổi lấy sự giúp đỡ ấy. Do đó, việc thờ phượng và cầu khấn trở thành một phần của cuộc sống con người.
Đến thời kỳ mệnh danh là được khai sáng với những trào lưu triết học như Triết Hiện sinh và Triết Mác-Lê, quan niệm về Thiên Chúa bị trực tiếp tấn công và họ tuyên bố “Thiên Chúa đã chết.” Những người dứt khoát chối bỏ quan niệm về Thiên Chúa, tự gọi mình là vô thần, tuyên bố mình là một phần của quá trình tiến hóa của vũ trụ và coi cái chết là chấm dứt sự hiện hữu của con người và của muôn vật. Một số khác thấy rằng các tôn giáo có tổ chức có những đòi hỏi, nhất là những đòi hỏi luân lý, quá khắt khe và phiền phức, nên tốt hơn là đừng dính líu vào. Những người theo thuyết bất khả tri dựa vào khoa học từ chối Thiên Chúa vì không tìm thấy bằng chứng rõ rệt về Ngài.
K.2.2 Tâm lý học không tôn giáo
Đầu thế kỷ XX, những người tiên phong trong định hướng phân tâm học như Sigmund Freud, Carl Jung, Alfred Adler và Erik Fromm coi tôn giáo và cầu nguyện không có tính cách khoa học, mà chỉ là sự thôi thúc trẻ con không đáng cho người trưởng thành chọn lựa, họ nhận chìm tiếng nói của một số người chủ trương rằng tôn giáo và cầu nguyện là thành phần không thể thiếu trong việc phát triển toàn diện con người.
Nhưng vào giữa thế kỷ XX, một số tâm lý gia tầm cỡ như William James, Gordon Allport, Allen Bergin đã dũng cảm quả quyết tôn giáo không chỉ đóng góp vào nhân cách lành mạnh của con người, mà còn là một yếu tố chủ yếu trong đời sống con người nữa; tôn giáo cung cấp cho sự hiện hữu của con người một ý nghĩa, và trả lời những vấn nạn mà Tâm lý học không thể trả lời được.
Quả vậy, Freud, nhà phân tâm học Dothái, cho rằng tôn giáo là một biểu hiện của chứng loạn thần kinh tâm lý cơ bản, là một ảo tưởng, được ước nguyện theo bản năng của con người nuôi dưỡng, và cho rằng tôn giáo là một cố gắng điều chỉnh phức cảm Ơ-đíp. Tuy nhiên, ông nhận rằng tôn giáo là một yếu tố ngẫu nhiên cần thiết của việc con người chuyển tiếp từ tuổi thơ ấu sang tuổi trưởng thành, nhưng đề xuất rằng cũng như di tích bệnh thần kinh, tôn giáo cần phải được thay thế bằng hoạt động hợp lý của trí năng. Ông luyến tiếc sự kiện nhiều người có khuynh hướng bênh vực tôn giáo và quy việc bênh vực tôn giáo này cho ý thức tội lỗi của nền văn minh.
Carl Jung, nhà phân tâm học Thụy sĩ, dù thuộc nhóm bất khả tri thuyết về vấn đề Thiên Chúa, đã có cảm tình hơn với tôn giáo, với cảm nghiệm tôn giáo và nghi thức tôn giáo. Ông khá chú trọng đến tôn giáo biểu tượng, cho rằng những kinh nghiệm tôn giáo phát xuất từ những hình ảnh căn bản phổ quát và chồng chéo văn hóa trong tiềm thức ra lãnh vực của ý thức.
Alfred Adler, người Áo, trình bày rằng con người luôn cố gắng đền bồi cho những thấp kém nhận thức được nơi mình. Một trong những mặc cảm tự ty này là sự thiếu quyền lực. Niềm tin vào Thiên Chúa là cố gắng đạt tới hoàn thiện và vượt trội, vì Thiên Chúa được thừa nhận là hoàn hảo và toàn năng, những ai tin và cầu nguyện với Thiên Chúa thì cũng được như thế, nghĩa là đền bù được cho sự bất toàn và những mặc cảm tự ty của mình. Adler cho rằng quan niệm của một người về thế giới thế nào thì nó cho phép người đó sống theo như vậy. Những ý tưởng và niềm tin về Thiên Chúa phản ánh cách một người quan niệm về thế giới. Thiên Chúa hay niềm tin Thiên Chúa lúc đó trở thành động lực cho cách ứng xử về nhân bản, tâm lý và thiêng liêng. Những cách ứng xử như thế có những hậu quả thực sự trên con người, vì Thiên Chúa hướng dẫn những tương tác xã hội, tâm lý và thiêng liêng. Như thế, tôn giáo trở thành yếu tố động lực cho cách ứng xử hiệu quả, vượt lên trên khoa học.
Erik Fromm, học giả người Mỹ, mô tả những chức năng tôn giáo phức tạp hơn, nhằm thay đổi lý thuyết của Freud: mặc cảm Ơ-đíp không căn cứ nhiều vào tính dục, mà vào một ‘ước muốn sâu xa hơn nhiều,’ tức là ước muốn của đứa trẻ cứ muốn gắn bó với những người đã bảo vệ nó. Theo ông, tôn giáo đúng đắn cổ vũ những tiềm năng cao nhất của một cá nhân; con người cần một hệ thống tham chiếu vững chắc, và tôn giáo hiển nhiên thỏa mãn nhu cầu này.
K.2.3 Tôn giáo và Linh đạo
Tâm lý tôn giáo chủ yếu là học hỏi tâm lý về những cảm nghiệm, những niềm tin, kinh nguyện và nghi thức tôn giáo. Đó là một cố gắng hiểu tôn giáo và thực hành nó nhờ khoa học. Pargament cho rằng việc tìm kiếm sự thánh thiêng, sự thiên linh, sự thật là chung cho cả tôn giáo lẫn linh đạo. Nhưng Emmons và McCullough phân biệt tôn giáo và linh đạo: tâm lý tích cực nghiên cứu linh đạo ở mức độ cá nhân, trong khi tôn giáo ở mức độ cơ cấu. Còn Capps có ý kiến rằng trọng tâm tâm lý học tôn giáo là khía cạnh tâm lý học của cầu nguyện.
Chúng ta sẽ xem lập trường cố gắng hiểu tôn giáo, linh đạo và cầu nguyện theo quan điểm tâm lý học, qua các câu hỏi như ‘tại sao người ta tin tôn giáo?’ và ‘tại sao người ta cầu nguyện cùng Thiên Chúa?’ Rudolph Otto, thần học gia người Đức, định nghĩa tôn giáo là ‘cảm nghiệm về Đấng thánh,’ nhấn mạnh tính cách khách quan của kinh nghiệm tôn giáo, ngược lại lý thuyết chủ quan của các nhà nhân chủng học. Kinh nghiệm khách quan, theo Otto, là một cảm nghiệm thiêng liêng bí ẩn, một cảm nghiệm về một mầu nhiệm khác thường và hấp dẫn.
Ninian Smart, người Tích Lan, nghiên cứu chân lý tôn giáo từ một quan điểm trần tục, và xúc tiến việc nghiên cứu các tôn giáo so sánh. Theo ông, các nền văn hóa và truyền thống tôn giáo ảnh hưởng lẫn nhau và cần hiểu biết nhau. ‘Cảm nghiệm về Đấng thánh’ có thể hoặc là thiêng liêng hoặc là huyền nhiệm. Đối với ông, các phong trào tôn giáo mới không bao hàm trong thuyết hữu thần (tin Thiên Chúa) như một yếu tố cốt yếu, phổ quát. Vì thế, một số ý thức hệ như Mac-xit và duy lý, cả đến chủ nghĩa dân tộc, đều có thể được coi là những tôn giáo, vì chúng phản chiếu chức năng của những truyền thống tôn giáo. Mối quan tâm của ông là tại sao người ta tin và họ tin gì: Ý niệm thăng tiến những giá trị nhân bản và linh đạo ẩn tàng nơi con người xem ra là lý do cho “tôn giáo”.
Pargament, khi viết về tôn giáo và linh đạo theo phương diện tâm lý học, đã phân biệt ba loại kiểu cách đối phó với tâm trạng căng thẳng: Cộng tác, ở chỗ con người cộng tác với Thiên Chúa để đối phó với tâm trạng căng thẳng; Trì hoãn, ở chỗ con người bỏ mặc mọi sự cho Thiên Chúa; Tự mình điều khiển, ở chỗ con người cố gắng giải quyết vấn đề chỉ bằng ảnh hưởng riêng của mình.
K.2.4 Những người thách thức tâm lý học chính thống
Bác sĩ Theodore B. Hyslop tuyên bố rằng trong mọi tình huống khốn khổ, suy nhược tinh thần, kiệt sức, ông ‘dành chỗ hạng nhất cho thói quen cầu nguyện.’ Theo ông, khoa học là trung gian điều đình tôn giáo mới, nó đang đi vào vùng đất rộng lớn này của ý thức con người mà những sự kiện và cảm nghiệm đòi phải được nghiên cứu chặt chẽ nhất. Ông không thảo luận về cầu nguyện một cách thần học, nhưng ở phương diện của hoạt động ý thức nhận biết của tinh thần con người. Triết học phản đối việc cầu nguyện lý luận rằng thật là phi lý khi giả định chỉ nguyên ước nguyện của một người được bày tỏ trong kinh nguyện cũng gây ra sự trệch hướng trong trật tự đã được sắp đặt của vũ trụ, tức định luật nội tại bị một ước nguyện gạt qua một bên.
Tuy nhiên lời phát biểu của bác sĩ Hyslop chỉ ra rằng tinh thần của con người có quyền trên những tuần hoàn của thân xác và những yếu tố của thân xác ấy. Cầu nguyện theo nghĩa này là sự đáp ứng của tinh thần con người đón nhận luật vĩnh cửu. Kinh nguyện là lời tuyên bố mối quan hệ của một người với Thượng Đế, và do dó, đáp lại những khích động bên trong do quyền lực vô tận gây ra. Như thế kinh nguyện là một kinh nghiệm thiêng liêng của con người.
William James, nhà tâm lý người Mỹ, tiên phong trong lãnh vực nghiên cứu những cảm nghiệm tôn giáo, đã phân biệt tôn giáo cơ cấu và tôn giáo cá nhân. Tập trung vào những cảm nghiệm tôn giáo cá nhân bao gồm những cảm nghiệm thần bí, ông nhận ra những cảm nghiệm tôn giáo của tâm trí lành mạnh và tâm hồn bệnh hoạn. Trong khi phạm trù thứ nhất không để ý đến sự dữ trong thế gian và tập chú vào sự lành và tích cực, thì phạm trù thứ hai lại tập chú vào sự dữ và đau khổ, khao khát hòa giải sự lành và sự dữ. Tuy nhiên, niềm tin tôn giáo của ông có tính cách thực dụng: nếu tôn giáo, thực hành tôn giáo, linh đạo hay cầu nguyện có hiệu quả trong đời người thì có lý để tiếp tục, nhưng nếu nó không có hiệu quả gì thì không có lý để tiếp tục thực hành tôn giáo nữa. Do đó, có những người tìm sự thánh thiêng trong tôn giáo hay cầu nguyện, là bởi vì người ta cảm nghiệm được hiệu quả của những thực hành tôn giáo trong đời mình. Lập trường này có thể được xếp loại là sử dụng tôn giáo hay cầu nguyện làm ‘phương tiện để đạt cùng đích.’
Gordon Allport (1950) minh họa rằng người ta sử dụng tôn giáo bằng hai cách, tôn giáo trưởng thành và tôn giáo không trưởng thành: người đến với tôn giáo có óc cởi mở và có thể hòa hợp những mâu thuẫn là trưởng thành, còn người chú trọng vào bản thân và nhìn tôn giáo cách tiêu cực khi nó không phục vụ bản thân mình, là bám lấy tôn giáo không trưởng thành. Về sau Allport và Ross (1967) dùng “tôn giáo nội tại” qui cho tôn giáo trưởng thành, một lòng sùng mộ chân thành, và “tôn giáo ngoại tại” cho tôn giáo không trưởng thành, một sự sử dụng tôn giáo vụ lợi hơn, ‘như phương tiện để đạt cùng đích.’
Batson đề nghị một hình thức thứ ba cho định hướng tôn giáo như “một cuộc tìm kiếm bỏ ngỏ:” sẵn lòng nhìn những nghi ngờ tôn giáo với một quan niệm tích cực, nhận rằng định hướng tôn giáo có thể thay đổi sự phức tạp hiện sinh của con người và tin rằng những niềm tin tôn giáo của con người có lẽ được hình thành từ những khủng hoảng cá nhân. Như vậy, tôn giáo ngoại tại là ‘tôn giáo –như phương tiện,’ tôn giáo nội tại là ‘tôn giáo –như cùng đích,’ và sự tìm kiếm bỏ ngỏ là ‘tôn giáo –như kiếm tìm.’
Erik Erikson coi các tôn giáo là những ảnh hưởng quan trọng để phát triển nhân cách thành công. Ông đánh giá cao tôn giáo là con đường trước tiên để văn hóa thăng tiến các nhân đức, liên kết với mỗi giai đoạn của cuộc sống. Nghi thức tôn giáo và cầu nguyện làm cho sự phát triển này được dễ dàng.
Thomas F. O’Dea, nhà xã hội Công giáo người Mỹ, khi vật lộn với những giới hạn cơ cấu của những niềm tin và thực hành tôn giáo của xã hội tân tiến, đã nhận ra tác động ẩn tàng của việc tục hóa trên các tôn giáo và các cá nhân tín hữu. Đối với O’Dea, “tôn giáo là câu trả lời của một người cho những thời điểm đổ vỡ mà trong đó người ấy cảm nghiệm được quyền lực tối hậu và thánh thiêng.” Ông nghiêm túc tin vào khả năng của đức tin trong việc thỏa mãn những nhu cầu khác thường của mọi cá nhân, là tìm kiếm ý nghĩa và định hướng sâu sắc hơn của mục đích cuộc đời.
Allen Bergin xác quyết rằng những giá trị tôn giáo có ảnh hưởng đến khoa phân tâm học, và nhấn mạnh tính cách quan trọng của các giá trị và của tôn giáo trong điều trị.
James Hillman chống lại việc nhìn tôn giáo qua tâm lý học, và đề nghị nhìn tâm lý học như một đa dạng của những cảm nghiệm tôn giáo. Đối với ông, Tâm lý học kể như tôn giáo bao hàm việc tưởng tượng tất cả những sự kiện tâm lý là những tác động của Thiên Chúa trong linh hồn.
Robert Emmons chủ trương rằng những nỗ lực tinh thần (nghi thức và cầu nguyện) tăng cường sự toàn vẹn nhân cách, bởi vì chúng hiện hữu trên một mức độ cao hơn nhân cách. Trong số những thực hành tôn giáo, cầu nguyện nổi bật là việc bày tỏ trước tiên niềm tin vào Thiên Chúa, với bốn yếu tố chủ yếu này: Cầu nguyện suy niệm, cầu nguyện nghi thức, cầu nguyện xin ơn, và cầu nguyện đàm thoại. Cầu nguyện suy niệm dựa trên hiểu biết hơn, còn cầu nguyện nghi thức bao hàm việc đọc và những cử chỉ. Cầu nguyện xin ơn là cầu xin cùng Thiên Chúa, và cầu nguyện đàm thoại nói chung là cuộc chuyện vãn cùng Thiên Chúa.
K.2.5 Cầu nguyện như một kinh nghiệm thanh tẩy
Sheff chủ trương rằng cầu nguyện nghi thức cung cấp một cảm tưởng thanh tẩy hay thanh lọc. Theo Scheff, những nghi thức này đẩy xa nỗi lo lắng, u buồn, còn đối với Schumarker, việc thanh tẩy của nghi thức thúc đẩy liên kết với những người khác và cho phép diễn tả cảm xúc. Sosis nghiên cứu xa hơn đã nêu bật các thành phần xã hội của nghi thức, là sự cam kết và ràng buộc nhóm, để rồi nhóm sẽ ngăn cản không cho người không cam kết được hưởng lợi ích làm thành viên của nhóm. Reich đề nghị rằng các nghi thức có thể trợ giúp bằng cách nhấn mạnh những giá trị luân lý dùng làm qui phạm nhóm và điều chỉnh xã hội.
K.2.6 Cầu nguyện như một nhu cầu xã hội
Một con người tôn giáo đạt được các tư tưởng và thực hành tôn giáo qua việc phô bày xã hội xảy ra từ tuổi thơ ấu về sau. Tuy nhiên, chỉ nguyên việc phô bày thì không gây nên được một quan điểm tôn giáo đặc biệt nơi một người trưởng thành. Khi một đứa trẻ đến tuổi trưởng thành, những phô bày này cần phải thuyết phục khối óc để được nó đồng hóa với một tôn giáo như thế. Niềm xác tín này có thể thay đổi nơi những người khác nhau.
Tiến sĩ Harold Koenig, phó giáo sư y học và phân tâm học, đưa ra bốn lý do tại sao cầu nguyện và tôn giáo mưu ích cho một con người: Thứ nhất, tôn giáo và đức tin cung cấp hỗ trợ xã hội, nghĩa là một người vừa nhận được sự hỗ trợ vừa hỗ trợ người khác. Thứ hai, cầu nguyện tăng cường hệ thống đức tin. Thứ ba, tôn giáo và linh đạo cho người ta luật pháp để tuân theo, hầu điều khiển đời sống một cách suôn sẻ. Sau cùng, đức tin cho các biến cố ý nghĩa, mang lại niềm hy vọng và làm giảm bớt tình trạng quá căng thẳng. Từ quan điểm tâm lý, những lợi ích như tính vị tha, sự ăn ý với nhau, và niềm hy vọng sẽ mang lại sự toàn vẹn cho một con người. Việc gia nhập tôn giáo và cầu nguyện mang lại những hiệu quả như thế sẽ tăng cường sức mạnh cho ngưới ta tiếp tục đi tới.
K.2.7 Cầu nguyện như một phóng chiếu
Anna và Barry Ullanov giúp chúng ta hiểu biết thêm về cầu nguyện và sự chiến đấu trong cầu nguyện. Cuốn Diễn từ quan trọng nhất chỉ ra một số yếu tố căn bản nhất của hành trình cầu nguyện: chấp nhận chính mình và can đảm đi sâu hơn vào cầu nguyện, thành thạo hơn trong việc khám phá đấng vô minh. Cuốn sách trình bày lý do tại sao cầu nguyện là tự nhiên đối với chúng ta và là căn bản xét về mặt tâm lý học: “trong cầu nguyện, chúng ta nói thực ra chúng ta là ai, chứ không phải chúng ta đáng ra là ai, cũng không phải chúng ta ước nguyện mình là ai, mà chúng ta là ai.”
Họ dùng những dụng cụ tâm lý để giúp người ta cầu nguyện chứ không giảm trừ cầu nguyện vào tâm lý học. Những chiến đấu và những nỗi lo sợ sự thinh lặng trong cầu nguyện là một phần các sức năng động của cầu nguyện đưa người ta đến chỗ ước ao cầu nguyện, và đây là động cơ thúc đẩy việc cầu nguyện. Trong khi Freud đề nghị phóng chiếu quyền lực riêng của mình về Thiên Chúa, họ lại khẳng định rằng phóng chiếu đó như là một trong những cách thức con người vươn tới Thiên Chúa: “trong cầu nguyện, chúng ta phải bắt đầu ở chỗ chúng ta là, với những hình ảnh của Đấng thiên linh mà chúng ta phóng chiếu lên và thấy mình đang được phóng chiếu nơi đấng vô minh.”
K.2.8 Cầu nguyện và cuộc tự nói với mình
Tự mình nói với mình là một cách diễn tả tất cả những điều người ta nói với chính mình để đương đầu với những trở ngại, lấy quyết định và giải quyết vấn đề. Việc tự mình nói với mình là một phần tiến trình suy nghĩ gọi là “giòng ý thức.” Khi những vấn đề hay quyết định được đặt ra cho một người, người ấy có thể nghĩ: “Tôi sẽ đối xử thế nào đây?” hoặc “Việc này xem ra khó đấy, tốt hơn tôi sẽ xin trợ giúp” hoặc “tôi đã biết cách ổn định vấn đề này làm sao!”
Nhưng cuộc tự nói với mình tiêu cực ngăn cản cá nhân giải quyết vấn đề và có thể góp phần vào nhiều vấn đề tâm lý khác, bao gồm cả việc gây nên chán nản. Khi đối diện với một vấn đề, cuộc tự nói với mình tiêu cực có thể làm cho người ta bị động: “Tôi không thể làm việc này, tôi sẽ chỉ lại làm cho nó rối lên thôi” hoặc “Có lẽ tôi sẽ bị ‘lúa đời’ sau khi họ thấy rõ là tôi bất tài.” Các nhà tâm lý giúp các cá nhân nhận dạng cuộc tự nói với mình tiêu cực, đồng thời dạy họ biết cách thách đố những phát biểu tiêu cực này thế nào, và làm sao thay thế chúng bằng cuộc tự nói với mình tích cực.
Cuộc tự nói với mình tích cực rất có lợi, nó khuyến khích, điều khiển và hướng dẫn người ta làm, nghĩ và cảm nhận sao cho phù hợp với những ước nguyện của mình. Đó là một dụng cụ rất hữu hiệu trong nhận thức liệu pháp liên quan đến những cá nhân suy nhược, cũng như trong thể thao liệu pháp liên quan đến sức khỏe. Khi cầu nguyện được sử dụng như liệu pháp kết nối với Thiên Chúa thì cuộc tự nói với mình là một vốn quí.
K.2.9 Cầu nguyện như sự tha thứ
Việc cầu nguyện kitô đòi hỏi sự tha thứ (Mc 11,25; Luc 11, 2-4; Mt 6, 9-13). Trái tim không biết tha thứ có lẽ là chướng ngại vật duy nhất khiến người ta không có được đời sống cầu nguyện đầy sức sống và nghị lực. Dai giẳng trong sự không tha thứ gây thiệt hại cho người ta. Theo tâm lý, sự gắn bó với một tổn thương nổi dậy từ một biến cố quá khứ đặc biệt nào đó ngăn chặn dòng hy vọng chảy vào đời sống chúng ta, lại hướng đời chúng ta xa khỏi mối quan tâm xã hội, mà chỉ mải mê với cái tôi của mình.
Việc bám lấy những tổn thương và nỗi bất bình quá khứ đem lại những hậu quả thiêng liêng, tâm lý và ngay cả thể lý nữa. Thiêng liêng, vì nó gây trở ngại cho việc lớn lên trong đức tin; tâm lý, vì nó ngăn cản hy vọng và có thể gây nên chán nản, và thể lý, vì nó có thể hạ thấp hệ thống miễn nhiễm khiến người ta ít có sức kháng cự lại các lây nhiễm. Hơn nữa, một mối bận tâm dai dẳng với những tổn thương và những nỗi bất bình như thế sẽ tự động làm cho người ta dễ bị tổn thương với nỗi lo âu và dễ bị bệnh tim. Trái lại, sự tha thứ làm cho người ta được thanh thản tinh thần, cho phép tập trung nhiều hơn vào những biến cố tích cực trong đời mình, và về mặt tâm lý, nó mang lại niềm hy vọng thúc đẩy người ta hăng hái bắt tay vào những nhiệm vụ của cuộc sống.
Nhiều nhà tâm lý học ngày nay đang nghiên cứu những phẩm chất như trách nhiệm đạo đức, lòng vị tha, sự khiêm tốn, can đảm, lòng biết ơn và óc sáng tạo cho thấy mối quan tâm đặc biệt đối với chủ đề có tính cách tôn giáo là tha thứ này. Sự cá nhân tha thứ là việc một người sẵn sàng từ bỏ quyền tức giận, xét đoán tiêu cực, thái độ lạnh lùng đối với người đã gây tổn thương cho mình một cách bất công, trong khi người đó không đáng được lòng cảm thông, tính rộng lượng của người khác.
Các nhà nghiên cứu liệt kê những gì sự tha thứ liên nhân vị là và những gì không: Sự tha thứ liên nhân vị không phải là ân xá, bỏ qua, xin lỗi, quên đi, phủ nhận, hoặc thậm chí hòa giải; sự tha thứ liên nhân vị không phải là bỏ qua bạo lực, lạm dụng, hoặc bất công; sự tha thứ liên nhân vị không phải là giải thoát người khác khỏi hậu quả các hành vi của họ.
Sự tha thứ liên nhân vị căn bản là một lựa chọn đơn phương, riêng tư, là giai đoạn đầu tiên cần thiết trong việc giải phóng mình khỏi mang gánh nặng buồn giận về những tổn thương quá khứ, nó mở ra các khả năng tương lai cho sự hòa giải và phục hồi mối quan hệ đã đổ vỡ, mặc dù sự tha thứ tâm lý tự nó không đòi hỏi điều này; nó chú tâm vào việc tha thứ cho người khác, không đòi người khác tha thứ và chú tâm tha thứ cho chính mình, mặc dù những việc này rõ ràng có liên quan với nhau.
Họ nghiên cứu sự tha thứ theo quan điểm khoa học chứ không phải theo quan điểm tôn giáo. Mục đích chính của họ là để hiểu các động lực tâm lý của hoạt động con người vốn có một tiềm năng to lớn để cải thiện chất lượng cuộc sống cho các cá nhân, cộng đồng và xã hội: “giảm bớt sự tức giận, từ bỏ hận thù, thôi đi những toan tính gây tổn thương, buông bỏ ý tưởng trả thù.” Tuy nhiên, tất cả những điều đó hiển nhiên có liên quan đến tôn giáo.
K.2.10 Cầu nguyện như một thói quen
Cầu nguyện không chỉ là một biểu hiện tình cảm, nhưng một số người vẫn làm theo cách đó, nên họ cầu nguyện khi họ cảm thấy thích. Mối nguy hiểm là cảm giác cần cầu nguyện thường đến khi người ta bị thất bại, bị rơi vào tình trạng khủng hoảng, như để có những gì họ cần khẩn cấp, hoặc để được an lòng trút khỏi đau khổ cách mau chóng, hơn là để thông hiệp với Chúa, nên khi mọi sự suông sẻ, người ta có khuynh hướng bỏ cầu nguyện. Trong khi đó, thói quen cầu nguyện đào luyện con người, như các bài tập thể dục rèn luyện cơ bắp: người ta không cầu nguyện khi cảm thấy thích, nhưng cầu nguyện cách kiên định và đều đặn. Nhờ đó, lời cầu nguyện trở thành một thành trì chống đỡ trong cơn khủng hoảng và tăng sức mạnh trong lúc yếu đuối.
K.2.11 Cầu nguyện như một nhu cầu của ứng sinh và của nhà đào tạo
Các linh mục có tuổi và trưởng thành biết rõ rằng cầu nguyện nuôi dưỡng con người toàn diện, nhưng các ứng sinh biết điều đó cách lý thuyết, hơn là kinh nghiệm thực tế. Khi mọi việc êm xuôi, họ chỉ giữ đúng thời khóa biểu, còn khi bị thử thách khủng hoảng, họ mới thực sự cầu nguyện và cầu nguyện nhiều hơn thường lệ. Tuy nhiên, đối với phần lớn ứng sinh không vấp phải những lúc khủng hoảng, thì việc giữ luật bề ngoài bảo toàn cho ơn gọi của họ. Một số người không nắm lấy cơ may này, ngay cả sau khi chịu chức linh mục, cho đến khi họ đụng phải một cơn khủng hoảng.
Vì thế nhu cầu huấn luyện ứng sinh cầu nguyện xem ra không mấy khẩn thiết và dạy họ mang đến cho Chúa (x. 1 Pr 5,7) những chiến đấu hằng ngày của họ khi cầu nguyện lại xem ra không thiết thực. Làm thế nào khiến các ứng sinh thực sự chú ý đến điều đó và trình bày sao cho hiệu quả là một thách thức đối với nhà đào tạo. Giúp ứng sinh thấy những thời khắc cần thiết của cầu nguyện trong đời mình, trong ơn gọi mình và trong tương quan của mình trở thành một nhiệm vụ khó khăn của nhà đào tạo. Gợi lên nhu cầu cầu nguyện nơi ứng sinh phải là mục tiêu để họ không chỉ cầu nguyện khi bị khủng hoảng, mà cả khi mọi việc xuôi chảy suông sẻ, cầu nguyện vẫn là phương tiện mang ý nghĩa cho mọi biến cố và đời sống ngày qua ngày của họ.
Quan tâm đến khía cạnh tâm lý của việc cầu nguyện giúp nhận biết và cảm nghiệm được tại sao người ta cầu nguyện. Nhưng trong thực tế của công cuộc đào tạo, nhiều khi quá chú trọng đào tạo tri thức, để đời sống cầu nguyện vào hang thứ yếu và chỉ có một vai trò tầm thường. Đây là lý do và chiều hướng tại sao chính bản thân các nhà đào tạo cần kinh nghiệm cầu nguyện sâu sắc hơn hầu chia sẻ sự phong phú của cầu nguyện với ứng sinh của mình. Các nhà đào tạo còn được đòi hỏi nhiều hơn nữa trong lãnh vực chia sẻ cảm nghiệm về động lực và chứng tá cầu nguyện hơn là chỉ dạy ứng sinh bằng lời nói suông.
K.3. Kết luận
Chúa Giêsu đã cầu nguyện và dạy môn đệ cầu nguyện cho Ý Cha được thể hiện. Ngài biết cảm giác muốn tránh đau khổ đang chờ đợi Ngài, nhưng Ngài biết ý Cha Ngài, Đấng mà Ngài vẫn tiếp xúc liên tục do thói quen cầu nguyện của Ngài: Ngài cần vượt qua đau khổ đang chờ đợi Ngài để thực thi ý Cha. Và Ngài đã ưng thuận Ý Cha: “Xin theo Ý Cha, đừng theo ý con.” Cầu nguyện tăng thêm sức mạnh cho con người, và Chúa Giêsu được tăng sức mạnh để đi ngược với ý muốn của mình mà đón nhận đau khổ đang chờ đợi Ngài.
Ý nghĩa tâm lý của thái độ này vượt quá mọi tranh luận. Khi người ta chấp nhận ý Chúa thì sẽ thôi phản kháng, thôi chiến đấu, không phải vì người ta bị hạ giá hay cam chịu, nhưng vì bây giờ người ta có lòng can đảm để đương đầu với nguy hiểm, tổn thương và thảm kịch. Người ta không còn rên rỉ nữa, mà táo bạo và mạnh mẽ. Đó là lý do tại sao người ta cho rằng Chúa Giêsu vui lòng ôm lấy Thánh giá của Ngài, đó là một hành vi sẵn lòng tự nguyện thực hiện, chứ không bị áp đặt. Không phải Ngài thích thú đau khổ, nhưng Ngài biết đây là điều đòi hỏi Ngài và Ngài có sức mạnh cần thiết để làm công việc ấy.
Vì thế các tác giả Phúc Âm mô tả chính xác việc Chúa Giêsu làm chủ tình thế trước mặt Philatô, trước mặt Hêrôđê và trước mặt đám đông. Việc cầu nguyện này thay đổi thái độ của chúng ta. Chúng ta đi từ sợ hãi hay lệ thuộc cảm xúc tới chỗ không sợ hãi, cảm thấy được tăng cường và là những người có ý chí mạnh mẽ. Như thế, lời cầu nguyện thay đổi quan điểm của chúng ta về cuộc đời.
Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss
Viết theo Psychology of Prayer của lm. Sunil Rupasinghe tại International Seminar on Spiritual Formation of Priests từ 14-19/11/2010 tại Thái Lan.
K.1. Dẫn nhập
Tâm lý học là khoa học về tâm trí và cách ứng xử của con người mà mục đích tối hậu là để mưu ích cho xã hội. Các nhà tâm lý tìm hiểu vai trò của các chức năng tinh thần trong cách ứng xử cá nhân và xã hội, bằng việc khảo sát những quá trình tâm lý và thần kinh-sinh học làm nền tảng cho một số những chức năng và cách ứng xử nào đó. Chúng ta sẽ khảo sát khía cạnh tâm lý học đằng sau lời cầu nguyện như một con đường dẫn tới linh đạo lành mạnh.
K.2. Các tính chất và tác động tâm lý trong việc cầu nguyện
K.2.1 Tâm lý tôn giáo phát triển theo lịch sử
Con người thời thượng cổ nhìn ra bên ngoài nhận thấy các sự vật to lớn hơn họ mà họ không kiểm soát được, như sức nóng của mặt trời, lửa, gió, mưa v.v. và khi đối mặt với những yếu tố không thể kiểm soát được này, con người cảm thấy bất lực và bắt đầu cầu xin sự giúp đỡ, bằng cách hiến dâng những gì tốt nhất mà họ có để đổi lấy sự giúp đỡ ấy. Do đó, việc thờ phượng và cầu khấn trở thành một phần của cuộc sống con người.
Đến thời kỳ mệnh danh là được khai sáng với những trào lưu triết học như Triết Hiện sinh và Triết Mác-Lê, quan niệm về Thiên Chúa bị trực tiếp tấn công và họ tuyên bố “Thiên Chúa đã chết.” Những người dứt khoát chối bỏ quan niệm về Thiên Chúa, tự gọi mình là vô thần, tuyên bố mình là một phần của quá trình tiến hóa của vũ trụ và coi cái chết là chấm dứt sự hiện hữu của con người và của muôn vật. Một số khác thấy rằng các tôn giáo có tổ chức có những đòi hỏi, nhất là những đòi hỏi luân lý, quá khắt khe và phiền phức, nên tốt hơn là đừng dính líu vào. Những người theo thuyết bất khả tri dựa vào khoa học từ chối Thiên Chúa vì không tìm thấy bằng chứng rõ rệt về Ngài.
K.2.2 Tâm lý học không tôn giáo
Đầu thế kỷ XX, những người tiên phong trong định hướng phân tâm học như Sigmund Freud, Carl Jung, Alfred Adler và Erik Fromm coi tôn giáo và cầu nguyện không có tính cách khoa học, mà chỉ là sự thôi thúc trẻ con không đáng cho người trưởng thành chọn lựa, họ nhận chìm tiếng nói của một số người chủ trương rằng tôn giáo và cầu nguyện là thành phần không thể thiếu trong việc phát triển toàn diện con người.
Nhưng vào giữa thế kỷ XX, một số tâm lý gia tầm cỡ như William James, Gordon Allport, Allen Bergin đã dũng cảm quả quyết tôn giáo không chỉ đóng góp vào nhân cách lành mạnh của con người, mà còn là một yếu tố chủ yếu trong đời sống con người nữa; tôn giáo cung cấp cho sự hiện hữu của con người một ý nghĩa, và trả lời những vấn nạn mà Tâm lý học không thể trả lời được.
Quả vậy, Freud, nhà phân tâm học Dothái, cho rằng tôn giáo là một biểu hiện của chứng loạn thần kinh tâm lý cơ bản, là một ảo tưởng, được ước nguyện theo bản năng của con người nuôi dưỡng, và cho rằng tôn giáo là một cố gắng điều chỉnh phức cảm Ơ-đíp. Tuy nhiên, ông nhận rằng tôn giáo là một yếu tố ngẫu nhiên cần thiết của việc con người chuyển tiếp từ tuổi thơ ấu sang tuổi trưởng thành, nhưng đề xuất rằng cũng như di tích bệnh thần kinh, tôn giáo cần phải được thay thế bằng hoạt động hợp lý của trí năng. Ông luyến tiếc sự kiện nhiều người có khuynh hướng bênh vực tôn giáo và quy việc bênh vực tôn giáo này cho ý thức tội lỗi của nền văn minh.
Carl Jung, nhà phân tâm học Thụy sĩ, dù thuộc nhóm bất khả tri thuyết về vấn đề Thiên Chúa, đã có cảm tình hơn với tôn giáo, với cảm nghiệm tôn giáo và nghi thức tôn giáo. Ông khá chú trọng đến tôn giáo biểu tượng, cho rằng những kinh nghiệm tôn giáo phát xuất từ những hình ảnh căn bản phổ quát và chồng chéo văn hóa trong tiềm thức ra lãnh vực của ý thức.
Alfred Adler, người Áo, trình bày rằng con người luôn cố gắng đền bồi cho những thấp kém nhận thức được nơi mình. Một trong những mặc cảm tự ty này là sự thiếu quyền lực. Niềm tin vào Thiên Chúa là cố gắng đạt tới hoàn thiện và vượt trội, vì Thiên Chúa được thừa nhận là hoàn hảo và toàn năng, những ai tin và cầu nguyện với Thiên Chúa thì cũng được như thế, nghĩa là đền bù được cho sự bất toàn và những mặc cảm tự ty của mình. Adler cho rằng quan niệm của một người về thế giới thế nào thì nó cho phép người đó sống theo như vậy. Những ý tưởng và niềm tin về Thiên Chúa phản ánh cách một người quan niệm về thế giới. Thiên Chúa hay niềm tin Thiên Chúa lúc đó trở thành động lực cho cách ứng xử về nhân bản, tâm lý và thiêng liêng. Những cách ứng xử như thế có những hậu quả thực sự trên con người, vì Thiên Chúa hướng dẫn những tương tác xã hội, tâm lý và thiêng liêng. Như thế, tôn giáo trở thành yếu tố động lực cho cách ứng xử hiệu quả, vượt lên trên khoa học.
Erik Fromm, học giả người Mỹ, mô tả những chức năng tôn giáo phức tạp hơn, nhằm thay đổi lý thuyết của Freud: mặc cảm Ơ-đíp không căn cứ nhiều vào tính dục, mà vào một ‘ước muốn sâu xa hơn nhiều,’ tức là ước muốn của đứa trẻ cứ muốn gắn bó với những người đã bảo vệ nó. Theo ông, tôn giáo đúng đắn cổ vũ những tiềm năng cao nhất của một cá nhân; con người cần một hệ thống tham chiếu vững chắc, và tôn giáo hiển nhiên thỏa mãn nhu cầu này.
K.2.3 Tôn giáo và Linh đạo
Tâm lý tôn giáo chủ yếu là học hỏi tâm lý về những cảm nghiệm, những niềm tin, kinh nguyện và nghi thức tôn giáo. Đó là một cố gắng hiểu tôn giáo và thực hành nó nhờ khoa học. Pargament cho rằng việc tìm kiếm sự thánh thiêng, sự thiên linh, sự thật là chung cho cả tôn giáo lẫn linh đạo. Nhưng Emmons và McCullough phân biệt tôn giáo và linh đạo: tâm lý tích cực nghiên cứu linh đạo ở mức độ cá nhân, trong khi tôn giáo ở mức độ cơ cấu. Còn Capps có ý kiến rằng trọng tâm tâm lý học tôn giáo là khía cạnh tâm lý học của cầu nguyện.
Chúng ta sẽ xem lập trường cố gắng hiểu tôn giáo, linh đạo và cầu nguyện theo quan điểm tâm lý học, qua các câu hỏi như ‘tại sao người ta tin tôn giáo?’ và ‘tại sao người ta cầu nguyện cùng Thiên Chúa?’ Rudolph Otto, thần học gia người Đức, định nghĩa tôn giáo là ‘cảm nghiệm về Đấng thánh,’ nhấn mạnh tính cách khách quan của kinh nghiệm tôn giáo, ngược lại lý thuyết chủ quan của các nhà nhân chủng học. Kinh nghiệm khách quan, theo Otto, là một cảm nghiệm thiêng liêng bí ẩn, một cảm nghiệm về một mầu nhiệm khác thường và hấp dẫn.
Ninian Smart, người Tích Lan, nghiên cứu chân lý tôn giáo từ một quan điểm trần tục, và xúc tiến việc nghiên cứu các tôn giáo so sánh. Theo ông, các nền văn hóa và truyền thống tôn giáo ảnh hưởng lẫn nhau và cần hiểu biết nhau. ‘Cảm nghiệm về Đấng thánh’ có thể hoặc là thiêng liêng hoặc là huyền nhiệm. Đối với ông, các phong trào tôn giáo mới không bao hàm trong thuyết hữu thần (tin Thiên Chúa) như một yếu tố cốt yếu, phổ quát. Vì thế, một số ý thức hệ như Mac-xit và duy lý, cả đến chủ nghĩa dân tộc, đều có thể được coi là những tôn giáo, vì chúng phản chiếu chức năng của những truyền thống tôn giáo. Mối quan tâm của ông là tại sao người ta tin và họ tin gì: Ý niệm thăng tiến những giá trị nhân bản và linh đạo ẩn tàng nơi con người xem ra là lý do cho “tôn giáo”.
Pargament, khi viết về tôn giáo và linh đạo theo phương diện tâm lý học, đã phân biệt ba loại kiểu cách đối phó với tâm trạng căng thẳng: Cộng tác, ở chỗ con người cộng tác với Thiên Chúa để đối phó với tâm trạng căng thẳng; Trì hoãn, ở chỗ con người bỏ mặc mọi sự cho Thiên Chúa; Tự mình điều khiển, ở chỗ con người cố gắng giải quyết vấn đề chỉ bằng ảnh hưởng riêng của mình.
K.2.4 Những người thách thức tâm lý học chính thống
Bác sĩ Theodore B. Hyslop tuyên bố rằng trong mọi tình huống khốn khổ, suy nhược tinh thần, kiệt sức, ông ‘dành chỗ hạng nhất cho thói quen cầu nguyện.’ Theo ông, khoa học là trung gian điều đình tôn giáo mới, nó đang đi vào vùng đất rộng lớn này của ý thức con người mà những sự kiện và cảm nghiệm đòi phải được nghiên cứu chặt chẽ nhất. Ông không thảo luận về cầu nguyện một cách thần học, nhưng ở phương diện của hoạt động ý thức nhận biết của tinh thần con người. Triết học phản đối việc cầu nguyện lý luận rằng thật là phi lý khi giả định chỉ nguyên ước nguyện của một người được bày tỏ trong kinh nguyện cũng gây ra sự trệch hướng trong trật tự đã được sắp đặt của vũ trụ, tức định luật nội tại bị một ước nguyện gạt qua một bên.
Tuy nhiên lời phát biểu của bác sĩ Hyslop chỉ ra rằng tinh thần của con người có quyền trên những tuần hoàn của thân xác và những yếu tố của thân xác ấy. Cầu nguyện theo nghĩa này là sự đáp ứng của tinh thần con người đón nhận luật vĩnh cửu. Kinh nguyện là lời tuyên bố mối quan hệ của một người với Thượng Đế, và do dó, đáp lại những khích động bên trong do quyền lực vô tận gây ra. Như thế kinh nguyện là một kinh nghiệm thiêng liêng của con người.
William James, nhà tâm lý người Mỹ, tiên phong trong lãnh vực nghiên cứu những cảm nghiệm tôn giáo, đã phân biệt tôn giáo cơ cấu và tôn giáo cá nhân. Tập trung vào những cảm nghiệm tôn giáo cá nhân bao gồm những cảm nghiệm thần bí, ông nhận ra những cảm nghiệm tôn giáo của tâm trí lành mạnh và tâm hồn bệnh hoạn. Trong khi phạm trù thứ nhất không để ý đến sự dữ trong thế gian và tập chú vào sự lành và tích cực, thì phạm trù thứ hai lại tập chú vào sự dữ và đau khổ, khao khát hòa giải sự lành và sự dữ. Tuy nhiên, niềm tin tôn giáo của ông có tính cách thực dụng: nếu tôn giáo, thực hành tôn giáo, linh đạo hay cầu nguyện có hiệu quả trong đời người thì có lý để tiếp tục, nhưng nếu nó không có hiệu quả gì thì không có lý để tiếp tục thực hành tôn giáo nữa. Do đó, có những người tìm sự thánh thiêng trong tôn giáo hay cầu nguyện, là bởi vì người ta cảm nghiệm được hiệu quả của những thực hành tôn giáo trong đời mình. Lập trường này có thể được xếp loại là sử dụng tôn giáo hay cầu nguyện làm ‘phương tiện để đạt cùng đích.’
Gordon Allport (1950) minh họa rằng người ta sử dụng tôn giáo bằng hai cách, tôn giáo trưởng thành và tôn giáo không trưởng thành: người đến với tôn giáo có óc cởi mở và có thể hòa hợp những mâu thuẫn là trưởng thành, còn người chú trọng vào bản thân và nhìn tôn giáo cách tiêu cực khi nó không phục vụ bản thân mình, là bám lấy tôn giáo không trưởng thành. Về sau Allport và Ross (1967) dùng “tôn giáo nội tại” qui cho tôn giáo trưởng thành, một lòng sùng mộ chân thành, và “tôn giáo ngoại tại” cho tôn giáo không trưởng thành, một sự sử dụng tôn giáo vụ lợi hơn, ‘như phương tiện để đạt cùng đích.’
Batson đề nghị một hình thức thứ ba cho định hướng tôn giáo như “một cuộc tìm kiếm bỏ ngỏ:” sẵn lòng nhìn những nghi ngờ tôn giáo với một quan niệm tích cực, nhận rằng định hướng tôn giáo có thể thay đổi sự phức tạp hiện sinh của con người và tin rằng những niềm tin tôn giáo của con người có lẽ được hình thành từ những khủng hoảng cá nhân. Như vậy, tôn giáo ngoại tại là ‘tôn giáo –như phương tiện,’ tôn giáo nội tại là ‘tôn giáo –như cùng đích,’ và sự tìm kiếm bỏ ngỏ là ‘tôn giáo –như kiếm tìm.’
Erik Erikson coi các tôn giáo là những ảnh hưởng quan trọng để phát triển nhân cách thành công. Ông đánh giá cao tôn giáo là con đường trước tiên để văn hóa thăng tiến các nhân đức, liên kết với mỗi giai đoạn của cuộc sống. Nghi thức tôn giáo và cầu nguyện làm cho sự phát triển này được dễ dàng.
Thomas F. O’Dea, nhà xã hội Công giáo người Mỹ, khi vật lộn với những giới hạn cơ cấu của những niềm tin và thực hành tôn giáo của xã hội tân tiến, đã nhận ra tác động ẩn tàng của việc tục hóa trên các tôn giáo và các cá nhân tín hữu. Đối với O’Dea, “tôn giáo là câu trả lời của một người cho những thời điểm đổ vỡ mà trong đó người ấy cảm nghiệm được quyền lực tối hậu và thánh thiêng.” Ông nghiêm túc tin vào khả năng của đức tin trong việc thỏa mãn những nhu cầu khác thường của mọi cá nhân, là tìm kiếm ý nghĩa và định hướng sâu sắc hơn của mục đích cuộc đời.
Allen Bergin xác quyết rằng những giá trị tôn giáo có ảnh hưởng đến khoa phân tâm học, và nhấn mạnh tính cách quan trọng của các giá trị và của tôn giáo trong điều trị.
James Hillman chống lại việc nhìn tôn giáo qua tâm lý học, và đề nghị nhìn tâm lý học như một đa dạng của những cảm nghiệm tôn giáo. Đối với ông, Tâm lý học kể như tôn giáo bao hàm việc tưởng tượng tất cả những sự kiện tâm lý là những tác động của Thiên Chúa trong linh hồn.
Robert Emmons chủ trương rằng những nỗ lực tinh thần (nghi thức và cầu nguyện) tăng cường sự toàn vẹn nhân cách, bởi vì chúng hiện hữu trên một mức độ cao hơn nhân cách. Trong số những thực hành tôn giáo, cầu nguyện nổi bật là việc bày tỏ trước tiên niềm tin vào Thiên Chúa, với bốn yếu tố chủ yếu này: Cầu nguyện suy niệm, cầu nguyện nghi thức, cầu nguyện xin ơn, và cầu nguyện đàm thoại. Cầu nguyện suy niệm dựa trên hiểu biết hơn, còn cầu nguyện nghi thức bao hàm việc đọc và những cử chỉ. Cầu nguyện xin ơn là cầu xin cùng Thiên Chúa, và cầu nguyện đàm thoại nói chung là cuộc chuyện vãn cùng Thiên Chúa.
K.2.5 Cầu nguyện như một kinh nghiệm thanh tẩy
Sheff chủ trương rằng cầu nguyện nghi thức cung cấp một cảm tưởng thanh tẩy hay thanh lọc. Theo Scheff, những nghi thức này đẩy xa nỗi lo lắng, u buồn, còn đối với Schumarker, việc thanh tẩy của nghi thức thúc đẩy liên kết với những người khác và cho phép diễn tả cảm xúc. Sosis nghiên cứu xa hơn đã nêu bật các thành phần xã hội của nghi thức, là sự cam kết và ràng buộc nhóm, để rồi nhóm sẽ ngăn cản không cho người không cam kết được hưởng lợi ích làm thành viên của nhóm. Reich đề nghị rằng các nghi thức có thể trợ giúp bằng cách nhấn mạnh những giá trị luân lý dùng làm qui phạm nhóm và điều chỉnh xã hội.
K.2.6 Cầu nguyện như một nhu cầu xã hội
Một con người tôn giáo đạt được các tư tưởng và thực hành tôn giáo qua việc phô bày xã hội xảy ra từ tuổi thơ ấu về sau. Tuy nhiên, chỉ nguyên việc phô bày thì không gây nên được một quan điểm tôn giáo đặc biệt nơi một người trưởng thành. Khi một đứa trẻ đến tuổi trưởng thành, những phô bày này cần phải thuyết phục khối óc để được nó đồng hóa với một tôn giáo như thế. Niềm xác tín này có thể thay đổi nơi những người khác nhau.
Tiến sĩ Harold Koenig, phó giáo sư y học và phân tâm học, đưa ra bốn lý do tại sao cầu nguyện và tôn giáo mưu ích cho một con người: Thứ nhất, tôn giáo và đức tin cung cấp hỗ trợ xã hội, nghĩa là một người vừa nhận được sự hỗ trợ vừa hỗ trợ người khác. Thứ hai, cầu nguyện tăng cường hệ thống đức tin. Thứ ba, tôn giáo và linh đạo cho người ta luật pháp để tuân theo, hầu điều khiển đời sống một cách suôn sẻ. Sau cùng, đức tin cho các biến cố ý nghĩa, mang lại niềm hy vọng và làm giảm bớt tình trạng quá căng thẳng. Từ quan điểm tâm lý, những lợi ích như tính vị tha, sự ăn ý với nhau, và niềm hy vọng sẽ mang lại sự toàn vẹn cho một con người. Việc gia nhập tôn giáo và cầu nguyện mang lại những hiệu quả như thế sẽ tăng cường sức mạnh cho ngưới ta tiếp tục đi tới.
K.2.7 Cầu nguyện như một phóng chiếu
Anna và Barry Ullanov giúp chúng ta hiểu biết thêm về cầu nguyện và sự chiến đấu trong cầu nguyện. Cuốn Diễn từ quan trọng nhất chỉ ra một số yếu tố căn bản nhất của hành trình cầu nguyện: chấp nhận chính mình và can đảm đi sâu hơn vào cầu nguyện, thành thạo hơn trong việc khám phá đấng vô minh. Cuốn sách trình bày lý do tại sao cầu nguyện là tự nhiên đối với chúng ta và là căn bản xét về mặt tâm lý học: “trong cầu nguyện, chúng ta nói thực ra chúng ta là ai, chứ không phải chúng ta đáng ra là ai, cũng không phải chúng ta ước nguyện mình là ai, mà chúng ta là ai.”
Họ dùng những dụng cụ tâm lý để giúp người ta cầu nguyện chứ không giảm trừ cầu nguyện vào tâm lý học. Những chiến đấu và những nỗi lo sợ sự thinh lặng trong cầu nguyện là một phần các sức năng động của cầu nguyện đưa người ta đến chỗ ước ao cầu nguyện, và đây là động cơ thúc đẩy việc cầu nguyện. Trong khi Freud đề nghị phóng chiếu quyền lực riêng của mình về Thiên Chúa, họ lại khẳng định rằng phóng chiếu đó như là một trong những cách thức con người vươn tới Thiên Chúa: “trong cầu nguyện, chúng ta phải bắt đầu ở chỗ chúng ta là, với những hình ảnh của Đấng thiên linh mà chúng ta phóng chiếu lên và thấy mình đang được phóng chiếu nơi đấng vô minh.”
K.2.8 Cầu nguyện và cuộc tự nói với mình
Tự mình nói với mình là một cách diễn tả tất cả những điều người ta nói với chính mình để đương đầu với những trở ngại, lấy quyết định và giải quyết vấn đề. Việc tự mình nói với mình là một phần tiến trình suy nghĩ gọi là “giòng ý thức.” Khi những vấn đề hay quyết định được đặt ra cho một người, người ấy có thể nghĩ: “Tôi sẽ đối xử thế nào đây?” hoặc “Việc này xem ra khó đấy, tốt hơn tôi sẽ xin trợ giúp” hoặc “tôi đã biết cách ổn định vấn đề này làm sao!”
Nhưng cuộc tự nói với mình tiêu cực ngăn cản cá nhân giải quyết vấn đề và có thể góp phần vào nhiều vấn đề tâm lý khác, bao gồm cả việc gây nên chán nản. Khi đối diện với một vấn đề, cuộc tự nói với mình tiêu cực có thể làm cho người ta bị động: “Tôi không thể làm việc này, tôi sẽ chỉ lại làm cho nó rối lên thôi” hoặc “Có lẽ tôi sẽ bị ‘lúa đời’ sau khi họ thấy rõ là tôi bất tài.” Các nhà tâm lý giúp các cá nhân nhận dạng cuộc tự nói với mình tiêu cực, đồng thời dạy họ biết cách thách đố những phát biểu tiêu cực này thế nào, và làm sao thay thế chúng bằng cuộc tự nói với mình tích cực.
Cuộc tự nói với mình tích cực rất có lợi, nó khuyến khích, điều khiển và hướng dẫn người ta làm, nghĩ và cảm nhận sao cho phù hợp với những ước nguyện của mình. Đó là một dụng cụ rất hữu hiệu trong nhận thức liệu pháp liên quan đến những cá nhân suy nhược, cũng như trong thể thao liệu pháp liên quan đến sức khỏe. Khi cầu nguyện được sử dụng như liệu pháp kết nối với Thiên Chúa thì cuộc tự nói với mình là một vốn quí.
K.2.9 Cầu nguyện như sự tha thứ
Việc cầu nguyện kitô đòi hỏi sự tha thứ (Mc 11,25; Luc 11, 2-4; Mt 6, 9-13). Trái tim không biết tha thứ có lẽ là chướng ngại vật duy nhất khiến người ta không có được đời sống cầu nguyện đầy sức sống và nghị lực. Dai giẳng trong sự không tha thứ gây thiệt hại cho người ta. Theo tâm lý, sự gắn bó với một tổn thương nổi dậy từ một biến cố quá khứ đặc biệt nào đó ngăn chặn dòng hy vọng chảy vào đời sống chúng ta, lại hướng đời chúng ta xa khỏi mối quan tâm xã hội, mà chỉ mải mê với cái tôi của mình.
Việc bám lấy những tổn thương và nỗi bất bình quá khứ đem lại những hậu quả thiêng liêng, tâm lý và ngay cả thể lý nữa. Thiêng liêng, vì nó gây trở ngại cho việc lớn lên trong đức tin; tâm lý, vì nó ngăn cản hy vọng và có thể gây nên chán nản, và thể lý, vì nó có thể hạ thấp hệ thống miễn nhiễm khiến người ta ít có sức kháng cự lại các lây nhiễm. Hơn nữa, một mối bận tâm dai dẳng với những tổn thương và những nỗi bất bình như thế sẽ tự động làm cho người ta dễ bị tổn thương với nỗi lo âu và dễ bị bệnh tim. Trái lại, sự tha thứ làm cho người ta được thanh thản tinh thần, cho phép tập trung nhiều hơn vào những biến cố tích cực trong đời mình, và về mặt tâm lý, nó mang lại niềm hy vọng thúc đẩy người ta hăng hái bắt tay vào những nhiệm vụ của cuộc sống.
Nhiều nhà tâm lý học ngày nay đang nghiên cứu những phẩm chất như trách nhiệm đạo đức, lòng vị tha, sự khiêm tốn, can đảm, lòng biết ơn và óc sáng tạo cho thấy mối quan tâm đặc biệt đối với chủ đề có tính cách tôn giáo là tha thứ này. Sự cá nhân tha thứ là việc một người sẵn sàng từ bỏ quyền tức giận, xét đoán tiêu cực, thái độ lạnh lùng đối với người đã gây tổn thương cho mình một cách bất công, trong khi người đó không đáng được lòng cảm thông, tính rộng lượng của người khác.
Các nhà nghiên cứu liệt kê những gì sự tha thứ liên nhân vị là và những gì không: Sự tha thứ liên nhân vị không phải là ân xá, bỏ qua, xin lỗi, quên đi, phủ nhận, hoặc thậm chí hòa giải; sự tha thứ liên nhân vị không phải là bỏ qua bạo lực, lạm dụng, hoặc bất công; sự tha thứ liên nhân vị không phải là giải thoát người khác khỏi hậu quả các hành vi của họ.
Sự tha thứ liên nhân vị căn bản là một lựa chọn đơn phương, riêng tư, là giai đoạn đầu tiên cần thiết trong việc giải phóng mình khỏi mang gánh nặng buồn giận về những tổn thương quá khứ, nó mở ra các khả năng tương lai cho sự hòa giải và phục hồi mối quan hệ đã đổ vỡ, mặc dù sự tha thứ tâm lý tự nó không đòi hỏi điều này; nó chú tâm vào việc tha thứ cho người khác, không đòi người khác tha thứ và chú tâm tha thứ cho chính mình, mặc dù những việc này rõ ràng có liên quan với nhau.
Họ nghiên cứu sự tha thứ theo quan điểm khoa học chứ không phải theo quan điểm tôn giáo. Mục đích chính của họ là để hiểu các động lực tâm lý của hoạt động con người vốn có một tiềm năng to lớn để cải thiện chất lượng cuộc sống cho các cá nhân, cộng đồng và xã hội: “giảm bớt sự tức giận, từ bỏ hận thù, thôi đi những toan tính gây tổn thương, buông bỏ ý tưởng trả thù.” Tuy nhiên, tất cả những điều đó hiển nhiên có liên quan đến tôn giáo.
K.2.10 Cầu nguyện như một thói quen
Cầu nguyện không chỉ là một biểu hiện tình cảm, nhưng một số người vẫn làm theo cách đó, nên họ cầu nguyện khi họ cảm thấy thích. Mối nguy hiểm là cảm giác cần cầu nguyện thường đến khi người ta bị thất bại, bị rơi vào tình trạng khủng hoảng, như để có những gì họ cần khẩn cấp, hoặc để được an lòng trút khỏi đau khổ cách mau chóng, hơn là để thông hiệp với Chúa, nên khi mọi sự suông sẻ, người ta có khuynh hướng bỏ cầu nguyện. Trong khi đó, thói quen cầu nguyện đào luyện con người, như các bài tập thể dục rèn luyện cơ bắp: người ta không cầu nguyện khi cảm thấy thích, nhưng cầu nguyện cách kiên định và đều đặn. Nhờ đó, lời cầu nguyện trở thành một thành trì chống đỡ trong cơn khủng hoảng và tăng sức mạnh trong lúc yếu đuối.
K.2.11 Cầu nguyện như một nhu cầu của ứng sinh và của nhà đào tạo
Các linh mục có tuổi và trưởng thành biết rõ rằng cầu nguyện nuôi dưỡng con người toàn diện, nhưng các ứng sinh biết điều đó cách lý thuyết, hơn là kinh nghiệm thực tế. Khi mọi việc êm xuôi, họ chỉ giữ đúng thời khóa biểu, còn khi bị thử thách khủng hoảng, họ mới thực sự cầu nguyện và cầu nguyện nhiều hơn thường lệ. Tuy nhiên, đối với phần lớn ứng sinh không vấp phải những lúc khủng hoảng, thì việc giữ luật bề ngoài bảo toàn cho ơn gọi của họ. Một số người không nắm lấy cơ may này, ngay cả sau khi chịu chức linh mục, cho đến khi họ đụng phải một cơn khủng hoảng.
Vì thế nhu cầu huấn luyện ứng sinh cầu nguyện xem ra không mấy khẩn thiết và dạy họ mang đến cho Chúa (x. 1 Pr 5,7) những chiến đấu hằng ngày của họ khi cầu nguyện lại xem ra không thiết thực. Làm thế nào khiến các ứng sinh thực sự chú ý đến điều đó và trình bày sao cho hiệu quả là một thách thức đối với nhà đào tạo. Giúp ứng sinh thấy những thời khắc cần thiết của cầu nguyện trong đời mình, trong ơn gọi mình và trong tương quan của mình trở thành một nhiệm vụ khó khăn của nhà đào tạo. Gợi lên nhu cầu cầu nguyện nơi ứng sinh phải là mục tiêu để họ không chỉ cầu nguyện khi bị khủng hoảng, mà cả khi mọi việc xuôi chảy suông sẻ, cầu nguyện vẫn là phương tiện mang ý nghĩa cho mọi biến cố và đời sống ngày qua ngày của họ.
Quan tâm đến khía cạnh tâm lý của việc cầu nguyện giúp nhận biết và cảm nghiệm được tại sao người ta cầu nguyện. Nhưng trong thực tế của công cuộc đào tạo, nhiều khi quá chú trọng đào tạo tri thức, để đời sống cầu nguyện vào hang thứ yếu và chỉ có một vai trò tầm thường. Đây là lý do và chiều hướng tại sao chính bản thân các nhà đào tạo cần kinh nghiệm cầu nguyện sâu sắc hơn hầu chia sẻ sự phong phú của cầu nguyện với ứng sinh của mình. Các nhà đào tạo còn được đòi hỏi nhiều hơn nữa trong lãnh vực chia sẻ cảm nghiệm về động lực và chứng tá cầu nguyện hơn là chỉ dạy ứng sinh bằng lời nói suông.
K.3. Kết luận
Chúa Giêsu đã cầu nguyện và dạy môn đệ cầu nguyện cho Ý Cha được thể hiện. Ngài biết cảm giác muốn tránh đau khổ đang chờ đợi Ngài, nhưng Ngài biết ý Cha Ngài, Đấng mà Ngài vẫn tiếp xúc liên tục do thói quen cầu nguyện của Ngài: Ngài cần vượt qua đau khổ đang chờ đợi Ngài để thực thi ý Cha. Và Ngài đã ưng thuận Ý Cha: “Xin theo Ý Cha, đừng theo ý con.” Cầu nguyện tăng thêm sức mạnh cho con người, và Chúa Giêsu được tăng sức mạnh để đi ngược với ý muốn của mình mà đón nhận đau khổ đang chờ đợi Ngài.
Ý nghĩa tâm lý của thái độ này vượt quá mọi tranh luận. Khi người ta chấp nhận ý Chúa thì sẽ thôi phản kháng, thôi chiến đấu, không phải vì người ta bị hạ giá hay cam chịu, nhưng vì bây giờ người ta có lòng can đảm để đương đầu với nguy hiểm, tổn thương và thảm kịch. Người ta không còn rên rỉ nữa, mà táo bạo và mạnh mẽ. Đó là lý do tại sao người ta cho rằng Chúa Giêsu vui lòng ôm lấy Thánh giá của Ngài, đó là một hành vi sẵn lòng tự nguyện thực hiện, chứ không bị áp đặt. Không phải Ngài thích thú đau khổ, nhưng Ngài biết đây là điều đòi hỏi Ngài và Ngài có sức mạnh cần thiết để làm công việc ấy.
Vì thế các tác giả Phúc Âm mô tả chính xác việc Chúa Giêsu làm chủ tình thế trước mặt Philatô, trước mặt Hêrôđê và trước mặt đám đông. Việc cầu nguyện này thay đổi thái độ của chúng ta. Chúng ta đi từ sợ hãi hay lệ thuộc cảm xúc tới chỗ không sợ hãi, cảm thấy được tăng cường và là những người có ý chí mạnh mẽ. Như thế, lời cầu nguyện thay đổi quan điểm của chúng ta về cuộc đời.
Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss
Viết theo Psychology of Prayer của lm. Sunil Rupasinghe tại International Seminar on Spiritual Formation of Priests từ 14-19/11/2010 tại Thái Lan.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét