Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2009

DAO TAO VA TU DAO TAO THIENG LIENG

ĐÀO TẠO VÀ TỰ ĐÀO TẠO THIÊNG LIÊNG
CỦA CÁC LINH MỤC TƯƠNG LAI
TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM NGÀY NAY

ĐẠI CHỦNG VIỆN HUẾ
2006

Nguyên bản tiếng Anh
Micae-Phaolô TRẦN MINH HUY
Linh mục Xuân Bích

Bản dịch Việt ngữ
Vincentê Trần Minh Thực
Gioan Baotixita Nguyễn văn Hào
Linh mục Ứng viên Xuân Bích

Đọc lại bản dịch và trình bày: Micae-Phaolô Trần Minh Huy

Nihil Obstat: Fr. Domingo Moraleda, CMF
Imprimi Potest: Fr. Jose Ma. Ruiz Marquez, CMF
Imprimatur: Most Rev. Antonio R. Tobias, JCL, DD
Bishop Diocese of Novaliches
Xuất bản và giữ bản quyền
Học Viện Đời Sống Thánh Hiến tại Á Châu
Institute for Consecrated Life in Asia (ICLA)
U.P. P.O. Box 4, 1101 Diliman, Quezon City
Tel. Nos. 932-0343-44 Fax No.: 932-0346
E-mail: icla@i-manila.com.ph
Webpage: http://icla.claret.org

ICLA (Học Viện Đời Sống Thánh Hiến tại Á Châu) là một trung tâm đào tạo cao đẳng của Giáo Hội do các nhà truyền giáo Dòng Claret đề xướng. Ý hướng của ICLA là cống hiến cho các nam nữ tu sĩ của Á Châu một suy tư được bối cảnh hóa và hội nhập văn hóa về đời sống thánh hiến, ngõ hầu giúp họ sống sứ vụ mà họ đã được gọi vào.
ISBN 971-501-330-9

ĐỀ TẶNG
Trước hết, tôi hiến dâng công trình này của đời tôi cho Đức Mẹ Lavang. Mẹ đã thay thế mẹ yêu dấu của tôi, sau khi mẹ tôi qua đời và trong suốt cả cuộc đời tôi nơi trần thế này. Mẹ tôi đã dạy tôi yêu thương, tha thứ và lớn lên giữa muôn vàn khó khăn, hiểu lầm và đau khổ.
Thứ hai, tôi muốn hiến dâng công việc ưa thích này cho công cuộc đào tạo linh mục của Giáo Hội Việt Nam, qua Hội Các Linh Mục Xuân Bích, mà ơn gọi là tham dự vào việc đào tạo linh mục, khởi đầu và thường xuyên, của Giáo Hội, đặc biệt cho các chủng sinh được trao phó cho tôi trách nhiệm và chương trình bảo trợ ơn gọi “Cho Một Tương Lai Tốt Đẹp Hơn” mà tôi đã thành lập và tiếp tục điều khiển cho đến nay.

CÁM ƠN
Lòng biết ơn sâu xa từ đáy lòng tôi đến với Chúa Ba Ngôi, vì đã khấng ban và nuôi dưỡng quà tặng sự sống cho tôi, qua gia đình tôi, nhất là người mẹ quá cố vẫn hằng gần gủi với tôi.
Tôi trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đối với các thẩm quyền Giáo Hội và Xã Hội Việt Nam và Phi Luật Tân, các Bề Trên Hội Các Linh Mục Xuân Bích, cách riêng Đức Cha Phaolô Tịnh Nguyễn Bình Tĩnh, Cha Domingo Moraleda, Giám đốc Học Viện Đời Sống Thánh Hiến tại Á Châu, đã cho phép và tạo mọi điều kiện cần thiết cho tôi theo học tại ICLA.
Tôi chân thành cám ơn các giáo sư lão luyện của tôi tại ICLA, vì các giáo trình tuyệt vời của họ đã khơi gợi cho tôi những soi sáng hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Tôi cám ơn đặc biệt cha Moraleda, người cố vấn cho tôi, nếu không có sự nâng đỡ đặc biệt của ngài, cuốn sách này không thể ra đời. Theo gợi ý của ngài, cuốn sách này đến từ luận văn ra trường của tôi, mà tôi đã cống hiến tất cả thời giờ và mối quan tâm của tôi.
Mặc dù tôi đã làm việc rất căng mỗi ngày trong suốt hai năm hồng ân tại ICLA, luôn luôn nghĩ đến các chủng sinh được giao phó cho tôi trách nhiệm, tôi không thể tránh được các thiếu sót. Vì vậy, tôi rất biết ơn những người sẽ giúp tôi sửa chữa, trau chuốt và cập nhật hóa công cuộc này của toàn thể Dân Chúa. Nếu công việc khiêm tốn của tôi sẽ được sử dụng, ngay cả chỉ một phần rất nhỏ, vì vinh danh Chúa và lợi ích của Giáo Hội, tôi rất hạnh phúc và đã được tưởng thưởng rồi.
Tạ ơn Chúa và cầu chúc mọi sự tốt đẹp cho tất cả mọi người. Ngợi khen Chúa!
Micae-Phaolô Trần Minh Huy, pss


LỜI TỰA

Nuôi dưỡng tiến trình canh tân đời sống và sứ vụ của Giáo Hội, được Chúa Thánh Thần khởi sự, qua Công Đồng Vaticanô II, là thách đố quan trọng nhất cho các chủ chăn của Giáo Hội, suốt thời kỳ hậu công đồng cho đến thời đại chúng ta. Một trong những mối quan tâm nghiêm túc nhất của các ngài là công cuộc đào tạo thiêng liêng toàn diện cho các linh mục tương lai, những vị lãnh đạo phục vụ của các cộng đồng kitôgiáo, bởi vì công cuộc canh tân Giáo Hội tùy thuộc phần lớn ở sứ vụ linh mục, được tác động bởi Thần Khí Đức Kitô.

Đàng khác, hoàn cảnh đặc biệt của Việt Nam và những thực tại thay đổi nhanh chóng của thế giới toàn cầu hóa đưa ra nhiều thách đố và cơ hội khả dĩ trong lãnh vực đào tạo. Làm sao chuẩn bị các linh mục tương lai có khả năng đáp ứng những nhu cầu cấp bách của Giáo Hội và Xã Hội trong bối cảnh Việt Nam ngày nay?
Cha Micae-Phaolô Trần Minh Huy, một linh mục Xuân Bích, với nhiều năm dài kinh nghiệm trong tiến trình đào tạo các chủng sinh địa phận Việt Nam, đã nghiêm chỉnh cố gắng tiếp lại sinh khí cho công cuộc đào tạo thiêng liêng cho các linh mục tương lai của Việt Nam. Ngài mô tả cho thấy một công cuộc đào tạo thiêng liêng được đổi mới, cá nhân hóa và bối cảnh hóa cho các linh mục Việt Nam trong các thông số của khoa Giáo Hội học về hiệp thông và sứ vụ của Công Đồng Vaticanô II, cùng những hướng dẫn của Huấn Quyền Giáo Hội, ở mọi cấp độ hoàn vũ, Á châu và Việt Nam. Ngài nhấn mạnh, với một sự nhạy cảm đặc biệt, công cuộc đào tạo các linh mục Việt Nam tương lai về sự cộng tác với giáo dân và đối thoại với các nền văn hóa, với tín đồ của các tôn giáo truyền thống khác, với người nghèo và với những người cộng sản, thể theo tình hình đặc biệt của Giáo Hội Việt Nam.
Khuôn mẫu của các linh mục Việt Nam tương lai là Chúa Giêsu Nadarét. Công cuộc đào tạo sẽ là một thứ hành trình thiêng liêng, một tiến trình đồng hình đồng dạng hóa các ứng sinh với khuôn mẫu. Theo tiến trình thiêng liêng này, vị linh mục tương lai được nhắm đến phải là một con người của Thiên Chúa, thấm nhuần sâu xa vừa thiêng liêng vừa nhân bản, trong những mối tương quan hài hòa, quân bình và trưởng thành với chính mình, với Thiên Chúa, với tha nhân và với tạo thành, trong viễn ảnh cánh chung của Nước Thiên Chúa.
Tác giả cống hiến một hành trình thiêng liêng rất thích hợp cho giai đoạn đào tạo khởi đầu và đào tạo thường xuyên. Phải xác tín rằng cuốn sách này là một món quà quí giá cho Giáo Hội Việt Nam, đặc biệt cho những ai dấn thân vào sứ vụ tế nhị của công cuộc đào tạo và cho chính các chủng sinh. Xuyên qua từng dòng từng đoạn của nó, chúng ta có thể khám phá thấy một công cuộc tra cứu và học hỏi nghiêm túc các hướng dẫn của Giáo Hội trong lãnh vực đào tạo linh mục tương lai, nhưng trên hết, chúng ta có thể đánh giá cao tình yêu sâu xa của tác giả đối với Giáo Hội, các chủng sinh và linh mục Việt Nam.
Linh mục Domingo Moraleda, CMF
Giám Đốc ICLA
MỤC LỤC
Đề tặng
Cám ơn
Lời tựa
Mục lục
Dẫn Nhập
Lược tóm
PHẦN I
BỐI CẢNH NỀN TẢNG, NHỮNG THÁCH ĐỐ, CƠ HỘI KHẢ DĨ CỦA VIỆC ĐÀO TẠO THIÊNG LIÊNG CHO CÁC LINH MỤC TƯƠNG LAI TẠI VIỆT NAM
CHƯƠNG I XÃ HỘI VIỆT NAM
A. Bối Cảnh Lịch Sử Liên Hệ Đến Thời Phong Kiến Nguyên Do Gây Hiểu Lầm Và Bách Hại Tôn Giáo
a. Ý Nghĩa Đích Thực Của Đạo Ông Bà
b. Vai Trò Tối Cao Của Ông Trời
c. Lối Hiểu Nguy Hại
d. Đường Hướng Mới và Cơ Hội Mới
e. Lý Do Chính Trị Của Những Căng Thẳng, Xung Đột Và Bách Hại

B. Bối Cảnh Lịch Sử Liên Hệ với Giai Đoạn Cộng Sản
1. Mối liên hệ giữa Giáo Hội Việt Nam và Chính quyền Cộng Sản
a. Giai Đọan Đối Đầu
b. Giai Đọan Hiểu Biết Và Cộng Tác
c. Những Trăn Trở Mâu Thuẩn Do Hoàn Cảnh Mới Gây Nên
d. Dấu Chỉ Của Niềm Hy Vọng
2. Độc Quyền Giáo Dục Tại Việt Nam
3. Một Kiểu Tôn Giáo Mới
4. Phục Hồi Tôn Giáo Bình Dân
5. Phản Ứng Bằng Niềm Cậy Trông Thành Tín
C. Nhân Tố Văn Hoá Trong Tâm Thức Dân Tộc
1. Từ Ngữ Uyển Chuyển Ẩn Giấu Cảm Xúc Chân Thật
2. Phân Biệt Giữa Phục Tùng Miễn Cưỡng Và Vâng Lời Thật Lòng
3. Đặc Điểm Địa Phương Trong Quê Hương
4. Khuyến Cáo Hữu Ích Cho Việc Đào Tạo Thiêng Liêng
CHƯƠNG II GIÁO HỘI VIỆT NAM VỚI CÁC CHỦNG VIỆN VÀ HÀNG GIÁO SĨ
A. Quan Điểm của Các Lãnh Đạo Giáo Hội Việt Nam
B. Sáu Đại Chủng Viện Cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam
C. Khó Khăn Trong Việc Tuyển Nhận và Đào Tạo
1. Tiến Trình Tuyển Nhận Chủng Sinh
2. Các Nhà Đào Tạo Và Việc Đào Tạo
D. Hội Nghị Các Đại Diện Chủng Viện Hai Năm Một Lần
1. Hoạt Động Của Các Đại Diện Tại Các Cuộc Họp
2. Đề Nghị của Các Đại Diện Đối Với Chính Quyền
3. Đề Nghị Của Các Đại Diện Với Lãnh Đạo Giáo Hội
E. Then Chốt của Vấn Đề Thiếu Người Đào Tạo
1. Thực Tế Đòi Hỏi Nhiều Nỗ Lực Hơn
2. Giải Pháp Hiện Tại và Hy Vọng ở Tương Lai
F. Nhìn Tổng Quát về Các Chủng Sinh Việt Nam
1. Mong chờ và Hy vọng của Gia đình Chủng sinh
2. Chủng sinh Ngoại trú hoặc không chính thức
3. Đòi Hỏi Của Giáo Hội Và Khó Khăn Của Ứng Sinh
4. Vấn Đề Tuyển Sinh Và Thủ Tục Vào Chủng Viện
a. Số Chủng Sinh Bị Hạn Chế
b. hất lượng thấp về Trình độ tri thức
c. Vấn Đề Mối Liên Hệ và Đời Sống Độc Thân
d. Khiếm Khuyết Mang Tính Xã Hội: Gian Lận và Thiếu Lương Thiện
e. Thương Lượng Tế Nhị
f. Chủng Sinh Tốt Nghiệp Và Chức Linh Mục
g. Tình Trạng Hiện Nay của Các Linh Mục Việt Nam
1. Cái Nhìn Tổng Quát
2. Những Khía Cạnh Tích Cực
3. Những Khía Cạnh Tiêu Cực
4. Viễn Ảnh Đào Tạo Chủng Sinh
CHƯƠNG III VIỆC ĐÀO TẠO THIÊNG LIÊNG HIỆN NAY Ở CÁC CHỦNG VIỆN VIỆT NAM
A. Chương Trình Tiêu Chuẩn Đào Tạo Thiêng Liêng
1. Lý Thuyết
2. Thực Hành Thiêng Liêng
3. Sự Nâng Đỡ Cần Thiết
B. Việc Tự Đánh Giá của Các Chủng Sinh
C. Việc Áp Dụng Chương Trình Này Trên Thực Tế
D. Trở Lực Trong Tiến Trình Phát Triển Thiêng Liêng
E. Việc Lượng Định Hằng Năm
F. Nhu Cầu Phải Tiến Bộ Liên Tục

PHẦN II
NHỮNG GIÁO HUẤN CỦA HỘI THÁNH VỀ VIỆC ĐÀO TẠO THIÊNG LIÊNG CHO CÁC CHỦNG SINH
CHƯƠNG IV GIÁO HUẤN CỦA HỘI THÁNH HOÀN VŨ VỀ VIỆC ĐÀO TẠO THIÊNG LIÊNG
A. Tài Liệu của Công Đồng Vaticanô II
1. Đào Tạo Linh Mục (Optatam Totius)
2. Sứ Vụ và Đời Sống Linh Mục (Presbyterorum Ordinis)
B. Các Tài Liệu của Toà Thánh
1. Những Mục Tử Như Lòng Mong Ước (Pastores Dabo Vobis)
2. Hội Thánh tại Á Châu
a. Những Ưu Tiên của Hội Thánh tại Á Châu
b. Đào Tạo Thiêng Liêng cho Các Chủng Sinh
3. Lược Đồ Cơ Bản cho Việc Huấn Luyện Linh Mục
(Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis)
a. Những Nguyên Tắc Chỉ Đạo Tổng Quát
b. Những Khía Cạnh Cụ Thể
4. Đào Tạo Thiêng Liêng Trong Các Chủng Viện

C. Giáo Huấn của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II
1. Đóng Góp của Khoa Tâm Lý Vào Đào Tạo Linh Mục
a. Đóng Góp Thích Đáng và Hạn Chế của Khoa Tâm Lý Trong Tiến Trình Đào Tạo Linh Mục
b. Đào Tạo Thiêng Liêng Và Đời Sống Độc Thân
2. Chuẩn Bị Vững Chắc Cho Các Linh Mục
3. Việc Đào Tạo Thiêng Liêng Thích Ứng với Những Thách Đố Truyền Giáo
D. Giáo Huấn của Đức Bênêđitô XVI
1. Chúa Giêsu Kitô Là Chuẩn Mực Chân Thực
2. Hội Thánh Không Sợ Tương Lai
3. Mở Rộng Cửa cho Chúa Kitô

CHƯƠNG V GIÁO HUẤN CỦA HỘI THÁNH ĐỊA PHƯƠNG VỀ VIỆC ĐÀO TẠO THIÊNG LIÊNG
A. Phương Hướng Cụ Thể của Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu (FABC)
1. Khuôn Mặt Á Châu của Linh Mục
a. Chức Linh Mục Trung Tâm của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ
b. Linh Mục, Người của Hội Thánh
c. Cuộc Sống Và Vai Trò Của Linh Mục Trong Bối Cảnh Á Châu
2. Các Khía Cạnh của Tiến Trình Đào Tạo
a. Kiểu Mẫu và Phương Pháp Đào Tạo Ứng Viên
b. Phẩm Chất Thiết Yếu của Người Đào Tạo
c. Cần Có Đường Lối Lượng Định Hiệu Quả
3. Đời Sống Cầu Nguyện trong Việc Đào Tạo Thiêng Liêng cho Các Chủng Sinh
a. Ý Nghĩa Sống Còn của Cầu Nguyện
b. Tương Tác Giữa Các Cách Thức Cầu Nguyện Kitô Giáo và Á Châu
B. Chỉ Thị và Nguyên Tắc Chỉ Đạo của HĐGMVN

CHƯƠNG VI ÁP DỤNG GIÁO HUẤN CỦA HỘI THÁNH VÀO VIỆC ĐÀO TẠO THIÊNG LIÊNG CHO CÁC CHỦNG SINH
A. Viển Anh Chức Linh Mục Ap Dụng Vào Việc Đào Tạo Thiêng Liêng
1. Linh Mục, Người Được Chúa Thánh Thần Thánh Hiến, Chiếm Hữu và Hướng Dẫn
2. Linh Mục, Con Người Đạo Đức và Cầu Nguyện
3. Linh Mục, Con Người của Linh Thánh
4. Linh Mục, Người Có Nền Tảng Thánh Kinh Vững Chắc
5. Linh Mục, Người Mở Ra cho Tình Hiệp Thông
6. Linh Mục, Người Dấn Thân Truyền Giáo
7. Linh Mục, Người của Đối Thoại
8. Linh Mục, Người của Truyền Thông Xã Hội
9. Linh Mục, Người Nhạy Bén với Đổi Thay Xã Hội
10. Linh Mục, Người Của Tác Vụ Ngôn Sứ

B. Linh Đạo và Thần Học về Chức Linh Mục
1. Linh Đạo về Chức Linh Mục
2. Thần Học về Chức Linh Mục
C. Hình Ảnh và Căn Tính của Linh Mục
Cross (Thập Giá)
Humanity (Nhân Tính)
Reconciliation (Hoà Giải)
Interiority (Nội Tâm)
Servanthood (Phục Vụ như Tôi Tớ)
Teacher (Thầy Dạy)
D. Nâng Đỡ và Nuôi Dưỡng Thiêng Liêng

PHẦN BA
ĐÀO TẠO VÀ TỰ ĐÀO TẠO THIÊNG LIÊNG CỦA CÁC LINH MỤC TƯƠNG LAI TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM NGÀY NAY
CHƯƠNG VII BỐI CẢNH HÓA ĐÀO TẠO THIÊNG LIÊNG CHO CÁC LINH MỤC VIỆT NAM TƯƠNG LAI
A. Trong Viễn Anh Giáo Hội Học của Vaticanô II
B. Trong Viễn Anh Truyền Giáo
1. Tính Khẩn Thiết của Việc Truyền Giáo với Giáo Hội Việt Nam Hôm Nay
2. Nguồn Gốc và Mẫu Mực: Sứ Vụ của Chúa Giêsu
a. Sứ Vụ của Chúa Giêsu trước Phục Sinh
b. Sứ Vụ của Chúa Giêsu sau Phục Sinh
c. Bản Chất của Giáo Hội là Truyền Giáo
3. Đối Thoại, Con Đường Thích Hợp để Sống và Thi Hành Sứ Vụ Truyền Giáo
4. Trở Nên Những Thừa Sai Hăng Say và Hiệu Quả
C. Trong Viễn Ảnh Cộng Tác Với Giáo Dân
1. Quan tâm mới, Cái Nhìn Mới
2. Cộng Tác với Người Giáo Dân Nói Chung
3. Cộng Tác với Phụ Nữ, Nữ Giáo Dân và Nữ Tu
4. Kiểi Mẫu Đào Tạo ICLA
5. Viển Ảnh và Đề Nghị của FABC
D. Trong Viễn Ảnh Đối Thoại
1. Thái Độ và Chỉ Đạo của Đức Bênêđitô XVI
2. Đối Thoại với Các Nền Văn Hoá
3. Đối Thoại Liên Tôn
4. Hiện Diện với Người Nghèo:
5. Đối Thoại với Người Cộng Sản
a. Những Lý Do Đối Thoại với Người Cộng Sản
1) Sứ Vụ Của Chúa Giêsu Và Sứ Vụ Của Hội Thánh
2) Đòi Hỏi Của Tin Mừng
3) Định Hướng Lịch Sử Của Nhân Loại Trong Thời Đại Chúng Ta
4) Sự Biến Chuyển Của Nhận Thức Và Các Mối Liên Hệ
b. Những Tiêu Chí Của Cuộc Đối Thoại Này
1) Khuyến Cáo Của Đức Gioan Phaolô II
2) Thái Độ Của Các Giám Mục Việt Nam
3) Sự Cảm Thông Của FABC
c. Đường Lối Đối Thoại Thích Hợp với Người Cộng Sản
1) Nhìn Nhận Những Quyền Bính Dân Sự
2) Bác Bỏ Đối Thoại ở Mức Độ Ý Thức Hệ
3) Đối Thoại Bằng Cuộc Sống Và Hành Động Với Người Cộng Sản
4) Đối Thoại Bằng Cách Làm Chứng Cho Tình Yêu Thiên Chúa
5) Một Số Dữ Liệu Thống Kê
d. Con Đường Hy Vọng Đã Được Mở Ra

CHƯƠNG VIII GIAI ĐOẠN TIỀN CHỦNG VIỆN THĂNG TIẾN, THẨM TRA VÀ ĐÓN NHẬN
A. Cộng Tác Hữu Hiệu Ở Cấp Giáo Phận
1. Giai đọan Chuẩn bị các ứng sinh gia nhập Chủng viện
a. Cam Kết Khởi Đầu Của Ứng Sinh
b. Dữ Kiện Cá Nhân Của Ứng Sinh
c. Sự Dấn Thân Không Thể Thiếu Của Giám Mục Giáo Phận
B. Đánh Giá Và Thanh Lọc Để Nhận Vào Chủng Viện
a. Hoàn Cảnh Gia Đình
b.Sức Khoẻ Thể Lý Và Tâm Lý
c. Đời Sống Thiêng Liêng Và Luân Lý
d. Việc Linh Hướng Và Tham Vấn Tâm Lý
C. Phân Định Ơn Gọi
a. Hai Yếu Tố Giúp Nhận Định Ơn Gọi
1) Ý ngay lành
2) Động Lực Thúc Đẩy Ý Hướng
b. Cam Kết Tự Biến Đổi Và Cam Kết Cho Sứ Vụ

CHƯƠNG IX GIAI ĐOẠN CHỦNG VIỆN ĐÀO TẠO VÀ TỰ ĐÀO TẠO THIÊNG LIÊNG
A. Chương Trình Tổng Quát Trong Tiến Trình Đào Tạo Của Chủng Viện.
B. Đào Tạo Thiêng Liêng
1. Chuẩn Mực Của Đào Tạo Thiêng Liêng.
a. Cấp Độ Cá Nhân
b. Cấp Độ Giáo Hội Và Truyền Giáo
C. Việc Linh Hướng
1. Định Nghĩa
2. Những Nguyên Tắc Chung
3. Ba Vấn Đề Cơ Bản Và Quyết Định
* Biết Mình
* Vấn Đề Sự Thân Mật Và Tính Dục
* Quyền bính
4. Đánh Giá Động Lực Nội Tâm
a. Tính Hấp Dẫn Của Ơn Gọi
b. Biểu Lộ Cụ Thể Của Ý Hướng Ngay Lành
D. Đời Sống Cầu Nguyện Và Đời Sống Nội Tâm
1. Định Hướng Căn Bản Cho Đời Sống Thiêng Liêng Sâu Xa
2. Ba Đặc Tính của Cầu Nguyện:
a.Lời Cầu Nguyện Kitô Giáo
b.Lời Cầu Nguyện Tông Đồ
c. Lời Cầu Nguyện Mục Vụ
3. Phương Tiện Sư Phạm Trong Việc Huấn Luyện Cầu Nguyện
a. Các Trách Nhiệm
b. Những Nơi Chốn
c. Các Thời Khắc
4. Sự Thinh Lặng: Điều Kiện Thiết Yếu Cho Đời Sống Nội Tâm
a. Ý Nghĩa và Mục Đích của Thinh Lặng
b. Giá Trị của Thinh Lặng
c. Những Thách Đố của Thinh Lặng
d. Những Phương Tiện Thuận Lợi Cho Việc Giữ Thinh Lặng
+ Thinh Lặng trong Phụng Vụ
+ Thinh Lặng Trong Nhà
+ Thinh Lặng trong Những Ngày Cấm Phòng hay Tĩnh Tâm
5. Những Hình Thức Cầu Nguyện
a. Liên Quan Đến Lời Chúa
1) Lời Chúa
2) Lectio Divina
3) Phụng Vụ Các Giờ Kinh
4) Nguyện Gẫm
5) Đọc Sách Thiêng Liêng
b. Biểu Tượng và Nghi Thức
1) Bí Tích Thánh Thể
2) Bí Tích Sám Hối
3) Lòng Sùng Kính Đức Maria
6. Những Cách Cầu Nguyện Của Người Á Châu Và Việt Nam
a. Từ Những Kinh Nghiệm Cầu Nguyện Trong Quá Khứ
b. Đến Cầu Nguyện Trong Bối Cảnh Của Á Châu
c. Ích Lợi của Cách Cầu Nguyện Á Châu
d. Cầu Nguyện Tập Trung Và Niềm Vui Thiêng Liêng
e. Vượt Qua Những Khó Khăn và Kiên Trì Trong Đời Sống Cầu Nguyện
7. Để Thành Người Lãnh Đạo Cầu Nguyện
a. Học Làm Sao Chủ Sự Cầu Nguyện
b. Học Hướng Dẫn Dân Chúa Trong Hành Trình Thiêng Liêng của Họ

E. Cơ Cấu Của Việc Đào Tạo Thiêng Liêng
1. Việc Đào Tạo và Toà Trong/Toà Ngoài
a. Định Nghĩa Từ Ngữ
b. Toà Trong
c. Toà Ngoài
2. Tiến Trình và Sự Tương Tác Giữa Hai Tòa
a. Khác Biệt Nhưng Bổ Túc Cho Nhau
b. Thực Hành Chuyên Biệt
c. Khác Biệt

F. Những Tác Nhân Đào Tạo
1. Cộng Đoàn Giáo Dục
2. Chính Ứng Sinh
3. Các Nhà Đào Tạo
a. Chúa Giêsu, Gương Mẫu Của Nhà Đào Tạo
b. Vai Trò và Sự Hiệp Nhất của Đội Ngũ Đào Tạo
c. Cần Những Nhà Đào Tạo Có Phẩm Chất
4. Vị Linh Hướng
a.Vai Trò Thiết Yếu của Chúa Thánh Thần
b. Vai Trò Quan Trọng của Vị Linh Hướng
c. Nguyên Tắc Khi Cần Thay Đổi Vị Linh Hướng
5. Vị Giám Đốc và Hội Đồng
6. Nhóm Nhỏ Các Bạn Đồng Môn
7. Môi Trường Thực Tập Mục Vụ

G. Đánh Giá và Giới Thiệu Chịu Chức
1. Tiến Trình Đánh Giá Hàng Năm của Hội Đồng Chủng Viện
2. Tự Đánh Giá Hàng Năm của Chủng Sinh
3. Đánh Giá Chung Cuộc và Giới Thiệu Chịu Chức
4. Ứng Sinh Không Thích Hợp với Chức Linh Mục

CHƯƠNG X GIAI ĐOẠN HẬU CHỦNG VIỆN - NĂM NĂM ĐẦU TIÊN TRONG SỨ VỤ LINH MỤC: NHỮNG MỐI TƯƠNG QUAN HÀI HOÀ, QUÂN BÌNH VÀ TRƯỞNG THÀNH TRONG ĐỜI SỐNG VÀ SỨ VỤ LINH MỤC
A. Đối Mặt Thực Tế và Những Nhu Cầu Căn Bản
1. Những Thực Tế Không Mong Đợi
2. Những Nhu Cầu Cơ Bản Và Thường Xuyên Của Hội Thánh
a. Ở Cấp Độ Cá Nhân
b. Ở Cấp Độ Giáo Hội
3. Trách Nhiệm và Đóng Góp của Chủng Viện
B. Những Tương Quan và Trợ Giúp
1. Tương Quan Với Chính Mình
2. Tương Quan Với Người Khác
a. Tương Quan với Giám Mục Bản Quyền
b. Tương Quan Giữa Linh Mục Với Nhau
c. Tương Quan Với Giáo Dân Nam Cũng Như Nữ
d. Tương Quan Với Phụ Nữ: Trợ Lực Hay Là Vấn Đề Cho Cuộc Sống Và Sứ Vụ Của Linh Mục?
e. Tương Quan Với Các Nữ Tu: Phải Khôn Ngoan Và Tỉnh Thức
f. Tìm Những Con Đường Tương Quan Tốt
1) Linh Mục Trong Tương Quan Với Mẹ Và Chị Em Của Mình
2) Hãy đối xử với các Cụ Bà như là mẹ mình, và với các thiếu nữ như chị em mình với tấm lòng trong sạch” (1 Tm 5,2):
3) Nhìn Vào Cách Ứng Xử Của Chúa Giêsu Và Mối Tương Quan Hài Hoà Của Ngài Với Phụ Nữ
3. Tương Quan Với Thiên Nhiên

C. Tương Quan Với Thiên Chúa và Sự Trợ Giúp
1. Chúa Giêsu Nadarét, Đường Tới Chúa Cha
2. Thánh Thể, Chúa Giêsu Lương Thực Hiện Diện
3. Mẹ Chúa Giêsu, Mẹ của Linh Mục

KẾT LUẬN
I. NHỮNG KHÁM PHÁ
A. Bối Cảnh Nền Tảng, Thách Đố và Cơ Hội Khả Dĩ Trong Việc Đào Tạo Thiêng Liêng ở Việt Nam
1. Bối Cảnh Lịch Sử Thời Phong Kiến
2. Bối Cảnh Lịch Sử Thời Cộng Sản
B. Liên Quan Tới Giáo Huấn của Hội Thánh
1. Chỉ Dẫn Nổi Bật của Hội Thánh Hoàn Vũ
2. Hướng Đi Và Những Chỉ Dẫn Cụ Thể Của Hội Thánh Địa Phương
3. Hòa Nhập Giáo Huấn của Hội Thánh
4. Bối Cảnh Hóa Việc Đào Tạo Thiêng Liêng
C. Những Yếu Tố Đặc Biệt Giúp Chủng Sinh Trở Thành Thừa Tác Viên Hữu Hiệu
1. Đào Tạo Thiêng Liêng Trong Giai Đoạn Tiền Chủng Viện
2. Giai Đoạn Đào Tạo và Tự Đào Tạo Thiêng Liêng ở Chủng Viện
a. Đào Tạo Thiêng Liêng
b. Đời Sống Cầu Nguyện và Đời Sống Nội Tâm
c. Cấu Trúc của Việc Đào Tạo Thiêng Liêng
d. Đánh Giá và Giới Thiệu Cho Chịu Chức
3. Năm Năm Đầu Tiên Làm Linh Mục của Thời Kỳ Hậu Chủng Viện

II. NHỮNG ĐỀ NGHỊ THỰC HÀNH
A. Liên Quan Tới Bối Cảnh và Các Thách Đố
1. Hiểu đúng đắn về việc thờ kính tổ tiên
2. Đi xa hơn các yếu tố văn hoá và tâm thức
3. Sứ vụ loan báo Tin Mừng
B. Liên Quan tới Giáo Huấn của Hội Thánh
1. Thực Thi Giáo Huấn của Giáo Hội
2. Hướng đi và những chỉ dẫn cụ thể
C. Bối Cảnh Hóa Việc Đào Tạo Thiêng Liêng
D. Những Yếu Tố Đặc Biệt Giúp Chủng Sinh Trở Thành Những Thừa Tác Viên Hiệu Năng
1. Chuẩn Bị Những Ứng Viên Có Phẩm Chất
2. Nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện và nội tâm
3. Phải đáp ứng với thực tại đổi thay
4. Thăng Tiến Các Tương Quan và Hợp Tác
PHỤ TRƯƠNG
A. VIỆC TỰ ĐÀO TẠO CỦA CHỦNG SINH
I. BẢN CÂU HỎI TỰ VẤN
a. Những Điều Kiện Bên Ngoài
1) Môi Trường Xã Hội
2) Gia Đình Tôi
3) Tương Quan Với Các Linh Mục Quen Biết
4) Tương Quan Với Người Khác Phái
b. Những Điều Kiện Tự Nhiên
1) Sức Khoẻ Của Tôi
2) Tính Tình Của Tôi
3) Trí Khôn Của Tôi
4) Năng Khiếu và Khả Năng Của Tôi
c. Những Điều Kiện Thiêng Liêng
1) Tinh Thần Tự Hiến
2) Tinh Thần Trách Nhiệm
3) Tinh Thần Đời Sống Thiêng Liêng
4) Tinh Thần Đức Tin
5) Tinh Thần Cộng Tác
6) Tinh Thần Vâng Phục
7) Tinh Thần Nghèo Khó
8) Tinh Thần Thanh Khiết
9) Tinh Thần Phụng Vụ
10) Tinh thần Mục Vụ
11) Tinh Thần Lao Động Chân Tay

II. BẢN CÂU HỎI GÂY Ý THỨC
a. Những Câu Hỏi Tổng Quát
b. Những Vấn Nạn Được Nhắm Đến
c. Những Điều Đặc Biệt Khác

III. CHỦNG SINH TỰ ĐÁNH GIÁ
a. Tự Đánh Giá Trong Năm Học Chính Qui của Giai Đoạn Đào Tạo Chủng Viện
1) Đào Tạo Nhân Bản và Thiêng Liêng Trong Cộng Đoàn
2) Đào Tạo Tri Thức
3) Phân Định Ơn Gọi
4) Kết Luận Của Việc Tự Đánh Giá
b. Ứng Sinh Tự Đánh Giá Sau Năm Thực Tập Mục Vụ
1) Ở Chiều Kích Cá Nhân
2) Trong Tương Quan Với Người Khác
3) Cho Sứ Vụ Tương Lai
4) Về Đời Sống Độc Thân
5) Hướng Tới Chức Linh Mục
c. Ứng Sinh Tự Đánh Giá Vào Năm Thần Học Cuối Cùng
1) Chuẩn Bị Để Được Gọi Chịu Chức
2) Về Sự Độc Thân Suốt Đời, Đời Sống Giản Dị và Đức Công Bằng
3) Lòng Nhiệt Thành Tông Đồ
4) Nội Tâm Hóa Đào Tạo Chủng Viện

B. ỨNG SINH HỌC TRỞ THÀNH MỘT VỊ LINH HƯỚNG TỐT
I. Việc Linh Hướng và Phân Định Thiêng Liêng
II. Phân Định Thiêng Liêng Là Gì ?
III. Linh Hướng Là Gì?
a. Tầm Quan Trọng Của Phân Định Thiêng Liêng Và Linh Hướng.
b. Ba Mối Tương Quan Trong Linh Hướng
1) Tương Quan Giữa Chủng Sinh Với Chúa
2) Mối Tương Quan Giữa Chúa và Vị Linh Hướng
3) Tương Quan Chủng Sinh Và Vị Linh Hướng
IV. Những Nguyên Tắc Linh Hướng
V. Nội Dung và Tiến Trình Các Buổi Gặp Linh Hướng
a. Lắng Nghe
b. Chú Tâm vào Hình Ảnh Thiên Chúa
c. Giúp Làm Sáng Tỏ Kinh Nghiệm
d. Nhận Ra và Làm Sáng Tỏ Hệ Thống Giá Trị
e. Khẳng Định Và Thách Đố
f. Giáo Huấn Và Hội Nhập
g. Trách Nhiệm
h. Trợ Giúp Trong Lúc Khó Khăn
i. Cầu Nguyện
VI. Các Đức Tính của Vị Linh Hướng Tốt.
VII. Những Gì Vị Linh Hướng Phải Tránh?
VIII. Những Gì Vị Linh Hướng Phải Làm?

C. TÂM LÝ HỌC VÀ VIỆC ĐÀO TẠO ĐỜI SỐNG ĐỘC THÂN CHO CHỦNG SINH
I. Hậu Quả Tai Hại của Lạm Dụng Tình Dục
II. Kiểm Tra Tâm Lý
1. Ý Nghĩa và Những Giới Hạn
2. Tiến Trình
3. Vai Trò của Khoa Tâm Lý Ttrong Việc Tuyển Lựa và Đào Tạo Chủng Sinh
4. Những Vấn Đề Liên Quan Sự Độc Thân



DẪN NHẬP

Thế giới hiện đại, với hiện tượng toàn cầu hoá và môi trường kỹ thuật của nó, có ảnh hưởng không nhỏ đối với cuộc sống mọi người trên mọi lãnh vực xã hội và tôn giáo. Bên cạnh những lợi thế tích cực, sự xâm nhập của phong trào tục hoá, với nền văn hoá duy vật và hưởng thụ, đã tác động vào tinh thần con người và tạo nên một cuộc khủng hoảng trầm trọng với nền văn minh. Vì thế, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã kêu gọi mọi thành phần trong Hội Thánh và xã hội cùng “xây dựng một nền văn minh tình thương, được đặt nền tảng trên những giá trị phổ quát là hoà bình, công lý, liên đới và tự do.”1

Những truyền thống tôn giáo cũng như những giá trị xã hội của Á Châu cũng không thoát khỏi những tác động tiêu cực ấy do bầu khí toàn cầu hoá và chủ nghĩa tiêu thụ. Xã hội Việt Nam cũng phải chịu chung bầu khí này với những ảnh hưởng hết sức phức tạp của ý thức hệ cộng sản. Đức Gioan Phaolô II cảm thông: “Trên những mảnh đất vốn vẫn được xem như là vùng đất của sự hài hoà, thì ý thức hệ này, rất hấp dẫn trên lý thuyết, vì nó có vẻ thật tốt khi muốn hoàn thiện lịch sử, hay xây dựng một thế giới tự do, bình đẳng và công bằng, nhưng trên thực tế lại chỉ có bất lương và tham nhũng. Và “người trẻ bị hụt hẫng (trong những thực tại như thế) khi nhìn về tương lai.”2 Những thực tại này đòi hỏi khẩn thiết phải canh tân đời sống và sứ vụ của Hội Thánh. Công đồng Vaticanô II xác tín rằng “công cuộc canh tân này phần lớn tuỳ thuộc sứ vụ linh mục đã được Thánh Linh Chúa Kitô thúc đẩy” và Công đồng “long trọng khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của việc đào tạo linh mục.”3

Sứ vụ quan trọng nhất của Hội Thánh là sống, làm chứng và loan báo Tin Mừng cứu độ cho toàn thể nhân loại. Để thi hành sứ vụ này, Hội Thánh tại Á Châu buộc phải tổ chức và làm cho nhân sự của mình có khả năng giới thiệu Chúa Giêsu Kitô Cứu Thế với một gương mặt Á Châu, vì “chính Đức Kitô muốn là và muốn trở thành người Châu Á hơn.”4 Nhắc tới nguồn gốc Châu Á của Chúa Giêsu, Đức Hồng Y Paul Shan Kuo-hsi cũng đã nói rằng “Chúa Giêsu, Đấng đã sinh ra tại Châu Á, lại được giới thiệu với chúng ta, những người Châu Á, như là một người Châu Âu. Giờ đây là lúc chúng ta trả lại cho Ngài gương mặt Châu Á và giới thiệu Ngài như là người Châu Á cho những người Châu Á, qua những đường hướng và tư tưởng của Á Châu.”5

Trong cái nhìn Kitô học từ dưới lên, Đức Giêsu Nadarét được giới thiệu như là bậc thầy khôn ngoan, là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta,” là tôi tớ đau khổ, là người thợ, người chữa bệnh, người an ủi, vị ngôn sứ của mọi người, và là người giải phóng,… những hình ảnh thật gần gũi và dễ hiểu, dễ được người Châu Á chấp nhận vì hầu hết họ là những người sống trong cảnh đói nghèo, thất học, bị coi thường, bị ngược đãi, bị đàn áp và trong chừng mực nhất định, họ bị bách hại, đặc biệt là phụ nữ.6

Thế gian có thể tìm thấy Gương Mặt Á Châu của Chúa Giêsu ở đâu? Người ta có thể nhận ra gương mặt ấy qua lối sống và chứng tá xuất phát từ lòng yêu mến say mê và tinh thần truyền giáo của các môn đệ Chúa: ưu tiên “Say mê Chúa Kitô và Say mê con người.”7 Chính Ngài là Đấng đã nói: “Xem quả thì biết cây” (Lc 6,44), hay “Cứ dấu này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy” (Ga 13,35). Khi người Kitô hữu bước đi trong ánh sáng và sống yêu thương, họ nên nhân chứng hùng hồn của Thiên Chúa Cha (x. Ga 15,18). Đối với những ai muốn phục vụ Dân Chúa thì điều này lại càng chân thực hơn nữa. Trở thành môn đệ Chúa Giêsu, nên đồng hình đồng dạng với Ngài trong hành động và sứ vụ, mặc lấy chính Ngài và ngày càng nên giống Ngài hơn trong đời sống hằng ngày chính là ý nghĩa và mục đích của việc đào tạo các linh mục tương lai. Trong công tác đào tạo này, “việc đào tạo thiêng liêng là quan trọng nhất.”8

Tìm kiếm một hướng đào tạo thiêng liêng thích đáng cho các chủng sinh trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, người nghiên cứu được những tư tưởng sau đây của cha ông mình khích lệ: “Kế một năm không gì bằng trồng lúa, kế mười năm không gì bằng trồng cây, kế trăm năm không gì bằng trồng người.” Việc trồng người cũng như phương pháp trồng người trong Hội Thánh phải có thể đáp ứng được những nhu cầu và hoàn cảnh hiện tại ở Việt Nam.

Trong Tông Thư Hậu Công đồng Pastores Dabo Vobis (Những Mục Tử Như Lòng Mong Ước), Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã khẳng định rằng đối mặt với những biến đổi sâu xa và mau lẹ trong xã hội, với sự phong phú của các nền văn hoá và tính đa diện của các bối cảnh, trong đó Hội Thánh loan báo và làm chứng cho Tin Mừng, Hội Thánh cảm thấy được mời gọi, bằng sự dấn thân đã được canh tân, sống lại tất cả mọi điều Đấng là Thầy đã làm cùng các môn đệ và được thúc giục “bởi sự cấp thiết phải duyệt xét lại nội dung và phương pháp đào tạo linh mục.”9

Để đáp lại lời mời gọi này, mọi người đều nhận thức được rằng chất lượng của các linh mục tương lai tuỳ thuộc vào việc đào tạo khởi đầu các vị đó nhận được trong chủng viện, và cũng tuỳ thuộc vào việc đào tạo thường xuyên các vị đó tham gia trong đời sống linh mục tại môi trường giáo phận. Trong công tác đào tạo linh mục ấy, đời sống thiêng liêng bao gồm mọi thứ thực sự thuộc về con người được Chúa Thánh Thần hướng dẫn: “Đời sống thiêng liêng là đời sống nhân bản được sống trong Thánh Linh.”10

Đối diện với những đổi thay về văn hoá như thế, phong trào tục hoá và lối sống mới có ảnh hưởng sâu rộng trên đời sống và sứ vụ của nhiều linh mục giáo phận tại Việt Nam, phong trào và lối sống ấy đặt ra những vấn nạn sau: “Làm thế nào để các linh mục có thể sống và thực thi sứ vụ với con tim và tinh thần mạnh mẽ trong những thời điểm khó khăn ấy? Ngày nay, những khía cạnh nào trong đời sống linh mục cần được canh tân và củng cố? Đời sống linh mục thiếu điều gì trong bầu khí tục hoá và đa dạng hiện nay?”11
Mọi người đều tin rằng việc đào tạo thiêng liêng cho các chủng sinh sẽ góp phần giải quyết những vấn nạn đó. Sự tăng trưởng thiêng liêng thực sự về cơ bản sẽ giúp họ đương đầu với những thách đố mà họ gặp phải và sẽ khích lệ họ thực thi sứ vụ mục vụ trong tương lai cách xứng đáng. Vì vậy, có thể trình bày các vấn đề căn bản cho họ theo những câu hỏi sau đây:
1) Đâu là nền tảng, những thách đố và cơ hội khả dĩ ảnh hưởng đến đời sống thiêng liêng và việc đào tạo thiêng liêng của các chủng sinh ở Việt Nam hôm nay?
2) Đâu là những nguyên tắc chỉ đạo được Giáo Huấn của Hội Thánh trình bày, cả phổ quát lẫn địa phương, liên quan đến công tác đào tạo thiêng liêng cho các ứng viên linh mục?
3) Làm thế nào để có thể đặt công tác đào tạo thiêng liêng trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam, khi làm hài hoà và hội nhập tiến trình đào tạo thiêng liêng với đào tạo nhân bản, đào tạo và tự đào tạo, đồng thời vẫn giữ được căn tính bất di bất dịch của chức linh mục?
4) Về mặt đào tạo thiêng liêng, đâu là những yếu tố đặc thù giúp chủng sinh trở thành những thừa tác viên hữu hiệu cho Dân Chúa?
Một chương trình đào tạo thiêng liêng thích đáng cho các chủng sinh sẽ không chỉ tái khẳng định lời mời gọi và những thách đố cho chương trình đào tạo toàn vẹn, mà còn chỉ ra hướng đi và những kỹ năng cần thiết cho các nhà đào tạo và linh hướng trong sứ vụ cung cấp một chương trình đào tạo toàn diện tại chủng viện. Chất lượng đời sống các linh mục phụ thuộc rất nhiều vào việc đào tạo ban đầu được hấp thụ tại chủng viện, và vào việc đào tạo thường xuyên12 được đảm nhiệm và tăng cường trong đời sống thừa tác vụ. Vì lý do đó, Đức Gioan Phaolô II đã nói rằng các linh mục nên tạo ra thói quen sống thân mật với Chúa Kitô như là người bạn trong mọi chi tiết đời sống mình và sống mầu nhiệm phục sinh của Chúa để biết cách khai tâm cho những người được trao phó cho mình coi sóc.13
Mặc dù công trình nghiên cứu này chỉ giới hạn vào việc đào tạo thiêng liêng, nó cũng giúp ích cho các khía cạnh khác của công cuộc đào tạo linh mục. Nó hữu ích theo nhiều cách khác nhau cho cả chủng sinh lẫn các nhà đào tạo, khi đưa ra vai trò nền tảng, chắc chắn và cốt yếu của việc đào tạo thiêng liêng tại chủng viện. Như vậy, công trình nghiên cứu này chắc chắn sẽ giúp ích cho Hội Thánh tại Việt Nam.
Hơn nữa, mặc dù các Giáo Hội ở các địa phương khác nhau có những nền tảng và những thách đố khác nhau, công trình này cũng hữu ích cách nào đó đối với các Giáo Hội tại Á Châu trong chương trình đào tạo của các Giáo Hội này.
Công trình này cũng có giá trị với những ai muốn tăng triển kiến thức và hiểu biết về tính phức tạp của Hội Thánh Công Giáo tại Việt Nam, nhằm yêu mến và giúp đỡ Hội Thánh tại Việt Nam cách tốt hơn.
Tuy nhiên trước hết, công trình này giúp ích cho chính người nghiên cứu trong khi tìm tòi để giúp đỡ các chủng sinh được ủy thác cho mình một cách hữu hiệu hơn.
Công trình nghiên cứu này nhằm khám phá và phát triển những yếu tố trong chương trình đào tạo thiêng liêng, một chương trình sẽ thích ứng với các chủng sinh Việt Nam đang sống và sẽ thi hành sứ vụ trong một bối cảnh luôn luôn biến đổi.
Công trình này cũng giúp họ có khả năng đối diện với những thách đố của phong trào tục hoá, duy vật, hưởng thụ và chính sách cộng sản, với bình an nội tâm như Chúa Giêsu từng khích lệ (x. Ga 14,27; 16,33).
Như thế, các chủng sinh sẽ được trang bị những phương tiện tự nhiên và siêu nhiên cần thiết14 để sống trọn vẹn đời sống chủng sinh hiện nay, và tiếp tục lớn lên trong đời sống phục vụ của linh mục trong tương lai.
Người nghiên cứu phải tuân theo những nguyên tắc chỉ đạo do Huấn Quyền Hội Thánh đưa ra. Đồng thời cũng phải cố gắng thích nghi những nguyên tắc chỉ đạo này với hoàn cảnh lịch sử đặc thù và cụ thể của Hội Thánh Việt Nam. Nghĩa là chương trình đào tạo phải đáp lại và bắt nguồn từ một nhận thức về tính phức tạp của văn hoá, não trạng, lối sống, các điều kiện sống và những nhu cầu thuộc thừa tác vụ của con người Việt Nam.
Với những kinh nghiệm sống đa dạng và phong phú, người nghiên cứu sẽ phân tích nhiều văn kiện của Hội Thánh nhằm nhận dạng những yếu tố của việc đào tạo thiêng liêng. Công trình này cũng sẽ tìm cách kết hợp lý thuyết và thực hành. Điều này sẽ được diễn tả theo nhiều cách. Người Việt Nam, với kiểu nói “Học hành”, muốn nói rằng việc học và việc thực hành phải đi đôi với nhau. Nghĩa là nếu ta chỉ trình bày chương trình đào tạo cho các chủng sinh, nhưng nếu chính họ lại không tiếp thu chương trình đó thành của mình, thì họ vẫn chưa được dào tạo đầy đủ. Người Việt Nam ta còn có một kiểu nói khác phản ánh khó khăn này: “Nước đổ lá môn” nói lên sự thiếu hiệu quả, như nước rơi xuống lá môn không thấm nước. Ta cũng tìm thấy một kiểu nói tương tự trong thư của thánh Giacôbê về đức tin và những hành động chứng minh đức tin (x. Gc 2,18). Điều này nhấn mạnh đến công việc tự đào tạo của chủng sinh.
Công trình nghiên cứu này không đặt trọng tâm vào toàn bộ chương trình đào tạo các linh mục tương lai, nhưng chỉ giới hạn vào công tác đào tạo thiêng liêng cho các chủng sinh, bao gồm cả việc linh hướng và đời sống cầu nguyện. Dĩ nhiên, việc cho rằng mình có thể xem xét kỹ càng mọi khía cạnh của công tác đào tạo thiêng liêng sẽ là quá kiêu căng. Vì thế, người nghiên cứu chỉ tự giới hạn trong những khía cạnh hàng đầu của tiến trình này, chương trình mà người nghiên cứu diễn tả bằng hạn từ Đào Tạo và Tự Đào Tạo Thiêng Liêng theo ba thời kỳ: Tiền Chủng viện, Chủng viện và Hậu Chủng viện, đặc biệt là trong năm năm đầu tiên của đời linh mục.
Bối cảnh của tiến trình đào tạo thiêng liêng này là theo nhãn quan Giáo Hội học của Công đồng Vaticanô II, về Truyền Giáo, về Hợp Tác với Giáo Dân, và về Đối Thoại, nhằm định hình cho các chủng sinh nên giống Chúa Giêsu Nadarét, mẫu gương tuyệt đối của mọi linh mục.
Cuối cùng, người nghiên cứu sẽ đề cập đến lòng sùng kính đặc biệt đối với Chúa Giêsu Thánh Thể và với Đức Trinh Nữ Maria,15 như là yếu tố quyết định cho sự thành công và lòng trung thành của các linh mục tương lai.

LƯỢC TÓM
Một bản tóm lược của công trình nghiên cứu này sẽ cho thấy một cái nhìn khái quát nhằm giúp đọc giả dễ hiểu hơn.
Trước hết, ở phần đầu, người nghiên cứu giới thiệu hoàn cảnh của Hội Thánh Việt Nam và việc đào tạo linh mục tại đây trong tương quan với hoàn cảnh xã hội Việt Nam, trải qua những hiểu lầm và bách hại của các triều đại phong kiến, rồi những khó khăn và hạn chế về mặt tôn giáo dưới chế độ cộng sản.
Hoàn cảnh sống và thi hành sứ vụ trong hiện tại của các linh mục Việt Nam, cũng như việc đào tạo thiêng liêng hiện nay cho các chủng sinh cũng sẽ được đề cập tới.
Những bối cảnh nền tảng, những thách đố và cơ hội khả dĩ này chính là bối cảnh trong đó các chủng sinh hôm nay được đào tạo và các linh mục tương lai sẽ thi hành sứ vụ.
Công tác đào tạo thiêng liêng và những nỗ lực trong công tác này, những nỗ lực đáng kể, cần được tiếp cận cách thích đáng và phù hợp với thế giới đang thay đổi và với sứ mệnh tân Phúc Âm hoá của Hội Thánh.
Phần thứ hai làm nổi bật những chỉ dẫn chính yếu trong những giáo huấn của Hội Thánh liên quan tới việc đào tạo thiêng liêng cho các linh mục tương lai, việc đào tạo khởi đầu và đào tạo thường xuyên. Những tư tưởng chủ đạo và quyết định xuất phát từ Công đồng Vaticanô II. Những giáo huấn này được củng cố và soi sáng nhờ những văn kiện của Toà Thánh và các bài diễn văn của các Đức Thánh Cha, đặc biệt là Đức Gioan Phaolô II. Những giáo huấn ấy được cụ thể hoá và áp dụng theo những đường hướng của Liên Hiệp Hội Đồng Giám Mục Châu Á và theo những chỉ dẫn của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.
Hơn nữa, những suy tư thần học làm sáng tỏ một số mặt trong hình ảnh các linh mục Châu Á, những người vừa đượm nhuần nhân bản vừa đượm nhuần thiêng liêng, dựa trên mẫu gương của mọi linh mục, là Chúa Giêsu Nadarét, hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Căn tính linh mục là bất biến giữa một thế giới không ngừng biến đổi và còn tiếp tục biến đổi thật mau lẹ.
Ở phần thứ ba, việc đào tạo và tự đào tạo thiêng liêng của các linh mục tương lai trong bối cảnh Việt Nam hôm nay được bối cảnh hoá theo quan điểm của Giáo Hội học của Vaticanô II, về Truyền Giáo, về Hợp Tác với Giáo Dân và về Đối Thoại.
Bên cạnh việc đối thoại với các nền Văn Hoá, với các Tôn Giáo khác và với Người Nghèo, hoàn cảnh đặc thù của Việt Nam đòi hỏi phải có cuộc đối thoại thứ tư, Đối Thoại với những người Cộng Sản.
Phần thứ tư miêu tả đầy đủ và chi tiết việc đào tạo và tự đào tạo thiêng liêng theo ba giai đoạn: Tiền Chủng Viện, Thời kỳ Chủng Viện và năm năm đầu tiên trong đời linh mục của thời Hậu Chủng Viện.
Giai đoạn đào tạo Tiền Chủng Viện là nền tảng tiên quyết trong mối tương tác giữa đào tạo nhân bản, đào tạo Kitô và đào tạo linh mục: nếu không là người tốt, không thể là Kitô hữu tốt; và nếu không là Kitô hữu tốt, không thể là linh mục tốt được.
Giai đoạn đào tạo thiêng liêng ở Chủng Viện là giai đoạn chính yếu và toàn bộ. Giai đoạn này được triển nở qua việc linh hướng, đời sống cầu nguyện và đời sống nội tâm, thông qua việc thực hành hài hoà giữa toà ngoài và toà trong, nhằm giúp các chủng sinh có đủ tự do lương tâm trong việc quyết định đời sống của mình.
Việc đào tạo và tự đào tạo thiêng liêng như thế được thực hiện bởi một số nhân tố đào tạo, cụ thể là cộng đoàn giáo dục của chủng viện, chính bản thân ứng viên, các nhà đào tạo, vị linh hướng, vị giám đốc và hội đồng chủng viện, nhóm nhỏ bạn hữu và môi trường hoạt động mục vụ.
Trong suốt giai đoạn này, có một số việc lượng định và tự lượng định, đặc biệt là sự lượng định cuối cùng để giới thiệu các ứng viên nhận Chức Thánh.
Năm năm đầu tiên đời linh mục thời Hậu Chủng Viện nhằm kích hoạt việc đào tạo đã hấp thụ ở chủng viện, nhằm giúp các linh mục trẻ sống đời sống linh mục và thực thi kỹ lưỡng sứ vụ của mình giữa lòng Dân Chúa.
Để đạt được mục tiêu này, ta cố gắng giúp các linh mục trẻ đẩy mạnh những mối liên hệ hài hoà, quân bình và trưởng thành với chính mình, với người khác, với thiên nhiên và một cách mật thiết với Thiên Chúa. Người ta chú ý đặc biệt đến mối liên hệ của họ với các phụ nữ và nữ tu, trong viễn cảnh những mối liên hệ và cách ứng xử của Chúa Giêsu.
Lòng sùng kính nhiệt thành đối với Chúa Giêsu Thánh Thể và Đức Maria được giới thiệu như là nơi nương tựa và bảo đảm cho sự thành công và ơn trung thành trong đời sống và sứ vụ của mọi linh mục.


PHẦN I
BỐI CẢNH NỀN TẢNG, NHỮNG THÁCH ĐỐ, CƠ HỘI KHẢ DĨ CỦA VIỆC ĐÀO TẠO THIÊNG LIÊNG CHO CÁC LINH MỤC TƯƠNG LAI TẠI VIỆT NAM

Thiên Chúa thường kêu gọi các linh mục của Ngài từ những môi trường nhân sinh và môi trường Giáo Hội cụ thể. Dĩ nhiên các ngài chịu ảnh hưởng của những môi trường ấy, và rồi các ngài cũng được sai tới chính những môi trường ấy để phục vụ Tin Mừng của Chúa Kitô.16
Điều quan trọng nhất trong cuộc sống con người là bài học mà họ đã tiếp thu từ quá khứ. Không ai thay đổi được quá khứ, nhưng từ quá khứ, người ta có thể tạo ra và xây đắp một tương lai tốt đẹp hơn.17 Những khó khăn và thách đố có thể trở thành những cơ hội cho một công trình bền vững và chắc chắn.
Đó là nền tảng của niềm hy vọng trong việc giáo dục, nhất là việc đào tạo thiêng liêng, vốn là công việc liên quan trực tiếp đến ân sủng Thiên Chúa và sự biến đổi. Thiên Chúa có thể rút ra điều tốt lành từ điều xấu, điều tích cực từ cái tiêu cực, và có thể biến đổi điều tốt thành điều tốt hơn.
Trong tinh thần như thế, tác giả muốn xem xét nền tảng và những thách đố trong bối cảnh Việt Nam. Như thế những cơ hội tích cực sẽ được khám phá và những cơ hội tích cực ấy sẽ dẫn đến việc đào tạo thiêng liêng thích hợp cho các chủng sinh hôm nay; và mai ngày, những nhà lãnh đạo tương lai ấy sẽ đảm nhận vai trò quan trọng trong việc xây đắp Nước Thiên Chúa trong xã hội Việt Nam.

CHƯƠNG I
XÃ HỘI VIỆT NAM
Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là một nước nhỏ ở Đông Nam Á. Dải đất có hình chữ “S”, với chiều dài 1.500 dặm. Phía bắc Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc, phía đông và phía nam tiếp giáp với Thái Bình Dương, và phía tây tiếp giáp với Campuchia và Lào. Diện tích toàn bộ đất nước khoảng 127.600 dặm vuông, với 2.500 hải lý bờ biển. Dân số tại Việt Nam khoảng bảy mươi tám triệu, với khoảng hai triệu người Việt phân tán trên khắp thế giới. Khoảng tám mươi phần trăm dân số là người Kinh, số còn lại thuộc năm mươi tư nhóm thiểu số riêng rẽ.18
Nước Việt Nam đã chịu ách đô hộ của Trung Quốc trong khoảng một ngàn năm, ách thực dân Pháp trong một trăm năm, và một cuộc nội chiến kéo dài ba mươi năm,19 với sự can thiệp của ngoại bang ở cả hai bên chiến tuyến sau cuộc chia đôi đất nước vào năm 1954.
Lịch sử dài phải đấu tranh để tồn tại như thế đã khuôn đúc nơi dân tộc Việt Nam một tính cách phức tạp, thậm chí mâu thuẫn. Họ kiên nhẫn và yêu hoà bình, nhưng đôi khi lại hiếu chiến và phản đối người ngoại quốc. Họ vừa sùng đạo lại vừa chống tôn giáo. Tâm thức phức tạp này, cùng với quan điểm tôn giáo – chính trị của họ đã tạo nên một bối cảnh tế nhị và nền tảng đa dạng dẫn đến nhiều thách đố và cơ hội khả dĩ trong mọi lãnh vực của cuộc sống.
Điều này đúng cho người Việt Nam, cũng như người ngoại quốc, là khi nhìn lại quá khứ không nên hàm ý phàn nàn, nhưng đúng hơn là ước muốn sử dụng bài học quá khứ nhằm xây đắp một tương lai tốt đẹp hơn.

A. Bối Cảnh Lịch Sử Liên Hệ Đến Thời Phong Kiến
1. Nguyên Do Gây Hiểu Lầm Và Bách Hại Tôn Giáo
a. Ý Nghĩa Đích Thực Của Đạo Ông Bà
Đạo Ông Bà bắt nguồn từ thủa ban đầu trong lòng dân tộc Việt Nam. Lòng tôn kính ông bà tổ tiên là biểu hiện tôn giáo quan trọng đối với họ.20 Họ tin rằng nếu như sông có nguồn, cây có cội, thì nguồn cội của con người là tổ tiên, và việc tôn kính tổ tiên là bổn phận quan trọng nhất của họ. Đó là lòng kính trọng tri ân và tình con thảo của con cái đối với tổ tiên, ông bà cha mẹ, còn sống cũng như đã qua đời. Mỗi gia đình đều có bàn thờ tổ tiên.
Tâm điểm của sự tôn kính này là Ông Trời, tương đương với Đấng mà chúng ta gọi tên là Thiên Chúa. Ngài là hữu thể tối cao, là vị chỉ huy lớn nhất của mọi thụ tạo hữu hình và vô hình. Mọi người đều phải tôn kính Ngài với lòng biết ơn. Người Việt Nam tin rằng Trời là tuyệt đối và vô biên. Mọi bàn thờ trong nhà đều không xứng đáng để Trời ngự ở đó. Nhưng có một bàn thờ nhỏ đặt ở bên ngoài được gọi là Vọng Thiên, có nghĩa là hướng về Trời. Trên bàn thờ này, người ta dâng hoa trái, để từ trời cao, Ông Trời sẽ nhìn thấy và chấp nhận lòng thành của con người.
Bên dưới Ông Trời là Vua, Thầy, và Cha Mẹ. Người ta cũng ý thức điểm khác biệt sau đây: Đức Vua cai trị và thần dân của ngài tuân hành luật lệ của ngài với lòng tri ân; người Thầy dạy dỗ và học trò thực hành lời giáo huấn của Thầy với lòng biết ơn. Không có bàn thờ cho Đức Vua và Thầy. Chỉ có tổ tiên và cha mẹ là có bàn thờ trong nhà, nhờ thế tổ tiên và cha mẹ được con cháu tôn kính. Chính việc tôn kính tổ tiên như thế khiến con cháu hiệp nhất với nhau. Như thế, con cháu có thể theo đuổi và duy trì di sản, vật chất cũng như tinh thần, mà tổ tiên truyền lại. Ý thức về tổ tiên như thế giúp mỗi thành phần sống tốt hơn lên theo nhiều chiều kích.21
Sau này, Nho giáo, Lão giáo và Phật giáo du nhập vào Việt Nam và đã được người Việt Nam dễ dàng chấp nhận, là vì những tôn giáo này có nhiều yếu tố gần gũi với việc tôn kính tổ tiên. Dần dần, những tôn giáo này trở nên đồng hoá với văn hoá và tâm thức người Việt Nam.
Trải qua thời gian, việc tôn kính tổ tiên đã bị pha trộn và kết hợp thành một số yếu tố thuộc về những thói quen của niềm tin và tôn giáo bình dân, và thậm chí mê tín. Chính thứ thói quen phức tạp sau này mà nhiều người ngoại quốc hiểu lầm đó là việc tôn kính tổ tiên. Sự nhầm lẫn lớn tới mức ngay cả một số đông người Việt Nam hiện nay vẫn còn hiểu lầm như thế.
b. Vai Trò Tối Cao Của Ông Trời
Theo suy nghĩ truyền thống của người Việt Nam, Ông Trời có vai trò tối cao và vượt trên tất cả. Chính Ông Trời cai trị mọi người và mọi vật: “Lưới Trời lồng lộng, thưa nhưng khó lọt.” Đối mặt với khoảng cách giàu nghèo quá lớn, người nghèo phàn nàn: “Trời sao Trời ở không cân, kẻ ăn không hết người lần không ra.” Người ta thường kêu xin Trời giúp, hay kêu xin công lý.
Chỉ có Ông Trời mới đáng hưởng sự tôn thờ cao nhất. Đức Vua được coi là “Thiên Tử” (Con Trời), là đại diện của Trời, và cai trị dân chúng. Chính Đức Vua cũng phải thờ Trời. Bằng chứng của điều này là bàn thờ ngoài trời tại Nam Giao, Huế, Việt Nam, cũng giống như Điện Kính Thiên tại Bắc Kinh, Trung Quốc. Nơi được dành cho Trời như thế cũng tương tự như nơi trọng nhất dành cho Thiên Chúa trong Kitô giáo.
Ông Trời ở trên tổ tiên chứ tổ tiên không ở trên Ông Trời. Tổ tiên rất được kính trọng và tôn kính một cách gần gũi, nhưng việc thờ kính tổ tiên không được xem giống hệt với việc tôn thờ Thiên Chúa.22
c. Lối Hiểu Nguy Hại
Trái lại, vì sự hiểu lầm về việc thờ kính tổ tiên giống như là việc “thờ ngẫu tượng,” các thừa sai Châu Âu đã phân biệt một cách hợp lý và hợp với thần học rằng chỉ một mình Thiên Chúa mới xứng đáng được thờ phượng. Vì vậy, họ hủy bỏ, hoặc yêu cầu các Kitô hữu tân tòng địa phương hủy bỏ bàn thờ tổ tiên tại nhà mình. Hành động này gây ra một phản ứng rất mạnh nơi dân chúng và giới quan quyền Việt Nam, dẫn tới một kết luận đến nay vẫn còn, và ngăn cản bước tiến của Tin Mừng. Người ta nói rằng “theo đạo Công giáo là từ bỏ tổ tiên.”23 Hậu quả là đạo Công giáo bị nhiều người bác bỏ và các Kitô hữu bị bách hại. Đây là một lý do rõ ràng giải thích tại sao người Công giáo ở Việt Nam chỉ là một thiểu số, dù đạo Công giáo đã được các thừa sai từ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Pháp đưa đến đây bốn trăm bảy mươi năm trước đây (1633).
d. Đường Hướng Mới và Cơ Hội Mới
Đối diện với hoàn cảnh như vậy, Hội Thánh Công giáo phải điều chỉnh và tự mở ra một đường hướng mới trong cách nhìn và cách liên hệ với nền văn hoá Á Châu, để khởi đầu cho công cuộc Tân Phúc Âm hoá. Khi Hội Thánh ý thức được những sắc thái ấy, Hội Thánh đã thay đổi lập trường của mình và bắt đầu kính trọng việc tôn kính tổ tiên tại Trung Quốc với Huấn Thị Plane Compertum Est (8-12-1939), và sau này tại Việt Nam từ năm 1964.24 Trong chiều hướng ấy, Hội Thánh có một quan điểm mới về việc hội nhập văn hoá. Đó là một quyết định tốt đẹp và thích đáng, nhưng tự nó, quyết định này không thể chữa trị thái độ thù địch vẫn còn tồn tại nơi một số người Việt Nam. Sai lầm quá khứ cần được trình bày trong phần đào tạo Kitô đối với các chủng sinh. Một diễn đàn phù hợp cho vấn đề này chính là định hướng dẫn tới đối thoại và hội nhập văn hoá.
e. Ly Do Chính Trị Của Những Căng Thẳng, Xung Đột Và Bách Hại
Bên cạnh những lý do mang tính văn hoá và tôn giáo được nêu ra trên đây, cũng như những xung đột do ảnh hưởng của một số thực hành của Phật giáo và của một số truyền thống và giá trị của Khổng giáo, còn có những căn cớ khác dẫn đến sự căng thẳng thường xuyên giữa các nhà thừa sai và giới quan quyền địa phương trong các lãnh vực chính trị, kinh tế và xã hội.
Trong thời gian người Pháp chiếm Việt Nam làm thuộc địa, thật khó phân biệt giữa các vị thừa sai Kitô giáo và những kẻ chinh phục, những kẻ đã biến nước Việt Nam thành một thuộc địa của nước Pháp. Giới quan quyền người Việt, vốn hoạt động trong hệ thống phong kiến, đồng hoá các vị thừa sai ngoại quốc với những kẻ chinh phục và những tên thực dân. Do đó người Pháp, dù họ là ai đi nữa, được xem là những kẻ tước đoạt chủ quyền quốc gia. Vì thế, giới quan quyền địa phương coi các Kitô hữu bản địa như những kẻ bán nước và phản bội; và họ bị kết tội là cổ vũ cho sự tha hoá và mất bản sắc dân tộc về mặt văn hoá. Sự hiểu lầm này dẫn đến hậu quả là cuộc bách hại các Kitô hữu, và thái độ thù nghịch giữa các Kitô hữu và lương dân. Điều này lại càng đúng hơn dưới triều đại Nhà Nguyễn,25 giai đoạn thuộc ba triều đại Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức.
Sứ mạng của thế hệ Kitô hữu mới tại Việt Nam, đặc biệt là các vị lãnh đạo Giáo Hội, là khích lệ việc đối thoại bằng chứng tá và bằng lối sống, nhằm tạo nên sự hiểu biết giữa mọi thành phần dân tộc. Đó là con đường Phúc Âm hoá đặt trọng tâm vào ơn cứu độ của toàn thể nhân loại. Đó là sứ mệnh và mục đích cái chết và phục sinh của Chúa Giêsu, vị Linh Mục Thượng Phẩm. Vì thế, việc đào tạo toàn diện cho linh mục tương lai phải đặt nền tảng trên những nhận thức này, nhằm thúc đẩy sự hiểu biết và chấp nhận lẫn nhau, nhờ những cuộc gặp gỡ và trao đổi. Mọi người sẽ nhận ra rằng thành kiến cũ là vô căn cứ và xuất phát từ bối cảnh chính trị lẫn lộn và phức tạp của lịch sử đất nước.

B. Bối Cảnh Lịch Sử Liên Hệ với Giai Đoạn Cộng Sản
1. Những Mối Liên Hệ Giữa Giáo Hội Việt Nam và Chính Quyền Cộng Sản
a. Giai Đọan Đối Đầu
Đảng Cộng Sản được khai sinh ngày 3-2-1930, trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa đế quốc, và nhắm đến độc lập dân tộc. Do ý thức hệ vô thần của Chủ Nghĩa Cộng Sản, một Tuyên Bố của hàng Giám Mục tại Hà Nội năm 1951 đã kết án chủ nghĩa cộng sản và ra vạ tuyệt thông những ai vào đảng.26 Do đó, mối liên hệ giữa Hội Thánh Công giáo và Chính Quyền Cộng Sản ngày càng trở nên căng thẳng.
Thất bại của nước Pháp tại chiến trường Điện Biên Phủ năm 1954 đã kết liễu chế độ thực dân tại Việt Nam, nhưng đất nước bị chia đôi tại vĩ tuyến mười bảy theo Hiệp Định Giơnevơ. Ở miền Bắc, người cộng sản cai trị với sự ủng hộ của Trung Quốc và Nga. Miền Nam theo chủ nghĩa quốc gia với sự ủng hộ của Hoa Kỳ và các đồng minh. Cuộc phân tranh này gây ra một cuộc nội chiến đẫm máu kéo dài tới ngày 30-4-1975 với chiến thắng của miền Bắc, đánh dấu một khởi điểm mới trong lịch sử đất nước. Kết quả của chiến thắng này là việc thống nhất đất nước. Người Cộng Sản Việt Nam rất tự hào về thắng lợi của họ đối với Mỹ, một nước vẫn được xem là đế quốc hùng mạnh nhất. Nhưng thực ra, thắng lợi thuộc về cả dân tộc Việt Nam; Đảng Cộng Sản chỉ là nhà tổ chức và lãnh đạo dân tộc thành công trong cuộc chiến.
Mối liên hệ giữa người Công giáo với Chính Quyền Cộng Sản trong một thời gian dài mang tính chất đối đầu. Người cộng sản rất nhạy cảm và tỏ ra nghi ngờ đối với người Công giáo. Mọi thứ liên quan đến Giáo Hội đều bị Công An kiểm soát gắt gao. Giáo Hội bị buộc phải sống dưới chế độ hạn chế và kiểm soát khắt khe. Ví dụ chỉ được dạy về tôn giáo trong nhà thờ; các bài giảng bị giám sát; việc xưng tội bị ngăn cản. Sách vở và các tạp chí thường kỳ bị đình bản hoặc đặt trong chế độ kiểm soát gắt gao. Đất đai thuộc sở hữu của Giáo Hội và nhà cửa bị trưng thu, bao gồm cả các trường học, bệnh viện, trại trẻ mồ côi và một số nhà thờ, tu viện. Người trẻ Công giáo không được tham gia phục vụ trong quân đội, không được vào trung học hay đại học. Tại nhà trường, sinh viên bị nhồi nhét những kiến thức đối kháng với đức tin Công giáo.
b. Giai Đọan Hiểu Biết Và Cộng Tác
Không ai có thể phủ nhận những điều đã xảy ra trong quá khứ. Nhưng thật may mắn là mối liên hệ đã chuyển sang hướng hiểu biết và cộng tác: ngay sau khi đất nước thống nhất, Giáo Hội Công giáo tại Việt Nam đã bắt đầu canh tân nhãn quan của mình: Trong thư mục vụ năm 1976, các Giám Mục Miền Nam Việt Nam đã cố gắng đem đến sự hoà giải với sự lãnh đạo của người cộng sản, và kêu mời người Công giáo đón nhận diễn biến lịch sử và cộng tác. Những đường hướng ấy được tóm tắt trong câu: “Tích cực sống đạo bằng cách dấn thân và phục vụ giữa lòng Dân tộc Việt Nam hôm nay.”27
Các vị lãnh đạo Giáo Hội địa phương đã khích lệ các Kitô hữu trở nên thành phần của cộng đồng dân tộc, chung tay “với mọi người để xây dựng đất nước, và làm những gì lợi ích chung cho cộng đồng dân tộc mà không nghịch với đức tin và lương tâm Kitô giáo.”28
Từ 24 đến 30-4-1980, Hội Nghị Các Giám Mục Việt Nam tại Hà Nội đã ra Thư Mục Vụ kêu gọi người Công giáo “sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào.”29 Và Thư Mục Vụ năm 2001 khẳng định: “Ta phải tiếp tục đường hướng đồng hành với dân tộc, đồng cảm, chia sẻ hy vọng và lo âu của dân tộc trong tiến trình phát triển xã hội và thăng tiến con người.”30
Trong khi đó, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II khuyên nhủ: “Hội Thánh tin vào một sự cộng tác lành mạnh với chính quyền nhằm xây dựng một xã hội công bằng nhắm đến lợi ích của mọi công dân, được dẫn dắt bằng tinh thần đối thoại huynh đệ.”31
Hằng năm, một phái đoàn của Toà Thánh viếng thăm Việt Nam để thảo luận về những vấn đề của Giáo Hội địa phương với các quan chức Việt Nam. Và trong thư mục vụ năm 2003, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã thúc giục người Công giáo công bố Tin Mừng qua lời cầu nguyện, gương sống, và đối thoại với những người không Công giáo.
c. Những Trăn Trở Mâu Thuẩn Do Hoàn Cảnh Mới Gây Nên
Có những ý kiến đối lập trong nội bộ cộng đồng Công giáo. Thực ra, nhìn vào một vật, hai người có thể thấy nó một cách khác nhau.
Quả thế, năm 1986 là một bước ngoặt quan trọng đối với Việt Nam, bước ngoặt được gọi là Đổi Mới, do yêu cầu cải cách kinh tế mà các hoạt động chính trị và thái độ của Chính Quyền Cộng Sản đối với các Tôn Giáo cũng chịu ảnh hưởng tích cực. Nhưng vấn nạn “Có hay Không có tự do tôn giáo tại Việt Nam” là một vấn nạn khó có câu trả lời dứt khoát. Mọi chuyện tuỳ thuộc vào các mối liên hệ giữa vị lãnh đạo Giáo Hội địa phương và các quan chức Chính Quyền địa phương. Với những mối liên hệ tốt đẹp, mọi chuyện đều có thể. Với những mối liên hệ không tốt, hầu như không có gì cả hoặc có làm được gì cũng rất ít.
Sự phân biệt đối xử như thế cũng gây ra những đánh giá không chính xác trong nội bộ Giáo Hội Địa Phương. Người “cấp tiến”, hay “những người Công giáo có vẻ được ưu đãi”, được gắn cho nhãn hiệu “quốc doanh” hay “giáo gian.” Điều này phá vỡ sự hiệp nhất sống động của Hội Thánh, Thân Thể Chúa Kitô. Tại sao những người của Thiên Chúa lại không vượt qua được những thành kiến bất công này ngay trong nội bộ Giáo Hội?
Thật tuyệt vời khi ta biến thù thành bạn và thật tồi tệ khi ta biến bạn thành thù. Một chương trình đào tạo thiêng liêng thích hợp tại Việt Nam hôm nay không được phép quên những nhân tố ấy trong đường hướng “sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc, xây dựng một nếp sống và một lối diễn tả đức tin phù hợp với truyền thống dân tộc.”32
d. Dấu Chỉ Của Niềm Hy Vọng
Dưới cái nhìn toàn diện, hiện nay có một sự cởi mở đáng kể so với thời điểm người cộng sản bắt đầu cai trị. Mốc son quan trọng nhất là sự tái lập sáu Đại Chủng Viện trên toàn quốc với trên tám trăm chủng sinh từ hai mươi lăm giáo phận. Viễn tượng này càng trở nên lạc quan theo số thống kê năm 2003 về con số chủng sinh: một ngàn không trăm tám mươi lăm đang học trong các chủng viện, hai trăm bốn mươi mốt đã mãn trường (trong số đó, một trăm đã được truyền chức linh mục) và một ngàn bảy trăm mười hai đang chờ đợi.33


2. Độc Quyền Giáo Dục Tại Việt Nam
Giáo dục được xem là nhân tố quan trọng nhất, vì giáo dục xây dựng con người và tác động tới mọi chiều kích của cuộc sống cũng như các hoạt động trong xã hội. Giáo viên được định nghĩa là kỹ sư tâm hồn.
Trước năm 1954, Việt Nam chịu ảnh hưởng của hệ thống giáo dục Nho giáo, và rồi chịu ảnh hưởng hệ thống của Pháp. Sau năm 1954, miền Nam sử dụng hệ thống của Hoa Kỳ và miền Bắc đặt nền tảng hệ thống giáo dục của mình trên các học thuyết của Karl Marx và Vladimir Lenin nhằm xây dựng xã hội Cộng Sản Chủ Nghĩa.
Vào năm 1975, miền Nam bị chinh phục, và hệ thống Cộng Sản lan ra khắp đất nước. Đảng Cộng Sản chống lại nền giáo dục do những người không cộng sản, và muốn thay thế bằng nền giáo dục của riêng họ. Do vậy, hầu hết các trường sở và các đại học của các Giáo Hội do các tu sĩ điều hành đều bị giải tán. Nhiều trại tập trung và trung tâm học tập cải tạo được mở ra để biến đổi người miền Nam thành “con người mới” xã hội chủ nghĩa. Vì thế, nền giáo dục hiện nay được định hình theo ý thức hệ cộng sản: một kiểu độc quyền về giáo dục tại Việt Nam.
Tuy nhiên, ta cũng không được phủ nhận nỗ lực tốt đẹp này: Chính Phủ Việt Nam đã nhập cuộc để mở rộng cơ hội học hành cho các trẻ em trong nước. Dù vẫn còn là một đất nước nghèo với thu nhập theo đầu người thấp, Việt Nam cũng đã không ngừng đạt được những thành tựu lớn lao trong giáo dục, và đã đạt được những tỷ lệ đến trường rất cao, so với các quốc gia cũng có cùng thu nhập tính theo đầu người thấp như thế.
3. Một Kiểu Tôn Giáo Mới
Trên bình diện toàn cầu, chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa tiêu thụ dẫn tới hiện tượng thờ ơ với tôn giáo, hết quan tâm tới những gì liên quan đến Thiên Chúa, và bỏ việc thực hành tôn giáo, được gọi là “vô thần thực tế.” Trong bối cảnh này, một điều không được mong đợi đã xảy ra tại Việt Nam: dường như có một kiểu tôn giáo mới, thứ tôn giáo có thể được gọi là “tôn giáo Chính Quyền.” Thực ra, hầu như mọi quan chức và các nhà lãnh đạo trong xã hội Việt Nam đều là thành viên của ý thức hệ cộng sản. Đảng Cộng Sản dường như thành công trong nỗ lực áp đặt ý thức hệ cộng sản thông qua độc quyền giáo dục, và tôn vinh Chủ Tịch Hồ Chí Minh như vị anh hùng và người cha già của đất nước. Tượng Chủ Tịch Hồ Chí Minh được tôn kính ở những nơi công cộng quan trọng nhất. Ở một vài nơi trên đất nước, người ta xây dựng những đền thờ Hồ Chủ Tịch như là ngôi đền dành cho một vị thần của một kiểu tôn giáo mới. Không ai có thể phủ nhận công lao của Chủ Tịch Hồ Chí Minh trong công cuộc giải phóng đất nước, nhưng kiểu hoạt động như thế mang một ý nghĩa mới và khác biệt.
4. Phục Hồi Tôn Giáo Bình Dân
Một hiện tượng khác cũng đáng được ghi nhận. Khi đã nắm quyền trên toàn cõi Việt Nam, các viên chức chính quyền cộng sản phá huỷ mọi am miếu như là những nơi mê tín dị đoan. Nhưng bây giờ, nhằm đáp lại những phản ứng tiêu cực đối với những gì họ đã làm chống lại các tôn giáo, và nhằm đáp lại nhu cầu mạnh mẽ đòi hỏi tự do tôn giáo, họ đang lập lại những lễ hội và sự sùng bái nhân gian. Các lễ hội và sự sùng kính bình dân là điều mà dân chúng vốn quen thuộc. Việc trở lại với lối hành đạo truyền thống của tôn giáo bình dân là một thách thức mới đối với những cố gắng nhằm hội nhập của Hội Thánh. Công tác đào tạo chủng sinh cần cân nhắc và phân tích một cách trực tiếp vấn đề này.
5. Phản Ứng Bằng Niềm Cậy Trông Thành Tín
Đối diện với những sự kiện này, nhiều người băn khoăn về việc mất cân bằng giữa thái độ đối với những chuyện thế tục và thái độ tôn giáo của người trẻ. Những người chỉ nhìn vào những khả năng của con người thì sợ hãi cho tương lai. Nhưng công tác đào tạo thiêng liêng cho các chủng sinh dĩ nhiên phải trang bị cho họ những suối nguồn mà họ đang cần để trả lời cho những thách đố này.
Và điều quan trọng hơn là phải nhớ rằng công tác đào tạo thiêng liêng là việc của Thiên Chúa dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, chứ không chỉ giản đơn là việc phàm nhân của các nhà đào tạo. Điều này không có nghĩa là chúng ta bỏ qua nhu cầu đào tạo sự thánh thiêng và khôn ngoan cho con người. Điều này giúp chúng ta đi tới trong đức tin và đức cậy, hơn là lo âu sợ sệt.

C. Nhân Tố Văn Hoá Trong Tâm Thức Dân Tộc
1. Từ Ngữ Uyển Chuyển Ẩn Giấu Cảm Xúc Chân Thật
Tốt nhất là đừng quên tâm thức của người Việt Nam. Có sự khác biệt đáng kể giữa phương Đông và phương Tây trong cách nói và tiếp cận vấn đề.
Người phương Tây có xu hướng tự bày tỏ một cách thẳng thắn, dứt khoát, và đầy đủ về một vấn đề đang tranh cãi. Họ thấy những mâu thuẫn và phản ứng lại với những mâu thuẫn ấy. Ví dụ, vì thấy mâu thuẫn giữa việc thờ kính tổ tiên với việc thờ phượng Thiên Chúa, họ yêu cầu bất cứ người Việt Nam nào theo Công giáo cũng phải bỏ việc thờ kính tổ tiên và phá hủy bàn thờ dâng kính tổ tiên. Những khuynh hướng này dễ gây ra xung đột và căng thẳng.
Trái lại, người phương Đông, trong đó có người Việt Nam, lại hết sức tránh xung đột và căng thẳng, nhưng tìm cách duy trì sự hài hoà. Họ có xu hướng nói và phản ứng không trực tiếp. Họ chỉ trình bày một phần hoàn cảnh, nếu như phần còn lại gây ra bất thuận hay căng thẳng. Họ duy trì tính uyển chuyển trong lời nói và trong sự im lặng. Vì thế, họ có thể hoặc ngoan ngoãn, hoặc rất ngoan cố. Những kiểu ứng xử như vậy khiến người phương Tây thật khó mà hiểu được. Có thể họ rất phản đối một quyết định, nhưng rồi họ sẽ nói “ĐƯỢC”, hay “VÂNG”, hoặc “CÁM ƠN.” Lời nói của họ có thể trái ngược với suy nghĩ của họ. Đối với người phương Tây, đó là một lời nói dối; nhưng đối với người Việt Nam, đó là sự thận trọng đối với người khác. Chúng ta có thể thấy rằng để hiểu được điều mà một người phương Đông thực sự muốn nói, ta phải giải mã “gương mặt,” ngôn ngữ và cử chỉ của người ấy. Và hầu hết người phương Tây thiếu sự nhạy cảm đối với việc giải mã như thế.
2. Phân Biệt Giữa Phục Tùng Miễn Cưỡng Và Vâng Lời Thật Lòng
Quả thực, cần phân biệt ba loại tùng phục: “Quyền phục, lý phục và tâm phục” (tùng phục do quyền lực, tùng phục do lý lẽ, và tùng phục do con tim). Trong ba thứ, tùng phục do con tim (tâm phục) là quan trọng nhất, bởi vì có thể có sự tùng phục do quyền lực và do lý lẽ, nhưng không có sự tùng phục do con tim. Người Việt Nam có thể vâng lời một cách miễn cưỡng những người có quyền lực hay giỏi lý lẽ, nhưng rồi khi những người ấy không còn quyền lực hay nhữnng lý lẽ áp đặt nữa, thì cũng sẽ không còn sự tùng phục nữa! Họ nhận định: “Tức nước vỡ bờ”, nghĩa là sức mạnh âm ỷ của dòng nước có thể phá vỡ con đê. Trong những trường hợp như thế, phản ứng khôn ngoan là “đào sâu lòng sông và khơi dòng cho nước chảy” (ở đây muốn nói tới lòng người và những bức xúc của con người). Nếu như ta chiếm được trái tim họ, họ sẽ hoàn toàn vâng phục và trung thành với ta, dù ta có thêm hay bớt quyền lực và lý lẽ.
Đó là hệ quả do ách đô hộ một ngàn năm của người Tàu và một trăm năm của người Pháp. Dân Việt hiểu rất rõ “lý của kẻ mạnh” và họ ý thức được sự yếu kém của mình, nên họ phải kiên trì chờ đợi đến một thời điểm thích hợp để vùng lên. Người khoẻ dùng sức, kẻ yếu dùng mưu. Họ phản kháng một cách nhẹ nhàng trước uy quyền nhằm tìm kiếm lòng trắc ẩn. Nếu không thay đổi được gì, họ phản ứng một cách tiêu cực hoặc thụ động. Rút cuộc họ sử dụng biện pháp bất bạo động và bất hợp tác: “Kính nhi viễn chi.”
3. Đặc Điểm Địa Phương Trong Quê Hương
Về mặt tâm lý của người Việt Nam, thậm chí có những khác biệt mang tính địa phương: Người miền Nam có khuynh hướng dễ đón nhận và nhạy cảm hơn đối với những giá trị tôn giáo, nhưng họ lại thiếu năng động. Người miền Trung có cả hai khuynh hướng sâu sắc và năng động, nhưng họ lại thường bảo thủ khép kín, và thường mang định kiến. Mặc dù người miền Bắc có khuynh hướng vừa năng động, vừa có đầu óc cởi mở, nhưng họ lại nghiêng về mặt nghi thức, tức là họ thường nhấn mạnh đến các việc sùng kính và thực hành tôn giáo.34
4. Khuyến Cáo Hữu Ích Cho Việc Đào Tạo Thiêng Liêng
Thật may mắn là nhiều nhân tố, chẳng hạn như những cuộc tiếp xúc đa văn hoá, những thay đổi trong lãnh vực kinh tế và giáo dục, v.v… đã giúp biến đổi những phản ứng thụ động và tiêu cực. Tuy nhiên, để xây dựng được cả sự tin cậy và cởi mở của các chủng sinh trong tiến trình đào tạo, những người hữu trách trong việc đào tạo thiêng liêng, cũng như đào tạo toàn diện, cần phải để tâm đến những khó khăn này. Siêu nhiên không xa lạ hay trái ngược với tự nhiên; đúng hơn, siêu nhiên ở ngay trong tự nhiên để nâng cao và hoàn thiện tự nhiên.
Ghi Chú
1 Gioan Phaolô II, Ecclesia in Asia: Chúa Giêsu Kitô Đấng Cứu Độ với Sứ Vụ Yêu Thương và Phục Vụ của Ngài tại Á châu số 32.
2 Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Thư Mục Vụ 2001, số 8.
3 Công đồng Vaticanô II, Optatam Totius: Sắc lệnh về Đào Tạo Linh Mục (28-10-1965).
4 Gioan Phaolô II, “Sứ điệp cho Hội Nghị Toàn Thể FABC (10-1982), Ucanews.com/html/fabc-papers/fabc-92q.htm, truy cập ngày 29-9-2004.
5 “Cuộc sống giản dị, tinh thần nghèo khó có thể giúp linh mục đồng cảm với người nghèo Châu Á” (Uijongbu, Hàn Quốc, 05-11-1999), Ucanews.com/archives, truy cập ngày 29-9-2004.
6 Piotr Krakowczyk, “Lectures on Christology”
7 Chủ đề Hội Nghị 2004 của Các Bề Trên Tổng Quyền, nhóm họp tại Rôma từ 23 đến 27-11-2004. X. Religious Life Asia 7 (1-3-2005).
8 Bộ Giáo Dục Công Giáo, Thư Luân Lưu về Một Số Khía Cạnh Cấp Thiết Hơn trong Việc Đào Tạo Thiêng Liêng nơi các Chủng Viện (Rôma, 1980), tr. 1.
9 Gioan Phaolô II, Pastores Dabo Vobis, số 2.
10 Edward Carter, Spirituality for Modern Man (Indiana: Fides Publisher, 1971), tr. vii.
11 Clement Yoon Yang-ho, Revitalizing Spiritual Formation and Prayer life in Korean Seminaries (Manila, Philippines: ICLA Publications, 2003), tr. 2-3.
12 Pastores Dabo Vobis…, ibid., số 70-81; Ecclesia in Asia…, ibid., số 43; FABC: Seventh Plenary Assembly- Workshop 5 on On-going Formation.
13 Pastores Dabo Vobis..., ibid., số 45.
14 Presbyterorum Ordinis, số 18-19.
15 Optatam Totius…, ibid., số 8; Pastores Dabo Vobis…, ibid., số 82; Ecclesia in Asia…, ibid., số 51; Việc Đào Tạo Thiêng Liêng nơi các Chủng Viện, tr.22.
16 Gioan Phaolô II, Pastores Dabo Vobis…, ibid., số 5.
17 Jose Ma. Ruiz Marquez, “Lectures on History of Consecrated Life”
18 Vietnam Country Profile, lcweb2.loc.gov/frd/cs/vntoc.html, truy cập ngày 3-11-2004.
19 William J. Duiker, “Vietnam,” CD-Rom Microsoft ® Encarta ® Encyclopedia 2004.
20 Phạm Công Sơn, Gia Lễ Xưa và Nay, Nguyễn Bình Tĩnh trích dẫn trong Vấn Đề Thờ Cúng Tổ Tiên.
21 Uỷ Ban Giám Mục về Phúc Âm Hoá, Thỉnh Nguyện gửi Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (Nha Trang, 19-4-1972), trong Tông Đồ Giáo Dân (12-1972): 67-68.
22 Uỷ Ban Giám Mục về Phúc Âm Hoá, Thỉnh Nguyện…, ibid.
23 Nguyễn Bình Tĩnh, Vấn đề Thờ Cúng Tổ Tiên (Đà Nẵng, 2004). Chưa ấn hành.
24 Nguyễn Bình Tĩnh, Vấn đề Thờ Cúng Tổ Tiên ….,ibid.
25 The Episcopal Conference of Vietnam, Communion and Solidarity (Washington D.C, November 2003), trang 4.
26 Các Giám Mục Đông Dương, Thư Mục Vụ 1951, Lavang.co.uk/ TTMVLondon/GiaoHoiVietNam, truy cập ngày 21-10-2004.
27 HĐGMMNVN, Thư Mục Vụ 1976, số 3.
28 Thư Mục Vụ 1976, số 6.
29 Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Thư Mục Vụ 1980, số 13.
30 HĐGMVN, Thư Mục Vụ 2001, số 9.
31 “The Church is waiting for the Total Respect of its Autonomy” (Vatican, January 22, 2002), Zenit.org/english, truy cập ngày 25-12-2004.
32 HĐGMVN, Thư Mục Vụ 1980, số 11&13.
33 The Episcopal Conference of Vietnam, Communion and Solidarity (Washington D.C, November 2003), trang 15.
34 “Grassroots Exchange Will Lead to Useful Dialogue” (Huế, 28-5-2002), Ucanews.com/archives, truy cập ngày 3-11-2004.


CHƯƠNG II
GIÁO HỘI VIỆT NAM
VỚI CÁC CHỦNG VIỆN VÀ HÀNG GIÁO SĨ

A. Quan Điểm của Các Lãnh Đạo Giáo Hội Việt Nam
Trong quá khứ, theo triết lý chính trị và luân lý Khổng giáo, lòng trung thành với cha mẹ, việc cúng dỗ tổ tiên được xem là một luật lệ bó buộc đối với người Việt Nam. Phật giáo cũng đã có ảnh hưởng rất lớn trong cuộc sống và triết lý dân tộc. Công giáo được tiếp nhận như là một tôn giáo ngoại lai và phải chịu đựng một giai đoạn bách hại khốc liệt kéo dài. Trong suốt giai đoạn đen tối này, hơn một trăm ba mươi ngàn người Công giáo Việt Nam chịu tử đạo và một trăm mười bảy vị đã được phong thánh. Nhưng máu các vị tử đạo đó đã trở thành hạt giống sinh ra các Kitô hữu và đức tin đang đơm bông kết hạt thành tôn giáo lớn thứ hai tại Việt Nam, sau Phật giáo.
Trong hiện tại, đã có một số thay đổi trong mối liên hệ giữa Giáo Hội Công giáo tại Việt Nam và Chính Quyền Cộng Sản. Các Giám Mục Việt Nam, trong những Thư Mục Vụ, đã bày tỏ lòng tin kiên trung vào Thiên Chúa bằng những thái độ lạc quan và nhãn quan mới của mình. Các ngài không còn quá chăm chú vào quá khứ, nhưng nhìn về tương lai với lòng tin tưởng. Các ngài muốn dẫn dắt Dân Chúa hướng đến việc xây dựng cả Quê Hương và Giáo Hội. Trong Thư Mục Vụ 2001, các ngài lên tiếng: “Chúng tôi vui mừng tạ ơn Thiên Chúa Cha vì yêu thương đã ban Thánh Thần Sự Sống đến hoạt động không ngừng trên chúng tôi cũng như trên anh chị em, giúp chúng ta sống đức tin trong từng giai đoạn lịch sử của đất nước.”35
Ta có thể nói rằng các vị lãnh đạo Giáo Hội Việt Nam, theo truyền thống, chú tâm vào Chúa Giêsu, là Đầu của Hội Thánh. Lời khẳng định của sách Khải Huyền vọng lại lập trường của các ngài: “Này đây Ta đổi mới mọi sự” (Kh 21,5). Thánh Phaolô còn nói rõ hơn: “Phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thọ tạo mới. Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi” (2 Cr 5,17). Các vị lãnh đạo Giáo Hội Việt Nam muốn tiếp tục tiến trình thay đổi này: một sự thay đổi con tim, tâm thức, cuộc sống và lối sống. Nhưng không phải sự thay đổi, mà tinh thần theo Chúa Kitô mới là vấn đề chủ đạo.
Thực thế, mọi việc Chúa Kitô làm đều mang dấu ấn của thay đổi, thay đổi từ cũ sang mới, từ điều được trông đợi đến điều bất ngờ: Ngài ngồi ăn với người những tội lỗi, nói chuyện với người Xamari, vượt quá luật ngày Xabát, yêu thương kẻ thù, chìa má bên kia và Ngài hy sinh mạng sống vì người khác. Mọi hành động ấy đều là những thay đổi. Qua những thay đổi ấy, Hội Thánh được sinh ra, và hôm nay, cũng qua những thay đổi như thế mà Hội Thánh còn tồn tại và tiếp tục sống động. Luật của sự sống và sinh trưởng là thay đổi, và mỗi chặng đường sinh trưởng của con người đều được ghi dấu bằng những thay đổi quyết định, từ lúc được sinh ra cho đến lúc chết đi.36
Chính trong ánh sáng và tinh thần của sự phát triển mang tính lịch sử như thế mà mọi người có thể hiểu được lập trường của các vị lãnh đạo Giáo Hội Công giáo tại Việt Nam. Các ngài ý thức thực tại mang tính sinh tồn và ưa chuộng một chọn lựa tích cực hơn là một chọn lựa tiêu cực.
Tuy nhiên, người nghiên cứu mời gọi đọc giả nhìn lại những chặng đường lịch sử trên đây để có thêm thông tin về bối cảnh của việc đào tạo thiêng liêng đối với các chủng sinh tại Việt Nam hôm nay. Công việc đào tạo này, vừa khó khăn lại vừa tế nhị, thật quan trọng và có ý nghĩa sống còn đối với Giáo Hội địa phương.

B. Sáu Đại Chủng Viện Cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam
Dưới Chính Quyền Cộng Sản, mọi chủng viện ở miền Bắc, sau năm 1954, và ở miền Nam, sau năm 1975, đều bị đóng cửa: “Đời sống tôn giáo ở Việt Nam chịu sự kiểm soát của luật được thông qua vào năm 1977, được gọi là nghị quyết 297, được cập nhật năm 1986.”37 May thay, với chính sách ĐỔI MỚI, cải cách kinh tế vào năm 1986, người dân được hưởng đôi chút cởi mở, nhưng vẫn còn rất nhiều khó khăn: “Việc xem xét và chấp thuận cho các ứng viên chịu chức và việc chiêu sinh vào chủng viện bị các cơ quan chính quyền kiểm soát. Các cơ quan này cũng kiểm soát việc bổ nhiệm và thuyên chuyển các giáo sĩ.”38
Nhưng rồi, do lời yêu cầu của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, các chủng viện được Chính Quyền cho phép mở cửa trở lại trong những năm từ 1987 đến 1994. Nhưng chính quyền đã hạn chế Giáo Hội Việt Nam với sáu đại chủng viện, hai đại chủng viện cho mỗi giáo tỉnh: Hà Nội và Vinh ở miền Bắc, Huế và Nha Trang ở miền Trung, Thành Phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ ở miền Nam. Các đại chủng viện chỉ được phép tuyển sinh hai năm một lần.
Năm 1993, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã đệ trình đơn thỉnh cầu chính thức xin mở thêm hai đại chủng viện nữa ở Thái Bình, miền Bắc Việt Nam, và Xuân Lộc, miền Nam, nhằm san sẻ gánh nặng đào tạo của hai đại chủng viện tại Hà Nội (cho tám giáo phận) và Thành Phố Hồ Chí Minh (cho sáu giáo phận). Nhưng mãi tới năm 1997, Chính Quyền vẫn chưa trả lời cho lời thỉnh cầu này. Giáo Hội đã chờ đợi với lòng kiên trì và hy vọng, và liên tục lặp lại lời thỉnh cầu này trong nhiều năm.39
Năm 2000, các viên chức có thẩm quyền của Chính Quyền đã chấp thuận cho mở một chi nhánh của Đại Chủng Viện Thành Phố Hồ Chí Minh tại giáo phận Xuân Lộc (giáo phận đông nhất Việt Nam với khoảng một triệu tín hữu). Tuy nhiên, việc mở một đại chủng viện tại giáo phận Thái Bình, ở miền Bắc, như là một phân hiệu của Đại Chủng Viện Hà Nội, vẫn chưa được chấp thuận. Việc này vẫn còn bị treo lại.40 Nhưng mãi tới năm 2004, chủng viện mới ở Xuân Lộc vẫn chưa được phép mở cửa. Những người có thẩm quyền ở tỉnh Đồng Nai lấy cớ rằng họ chưa quen với việc quản lý một trường tôn giáo như thế!
C. Khó Khăn Trong Việc Tuyển Nhận và Đào Tạo
1. Tiến Trình Tuyển Nhận Chủng Sinh
Thông thường, Văn phòng Ơn gọi của mỗi giáo phận chịu trách nhiệm tuyển chọn các ứng viên tiến tới chức linh mục. Nhưng danh sách các ứng viên phải được Ban Tôn Giáo tỉnh thông qua. Thế nhưng, “sự chấp thuận của chính quyền tuỳ thuộc vào lý lịch cá nhân của ứng viên và quan điểm của ứng viên về đường lối chính trị của Đảng và Nhà Nước.”41 Các nhân viên An Ninh điều tra tỉ mỉ từng trường hợp, và hình thành một hồ sơ cá nhân gồm mọi người thân trong ba thế hệ của đương sự. Dĩ nhiên, thái độ chính trị của đương sự là yếu tố mang tính quyết định nhiều nhất. Có rất nhiều cuộc gặp mặt giữa ứng viên và các nhân viên an ninh, cũng như giữa nhân viên an ninh và gia đình ứng viên. Việc vào Đại Chủng Viện phụ thuộc vào thái độ và sự cộng tác của đương sự, của gia đình đương sự. Linh mục bảo trợ cho ứng viên đó cũng có ảnh hưởng đối với tiến trình này. Dựa vào kết luận của các nhân viên An Ninh, Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh sẽ quyết định “được” hay “không” và gửi cho Giám Mục văn thư về quyết định của họ. Chỉ những ứng viên được Chính Quyền chấp thuận mới được vào Đại Chủng Viện.
2. Các Nhà Đào Tạo Và Việc Đào Tạo
Cũng tương tự như vậy, tất cả những ai làm việc trong chủng viện, giám đốc, các nhà đào tạo và các giáo sư, thậm chí cả các giáo sư thỉnh giảng và các thuyết trình viên, cũng phải được Ban Tôn Giáo Trung Ương cho phép. Nội dung và chương trình đào tạo cũng phải được cơ quan này xem xét kỹ lưỡng và chấp thuận. Bên cạnh đó, viên chức chính quyền sẽ dạy cho các chủng sinh môn “Giáo Dục Công Dân,” bao gồm cả lịch sử Việt Nam và lịch sử Đảng Cộng Sản, Chủ Nghĩa Mác-Lênin, Chính Sách và Pháp Luật của Đảng và Nhà Nước.42 Môn giáo Dục Công Dân kéo dài suốt cả bảy năm của quá trình đào tạo, và tuỳ thuộc vào cả Giáo Hội và Chính Quyền địa phương: tối thiểu là trên một trăm hai mươi tiết, và tối đa là gần năm trăm tiết được dành cho môn “Giáo Dục Công Dân.”

D. Hội Nghị Các Đại Diện Chủng Viện Hai Năm Một Lần
1. Hoạt Động Của Các Đại Diện Tại Các Cuộc Họp
Dù có nhiều khó khăn, việc đào tạo linh mục tại Việt Nam cho thấy có nhiều hứa hẹn. Các cấp chính quyền đã cho phép các đại diện thường trú của sáu đại chủng viện được tổ chức họp mặt hai năm một lần, luân phiên tại sáu đại chủng viện. Các cấp chính quyền cho những cuộc họp mặt này một tầm quan trọng đặc biệt khi nhận ra rằng các chủng viện đang đào tạo những nhà lãnh đạo tương lai cho Giáo Hội.
Trong những cuộc họp mặt này, các vị đại diện chủng viện nhìn lại những gì đã diễn ra qua việc xem xét những báo cáo thường niên của mỗi chủng viện. Các ngài suy nghĩ và thảo luận về một trong bốn chiều kích của Pastores Dabo Vobis (nhân bản, thiêng liêng, tri thức và mục vụ). Các tham dự viên cũng chia sẻ một số những khó khăn mà các ngài trải nghiệm trong những khía cạnh khác nhau của việc đào tạo tại chủng viện. Qua những chia sẻ và những tương tác như thế, các ngài nâng đỡ và khích lệ lẫn nhau trong sứ vụ khó khăn này. Sau những cuộc họp mặt này, các nhà đào tạo nắm bắt và lượng định một cách rõ ràng hơn những nhu cầu cụ thể của việc đào tạo ở chủng viện đối với mỗi Giáo Hội địa phương. Những nhu cầu này sẽ được ưu tiên tuỳ theo mức độ cấp thiết.
2. Đề Nghị của Các Đại Diện Đối Với Chính Quyền
Trong những cuộc họp mặt này, một phái đoàn của Ban Tôn Giáo Trung Ương và Ban Tôn Giáo tỉnh tới thăm và nói chuyện với các tham dự viên. Các tham dự viên trình bày cho phái đoàn này những kiến nghị. Những kiến nghị đó bao gồm: giảm thời gian dành cho môn giáo dục công dân, xoá bỏ việc hạn chế con số các ứng viên vào chủng viện, và xoá bỏ việc thẩm tra lý lịch những chủng sinh tốt nghiệp chủng viện.
Các ngài cũng trình bày với phái đoàn của chính quyền một số đề xuất như: mỗi giáo phận được phép mở một nhà đào tạo tiền chủng viện; các giáo phận được phép tuyển lựa các ứng viên hằng năm thay vì hai năm một lần; có thêm một năm nữa cho tiến trình đào tạo tại chủng viện để dành cho việc thực tập mục vụ; cuộc họp mặt các nhà đào tạo mở rộng ra với cả đội ngũ giảng dạy không thường trú tại chủng viện; xoá bỏ việc những ai tới dạy chủng viện phải được chính quyền chấp thuận trước; và các linh mục và những vị dạy tại chủng viện được theo học những khoá dài hạn hoặc cập nhật ở ngoại quốc.
Các ngài cũng bày tỏ hy vọng thường xuyên nhận được các tài liệu của Toà Thánh; rằng thủ tục nhập cảnh sách vở và báo chí dùng trong chủng viện được đơn giản hoá. Các ngài cũng quan tâm lo lắng về sự trì hoãn chấp thuận cho mở phân hiệu của chủng viện Thành Phố Hồ Chí Minh, và cần tạo nhiều điều kiện thuận lợi để mời những người Việt Nam ở hải ngoại và các giáo viên người nước ngoài tới dạy hoặc thuyết trình tại các chủng viện.43
3. Đề Nghị Của Các Đại Diện Với Lãnh Đạo Giáo Hội
Đối với các vị lãnh đạo Giáo Hội, đại diện các chủng viện cũng trình lên những mong đợi. Các ngài xin các Giám Mục làm cho toàn thể mọi người Công giáo, đặc biệt là các cha xứ, ý thức được rằng mọi thành phần Hội Thánh đều có trách nhiệm trong công tác đào tạo các linh mục tương lai, bao gồm cả việc thực tập mục vụ của các chủng sinh.
Nhu cầu khẩn thiết hiện nay là cần nhiều nhà đào tạo chất lượng, và nhu cầu cho các nhà đào tạo nâng cao kiến thức của mình qua việc trao đổi giữa Giáo Hội Việt Nam với các Giáo Hội trong khu vực, và bằng các cuộc hội thảo cũng như các khoá đào tạo ngắn hạn, cũng được đề xuất.44
E. Then Chốt Của Vấn Đề Thiếu Người Đào Tạo
1. Thực Tế Đòi Hỏi Nhiều Nỗ Lực Hơn
Chất lượng của việc đào tạo linh mục phụ thuộc phần lớn vào chất lượng của các nhà đào tạo, đặc biệt là các nhà đào tạo thường trú trọn thời gian. Mọi Đại Chủng Viện ở Việt Nam đều đang cảm nghiệm sự thiếu hụt trầm trọng các nhà đào tạo thường trú trọn thời gian. Các thống kê năm 1997 đã cho thấy rằng tổng số các giáo viên và các nhà đào tạo trọn thời gian và bán thời gian tại sáu đại chủng viện thay đổi trong khoảng sáu mươi đến bảy mươi, bao gồm cả những vị thuộc các dòng tu. Hiện tại, hầu hết các giáo viên ở ngoài chủng viện, hoặc có trách nhiệm mục vụ tại các giáo xứ. Số lượng các nhà đào tạo thường trú trọn thời gian thật quá ít. Đại Chủng Viện Thành Phố Hồ Chí Minh có mười một vị, Huế và Cần Thơ mỗi nơi có bảy vị, Nha Trang có bốn vị, Vinh Thanh và Hà Nội mỗi nơi có ba vị.45
Hậu quả xa hơn của tình trạng thiếu hụt những nhà đào tạo có chất lượng ảnh hưởng tới cả kiến thức và công việc đào tạo thiêng liêng của các chủng sinh; đặc biệt, nhu cầu về mối tương giao và đối thoại giữa các vị thầy và chủng sinh bị xem nhẹ. Nghĩa là các vị thầy không có cả thời gian cũng như nghị lực để lắng nghe, để biết và cảm thông, và để cung cấp những ý kiến khôn ngoan cho các chủng sinh; rốt cuộc các chủng sinh bị tước mất nhu cầu chia sẻ và trình bày những vấn đề thực tế và phức tạp của họ.
2. Giải Pháp Hiện Tại và Hy Vọng ở Tương Lai
Như ngạn nhữ Việt Nam có câu “Lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều hơn”: Các Đại Chủng Viện có nhiều giáo viên hơn gửi giáo viên tới giúp những chủng viện đang có nhu cầu lớn hơn. Chắc chắn vấn đề nhân sự sẽ được giải quyết trong tương lai gần. Khoảng năm mươi linh mục đang học tại Rôma, Paris, Philippines, Hoa Kỳ và những nơi khác. Hy vọng rằng các vị đó sẽ gia nhập đội ngũ giảng dạy ở các chủng viện khác nhau. Mọi thành phần Dân Chúa ở Việt Nam đều tri ân nhiều tổ chức, hiệp hội, đại học và học viện thuộc Hội Thánh Toàn Cầu vì sự nâng đỡ và trợ giúp quảng đại trong công tác sắp xếp nơi ăn chốn ở và tạo điều kiện thuận lợi cho công việc học tập của các nhà đào tạo chất lượng cao trong tương lai. Tác giả cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với Học Viện Đời Sống Thánh Hiến tại Á Châu (Institute for Consecrated Life in Asia) và Ban Giám Đốc, vì sự nâng đỡ đặc biệt đối với mình.

F. Nhìn Tổng Quát về Các Chủng Sinh Việt Nam
1. Mong Chờ Và Hy Vọng Của Gia Đình Chủng Sinh
Người Việt Nam rất sùng đạo và nhiệt thành. Họ hết lòng kính trọng hàng giáo sĩ, các nam nữ tu sĩ, không chỉ trong phạm vị tôn giáo mà cả ngoài xã hội nữa. Ngay cả hôm nay, các quan chức cộng sản cũng nhận định rằng một linh mục là một công dân đặc biệt, vì vị linh mục có hàng ngàn tín hữu sau lưng mình.
Vì thế, chức linh mục trở thành một địa vị và một sự thăng tiến xã hội, không chỉ cho chính vị linh mục, mà còn cho cả gia đình và họ hàng thân thuộc. Vị linh mục sẽ được dân chúng kính trọng và vâng phục, được hưởng một cuộc sống an toàn và dễ dãi, v.v… Một khi người con trai chịu chức linh mục, gia đình của ngài sẽ được hưởng vinh quang và danh dự, nhờ vị linh mục mà gia đình ngài được kính trọng ở mọi nơi. Điều này đang là một thử thách đối với ơn gọi đích thực và sự bất lợi tai hại của lòng kính trọng thái quá này đối với hàng giáo sĩ và các chủng sinh là biến họ thành những kẻ quan liêu và độc đoán.46
Nhiều khi, những mối lợi mang tính cá nhân hay gia đình như thế thúc ép người thanh niên trẻ hướng tới chức linh mục. Một số các bậc cha mẹ vì không thành công trong việc theo đuổi ơn gọi tu trì hay ơn gọi linh mục, nên mong đợi được thấy lý tưởng và hình ảnh của mình được thực hiện nơi con cái. Họ gây áp lực buộc con cái dấn thân vào đời sống tu trì hay đời sống linh mục, dù con cái họ không có ơn gọi đó.
Dĩ nhiên nhiều gia đình Công giáo dâng hiến con trai con gái mình cho Thiên Chúa thông qua Hội Thánh mà không hề thèm muốn danh vọng, và nhiều ứng viên quảng đại đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa.
Là nền tảng của xã hội, là cái nôi của sự sống và là nhà sư phạm đầu tiên, gia đình có thể là một nguồn nước trong lành và cũng có thể là trở lực đối với những ơn gọi đích thực. Do vậy, trách nhiệm của Giáo Hội là biện phân và thanh luyện những động lực ấy, vào thời điểm thu nhận cũng như trong tiến trình đào tạo.
2. Chủng Sinh Ngoại Trú hoặc Không Chính Thức
Vì thiếu tiểu chủng viện, công tác chuẩn bị và chất lượng của ơn gọi linh mục gặp phải nhiều vấn đề. Chú tâm vào vấn đề này, cuộc họp mặt các đại diện chủng viện vào năm 1996 đã đề nghị mở những trung tâm đào tạo tiền chủng viện nhằm chuẩn bị kỹ càng hơn cho các ứng sinh vào đại chủng viện.47 Tiếc thay, cho tới nay, đề nghị này chưa nhận được lời đáp từ phía Chính Quyền.
Một số giáo phận đã tiến hành công việc này một cách không chính thức. Những giáo phận này đã có những nỗ lực đáng khâm phục nhằm đào tạo các ứng sinh tiền chủng viện, những người được gọi là các chủng sinh ngoại trú hoặc không chính thức. Họ thuộc trách nhiệm của một hoặc vài linh mục giáo phận. Những vị này cùng đồng hành với họ. Các chủng sinh như thế sống tại các thành phố nơi có những trường đại học, nhờ thế họ có thể theo học, ví dụ như các giáo phận Kontum, Hưng Hoá.48 Những nỗ lực này đã mang lại những kết quả khả quan cho tiến trình đào tạo. Mọi nhà đào tạo đều nhận thấy rằng các chủng sinh này trưởng thành hơn về phương diện cá nhân cũng như cộng đoàn.
3. Đòi Hỏi Của Giáo Hội Và Khó Khăn Của Ứng Sinh
Các giáo phận có một số tiêu chuẩn đối với các ứng sinh chủng viện. Họ phải tốt nghiệp trung học, đã tham gia vào nhóm tu sinh giáo phận, và ghi danh vào danh sách chờ đợi lâu dài. Các giáo phận cũng yêu cầu các ứng sinh trải qua thời gian vài năm đào tạo tiền chủng viện tại giáo phận trước khi vào đại chủng viện. Các bạn trẻ này cũng phải tốt nghiệp đại học, có bằng cấp. Đòi hỏi này gây ra một số thử thách cam go cho các ứng sinh và gia đình ứng sinh. Nhiều người trong số họ xuất thân từ các giáo xứ nông thôn, nhưng lại phải sống ở thành phố đề có bằng đại học. Phần đông các ứng sinh sống trong các căn phòng đông người tại thành phố. Số khác sống với các gia đình Công giáo hoặc không Công giáo tại đô thị.
Tất cả những nhân tố này gây ra những khó khăn về tài chính cho nhiều ứng sinh xuất thân từ các gia đình nghèo. Nhiều gia đình nông thôn phải bán đi bất cứ sản phẩm nào có thể nhằm duy trì ơn gọi của con trai mình.49 Nhiều ứng sinh phải tự mình đảm đương gánh nặng tài chính bằng cách đi dạy kèm, hoặc tìm kiếm người bảo trợ. Lối sống và việc có ân nhân riêng này thường gây nên những vấn đề tế nhị và hậu quả bất lợi.50
Số phận của họ cũng không chắc chắn do sự hạn chế của chính quyền đối với việc tuyển sinh vào chủng viện. Nhiều người trong số họ chờ đợi với niềm hy vọng và lòng kiên trì để vào đại chủng viện một cách chính thức; nhiều người không thể chờ đợi lâu hơn nên lập gia đình. Ngày nay, nhiệm vụ chuẩn bị cho các chủng sinh tiến tới chức linh mục ở Việt Nam quả là không dễ dàng gì!
4. Vấn Đề Tuyển Sinh Và Thủ Tục Vào Chủng Viện
a. Số Chủng Sinh Bị Hạn Chế
Thật đáng mừng là con số các bạn trẻ khao khát trở thành linh mục vẫn không ngừng gia tăng. Một con số lớn các tu sinh hy vọng có tên trong danh sách chờ đợi để rồi được Đức Giám Mục giáo phận lựa chọn. Nhưng sau cùng chỉ một nhúm nhỏ được chọn lựa vào chủng viện, vì mỗi giáo phận chỉ được chấp nhận mười ứng sinh, con số này do Chính Quyền cho phép.
b. Chất Lượng Thấp về Trình Độ Trí Thức
Một vấn đề nữa là chất lượng của các dự tu. Ở Việt Nam có rất nhiều ơn gọi hướng tới đời sống linh mục và tu trì, đó là một dấu chỉ hứa hẹn đối với việc canh tân sứ mạng của Hội Thánh. Nhưng ngày nay cũng có ít ơn gọi nơi những thành phố giàu có; phần đông các dự tu xuất thân từ những vùng nông thôn. Nhiều người trẻ ở nông thôn không thể thường xuyên đến trường do hoàn cảnh nghèo khổ hoặc họ phải lao động để giúp đỡ gia đình. Họ có thể học bổ túc để đạt được bằng cấp tương đương, nhưng chất lượng của việc học hành như thế thường là thấp. Điều đó làm cho họ mất cơ hội vào đại học để có bằng đại học như Giáo Hội địa phương đòi hỏi.
c. Vấn Đề Mối Liên Hệ và Đời Sống Độc Thân
Các ứng sinh buộc phải có một nền tảng gia đình tốt đẹp, một sức khoẻ tốt và khả năng sống đời độc thân, khi sống với hoặc sống gần cha xứ, cha xứ biết rõ về họ nhằm giúp họ đạt được một sự trưởng thành nhất định trong đời sống thiêng liêng.51 Điều này thật dễ dàng nơi chính giáo xứ của đương sự, nhưng lại khó khăn và không hiệu quả nơi các thành phố đông người, nơi mà ngoài các bức tường nhà mình không ai biết ai. Tình trạng này đặt ra nhiều vấn đề và nhiều biến động cho các ứng sinh khi họ hoàn tất chương trình đại học. Tình trạng khó kiểm soát này tạo nên nhiều đấu tranh và nhiều vấn đề cho các công dân trẻ mới tới đô thị, đặc biệt là trong mối liên hệ với người khác phái.
Ngạn ngữ Việt Nam có câu “Lửa gần rơm lâu ngày sẽ cháy.” Không ai đi trách lửa hay rơm về chuyện chúng đốt cháy hay bị đốt cháy, đúng hơn phải trách kẻ đặt rơm gần lửa. Nhiều trường hợp cần một sự biện phân chặt chẽ về lương tâm. Đối với một số ứng sinh, để tiến bước trong con đường ơn gọi cần phải có lòng can đảm, nhưng dừng lại và thay đổi hướng đi trong cuộc sống còn đòi hỏi can đảm nhiều hơn. “Buộc phải có một sự lưu tâm đặc biệt trong việc biện phân ơn gọi của những trường hợp này.”52
Tuy nhiên, may thay, cuộc sống giữa muôn màu phức tạp của xã hội trần thế cũng khiến cho các ứng sinh khác lớn lên trong việc xác định ơn gọi của mình, cả về đời sống nhân bản lẫn tình cảm.
d. Khiếm Khuyết Mang Tính Xã Hội: Gian Lận và Thiếu Lương Thiện
Một khiếm khuyết, một hiện tượng tiêu cực đang phổ biến trong các trường học là tính gian lận và thiếu lương thiện trong thi cử, thậm chí còn có cả chuyện mua bán bằng giả. Dưới sức ép này, nhiều sinh viên phải vật lộn với chuyện học hành và nhiều sinh viên tốt nghiệp phải đối mặt với nạn thất nghiệp.
Bên cạnh hạn chế do chính quyền áp đặt, các ứng sinh tốt nghiệp đại học trong một danh sách dài của những người chờ đợi còn phải qua một kỳ thi viết để được Giáo Hội lựa chọn. Khát vọng này đưa đẩy một số ứng sinh vào con đường phạm lỗi (gian lận và thiếu lương thiện) bằng việc dùng những tài liệu tham khảo bị cấm khi viết bài thi vào chủng viện. Lương thiện là một đức tính quan trọng nhất đối với một linh mục và ta không thể dung thứ một thói xấu như thế nơi các ứng sinh, những người trong tương lai sẽ là những nhà lãnh đạo tôn giáo. Do vậy, vị phụ trách ơn gọi của giáo phận loại bỏ một số ứng sinh ra khỏi danh sách những ứng sinh đã vượt qua kỳ thi để trình lên chính quyền chấp thuận, mặc dù con số chủng sinh bị chính quyền hạn chế và tình trạng thiếu hụt linh mục trầm trọng.53 Đây là một giải pháp hay. Nhưng còn bao nhiêu ứng sinh đã phạm những lỗi lầm tương tự mà không bị bắt quả tang?
e. Thương Lượng Tế Nhị
Một vấn đề khác nảy sinh từ việc chính quyền đòi hỏi các ứng sinh phải được họ đánh giá là chấp nhận được. Sự chấp nhận của chính quyền tuỳ thuộc vào lý lịch cá nhân và quan điểm chính trị của ứng viên. Có những điều kiện tế nhị nào như là lý do dẫn đến việc từ chối hay chấp thuận không? Các vị có thẩm quyền trong Giáo Hội đã làm gì để bảo vệ các ứng sinh của mình bằng mọi giá? Phải làm gì đối với những ứng sinh được Giáo Hội đánh giá là phù hợp, nhưng lại bị Nhà Nước từ chối không chấp thuận? Liệu Giáo Hội có thể tìm cách “xuất khẩu” họ tới những nước Công giáo đang cần ơn gọi, như kiểu Chính Quyền xuất khẩu lao động hay không?
f. Chủng Sinh Tốt Nghiệp Và Chức Linh Mục
Các Giám Mục phải có giấy phép của Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh mới được truyền chức cho các chủng sinh đã tốt nghiệp. Trước khi được chấp thuận, mỗi ứng viên lại bị thẩm tra lại. Đòi hỏi hiện nay là Giám Mục phải đệ trình Chính quyền một danh sách những người ngài muốn truyền chức linh mục. Một vài ứng viên trong số này không nhận được giấp phép cần thiết; một số khác phải chờ đợi lâu dài.
Vì thế, các đại diện chủng viện yêu cầu các phái đoàn chính quyền “xoá bỏ việc thẩm tra lý lịch những người đã tốt nghiệp chủng viện để xác định tính thích hợp của họ đối với việc truyền chức linh mục.”54 Hy vọng rằng Pháp Lệnh mới về Tôn Giáo,55 có hiệu lực từ 15-11-2004, hứa hẹn sẽ làm cho vấn đề này trở nên dễ dàng hơn. Hãy chờ xem.


G. Tình Trạng Hiện Nay của Các Linh Mục Việt Nam
1. Cái Nhìn Tổng Quát
Các linh mục ở Việt Nam hôm nay hoà điệu hơn với cuộc sống và những vật lộn của người bình thường, nhưng họ phải giữ khoảng cách với những lôi cuốn của thế gian, ngay cả khi cố gắng hiện diện giữa trần gian. Theo Đức Cha Gioan Bùi Tuần, họ có thể đối diện nhiều hơn với cô đơn, stress, cám dỗ, áp lực và phê bình. Có thể họ còn phải đương đầu với sự gia tăng những vui thú thế tục, những thứ có thể phương hại tới đời sống nội tâm và đời sống tôn giáo của họ. Nền kinh tế phát triển theo định hướng thị trường và nền văn hoá tiêu thụ cũng đang ảnh hưởng tới đời sống linh mục. Người giáo dân có học, cách riêng là người trẻ, không còn kính trọng linh mục như trước đây. Điều này phần lớn là do lối sống của một số linh mục với kiểu cư xử hách dịch và tìm kiếm quyền lực.56
2. Những Khía Cạnh Tích Cực
Theo Đức Cha Phaolô Tịnh Nguyễn Bình Tĩnh, một đàng, họ ý thức rõ hơn về những giá trị dân chủ và những quyền lợi công dân. Họ có cảm thức mạnh mẽ về tình huynh đệ và liên đới với mọi người, dù cho khoảng cách giữa ý thức và đời sống hằng ngày vẫn còn đó. Dù sao, họ cũng sống gần gũi với quần chúng hơn lớp linh mục đàn anh. Hiện nay họ sống và phục vụ trong một môi trường có nhiều quyến rũ và cám dỗ hơn trước đây. Đồng thời, mọi người mong đợi họ cố gắng hết sức để góp phần thánh hoá thế giới, và làm cho thế gian tốt đẹp hơn, nhân bản hơn, một thế giới nơi con người đối xử tốt hơn và tôn trọng lẫn nhau vì lẽ công bằng.
Đàng khác, họ ý thức rõ hơn rằng loan báo Tin Mừng không còn là trách nhiệm của riêng họ, vì thế họ phải được huấn luyện để làm việc cùng giáo dân và các linh mục khác. Họ cần học lắng nghe người khác, chia sẻ trách nhiệm với người khác, và hành động như những nhà lãnh đạo với tinh thần phục vụ được Tin Mừng hướng dẫn. Họ cần tránh làm thay nhiệm vụ người khác hay áp đặt ý mình trên người khác. Họ cần phải học cách đối thoại với Giám Mục của mình, không phải là miễn cưỡng như trước đây. Họ cũng phải học đối thoại với con người thuộc mọi lĩnh vực cuộc sống: không Kitô giáo, các tôn giáo khác, ngay cả những người thù ghét tôn giáo.57
3. Những Khía Cạnh Tiêu Cực
Nhưng có một số hiểm nguy đe doạ cuộc sống của các linh mục ở Việt Nam hôm nay. Đề cập tới những vết đen nghĩa là nhằm làm cho các linh mục và những ai đang tiến tới chức linh mục ý thức rõ hơn những hiểm nguy này.
Một vết đen là cơn khát quyền lực. Điều này được biểu hiện trong thái độ độc đoán trong những tác vụ mục vụ và những việc làm đầy tham vọng. Khi tìm kiếm quyền bính, một linh mục có thể dựa trên một nền tảng quyền lực nào đó. Tuy nhiên, sau khi đã đạt được quyền lực đó, ngài lại sợ rằng quyền bính của ngài sẽ bị chia sẻ hay giảm bớt, vì thế ngài chiếm độc quyền công việc và từ chối chia sẻ trách nhiệm với bất cứ ai khác.
Một vết đen khác có thể là xu hướng tìm kiếm đời sống tiện nghi, dễ dãi và giàu sang cách thái quá. Sự thật là ngày nay một số linh mục không thể chịu đựng được cuộc sống thiếu tiện nghi vật chất, vì thế các ngài kiếm tiền và tích luỹ cho tương lai. Dĩ nhiên, chúng ta không vui gì khi một linh mục phải chịu đựng những điều kiện sống quá nghèo khổ, thậm chí không thể thoả mãn những nhu cầu thiết yếu. Nhưng các linh mục không được phép quên rằng chức linh mục không bao giờ được xem như là một nấc thang tiến thân.58 Hầu hết hàng giáo sĩ xuất thân từ những gia đình khiêm tốn trong xã hội. Lòng tham và keo kiệt sẽ làm khô cứng trái tim linh mục trước ân sủng của Thiên Chúa và nỗi khốn cùng của người khác.
Hơn nữa, hàng giáo sĩ ngày nay đang mở ra với xã hội và dấn thân vào xã hội, vì thế họ có nhiều cơ hội cùng làm việc với phụ nữ. Xu hướng tìm kiếm cuộc sống dễ dãi và tiện nghi có thể dẫn đến việc lo tìm sự thoải mái và lạc thú, đặc biệt khi họ vẫn còn mang một quan niệm kém phát triển về những đòi hỏi của đời sống độc thân. Một số linh mục xem chuyện quan hệ với phụ nữ là chuyện bình thường; những hình ảnh khoả thân và tài liệu khiêu dâm không còn là khu vực cấm kỵ nữa. Đến nay người ta còn tin tưởng các linh mục vì chức thánh và bản chất các ngài như là những con người đức hạnh và những con cái mẫu mực của Thiên Chúa. Trong những trường hợp mà các linh mục phạm lỗi trầm trọng, người tín hữu đến với các ngài vì bó buộc, chứ không phải vì họ tin các linh mục đó. Các linh mục đó chỉ được xem như là những “công chức” phân phát các ân huệ bí tích của Thiên Chúa.
Nhờ ơn Chúa, hầu hết các linh mục Việt Nam vẫn sống theo tinh thần của đời sống độc thân.59 Những vấn đề chỉ trích phê bình hiện tại mà các linh mục phải đối mặt thẳng thắn sẽ thử thách sự trưởng thành thiêng liêng, lòng khiêm tốn, đức thanh bần và vâng phục của các linh mục hiện tại và tương lai.
4. Viễn Ảnh Đào Tạo Chủng Sinh
Bằng lòng tin tưởng vào ơn Chúa, ta mang trong tâm tưởng mình tầm nhìn mang tính đào tạo đối với các chủng sinh. Vì tất cả những lý do trên đây, các chủng viện phải đào tạo nơi các ứng sinh cả các đức tính tự nhiên và thiêng liêng. Một cách cụ thể, công cuộc đào tạo phải giúp họ phát triển một cá tính mạnh mẽ, và trở nên những con cái nhiệt tình của Thiên Chúa, những người sống đúng theo những giáo huấn của Chúa Giêsu.
Về mặt nhân bản, các ứng sinh có thể đưa ra những phán đoán lành mạnh, có thể lắng nghe và đối thoại với mọi người, và có ý chí mạnh mẽ. Họ cũng có thể hướng dẫn mọi người trong tinh thầnh phục vụ mọi người, tôn trọng mọi người, và mở ra với mọi giá trị tốt đẹp (bất kể nguồn gốc).
Về đời sống thiêng liêng, họ cần phải ngoan ngoãn đối với Thiên Chúa qua cầu nguyện, và cần sẵn sàng thi hành ý Chúa trong mọi biến cố lớn nhỏ của đời sống tôn giáo, của xã hội và của thời đại. Họ cần cư xử nhẹ nhàng và kỷ luật, chăm chỉ và vui vẻ. Đặc biệt, họ cần có mối liên hệ mật thiết với Chúa Giêsu mọi nơi mọi lúc. Không hề có ảo tưởng, họ cậy dựa vào lòng nhân từ và ân sủng của Thiên Chúa, hoàn toàn lệ thuộc vào sức mạnh của Chúa Thánh Thần.
Ghi Chú
35 HĐGMVN, Thư Mục Vụ 2001, số 2.
36 Ruben M. Tanseco, “Affectivity, Sexuality, and Intimacy in Religious and Priestly Formation,” in For Faith and Service: Towards the Integral Formation of Filipino Priests and Religious. (Philippines, 1973-1982), tr. 60-75.
37“Vietnam Church Trains Priests Despite State-imposed Limitations” (Ho Chi Minh City, July 16, 1992), Ucanews.com/ archives, truy cập ngày 29-9-2004.
38 “Vietnam Church Trains Priests Despite State-imposed Limitations” (Ho Chi Minh City, July 16, 1992), Ucanews.com/ archives, truy cập ngày 29-9-2004.
39 “Major Seminaries Discuss Lack of Priests, Seminaries, Formators” (Ho Chi Minh City, August 19, 1996), Ucanews.com/ archives, truy cập ngày 25-12-2004.
40 “Formators Call for Better Spiritual Formation of Seminarians” (Nha Trang, August 8, 2000), Ucanews.com/archives, truy cập ngày 25-1-2005.
41 “Honesty in Seminary Admission Exams despite Government Restriction on Number” (Ho Chi Minh City, July 10, 2001), Ucanews.com/archives, truy cập ngày 25-12-2004.
42 “Deficient Spiritual Formation among Seminarians Tackled at Formators’ Meeting” (Can Tho, July 31, 2001), Ucanews.com/archives, truy cập ngày 25-12-2004.
43 “Deficient Spiritual Formation among Seminarians Tackled at Formators’ Meeting” (Can Tho, July 31, 2001), Ucanews.com/archives, truy cập ngày 25-12-2004.
44 “Seminary Leaders Call for More Seminaries, Annual Recruitment” (Hue, August 22, 1997), Ucanews.com/archives, truy cập ngày 3-11-2004.
45 “Seminaries Face New Challenges 10 Years after Reopening” (Hanoi, September 5, 1997), Ucanews.com/archives, truy cập ngày-7-2004.
46 “Seminary Leaders Stress Human Formation in Annual Meeting” (Hue, July 19, 1999), Ucanews.com/archives, truy cập ngày 3-11-2004.
47 “Major Seminaries Discuss Lack of Priests, Seminaries, Formators”…, ibid.
48 “Seminary Candidates Pursue Higher Studies despite Financial Difficulties” (Ha Noi, January 12, 1999), Ucanews.com/archives, truy cập ngày 29-9- 2004.
49 “Seminary Candidates Pursue Higher Studies despite Financial Difficulties” …, ibid.
50 Catholic Bishops’ Conference of the Philippines (CBCP), The Philippine Program of Priestly Formation 1972, (Manila: The Philippine program Committee Commission on Seminaries CBCP, 1972), tr. 27.
51 “Priestly Aspirants Aplenty, only a Handful Selected” (Son Tay, May 7, 1997), canews.com/archives, truy cập ngày 29-9-2004.
52 “Today’s Seminarians Need Missionary, Real Life Formation,” (Bangkok, November 11, 2003), Ucanews.com/archives, truy cập ngày 25-12-2004.
53 “Honesty in Seminary Admission Exams despite Government Restriction on Number”…, ibid.
54 “Deficient Spiritual Formation among Seminarians Tackled at Formators’ Meeting”…, ibid.
55 Socialist Republic of Vietnam, “Pháp Lệnh Tôn Gíao” (Regulation on Religions), Lephai.com/uni/n2004/tl20041029a.html, truy cập ngày 25-1-2005.
56 “Senior Catholic Church Leader sees challenges for Clergy” (Ho Chi Minh City, March 7, 2005), Ucanews.com/archives, truy cập ngày 29-7-2005.
57 “Vietnam Clergy Face New Temptations from Society” (Danang, October 25, 2002) Ucanews.com/archives, truy cập ngày 3-11-2004.
58 “Priesthood is not a Career or a Profession but a Vocation” (Vatican City, October 9, 2003), Zenit.org/english, truy cập ngày 25-12-2004.
59 “Vietnam Clergy Face New Temptations from Society”…, ibid.







CHƯƠNG III
VIỆC ĐÀO TẠO THIÊNG LIÊNG HIỆN NAY
Ở CÁC CHỦNG VIỆN VIỆT NAM

A. Chương Trình Tiêu Chuẩn Đào Tạo Thiêng Liêng
Ngày nay việc chủng sinh lo thực hành thiêng liêng trong đời sống hằng ngày được nhìn nhận là chìa khoá dẫn đến thành công trong mọi chương trình đào tạo. Đời sống thiêng liêng là đời sống nhân bản được sống trong Chúa Thánh Thần. Đó là lời đáp trả với lời mời gọi của Thiên Chúa trong một hoàn cảnh cụ thể. Nhìn chung, việc đào tạo thiêng liêng tại sáu Đại Chủng Viện Việt Nam gồm ba phần chính:
1. Lý Thuyết
Phần lý thuyết trong công cuộc đào tạo được chia thành triết học và thần học. Chương trình triết học kéo dài hai năm. Ngoài triết học, chủng sinh được dẫn nhập vào đời sống cầu nguyện, suy niệm và linh đạo cộng đoàn, với những môn học về thiêng liêng, lịch sử cứu độ, đời sống ơn gọi.60 Mục đích của chương trình này là hướng dẫn và động viên chủng sinh lớn lên trong mối tương quan cá nhân với Thiên Chúa, và sống đời sống thường ngày với sự hiện diện của Thần Khí Chúa Kitô.
Chương trình thần học kéo dài bốn năm. Năm đầu tiên chú trọng vào lịch sử Linh Đạo trong Hội Thánh. Năm thứ hai và thứ ba đặt trọng tâm vào Thần Học Thiêng Liêng. Năm thứ tư chú tâm đến chỉ nam về đời sống linh mục. Bốn năm học này có một số mục tiêu. Chúng nhằm giúp chủng sinh lớn lên và trưởng thành trong đời sống thiêng liêng. Nghĩa là chủng sinh phải mở ra để trải nghiệm Thiên Chúa đang sống. Đồng thời chủng sinh cũng được khích lệ trở nên thoải mái hơn khi chia sẻ kinh nghiệm thiêng liêng với những người khác qua lời nói và hành động, trong đời sống hằng ngày và tác vụ linh mục của mình.
2. Thực Hành Thiêng Liêng
Phần thực hành trong chương trình đào tạo về cơ bản là đem ra thực hành những điều mà chủng sinh đã học về mặt lý thuyết. Nghĩa là chủng sinh được hướng dẫn và trợ giúp để hoà nhập đời sống thiêng liêng vào đời sống hằng ngày. Điều này bao gồm một số cách thực hành khác nhau. Chủng sinh được hướng dẫn khám phá Chúa Giêsu trong các Tin Mừng bằng việc cố gắng sống và chia sẻ đời sống của Chúa Giêsu bằng những phương pháp suy niệm. Chủng sinh cũng được hướng dẫn tập lớn lên về đời sống thánh thiện bằng cách đem ra sống ba nhân đức đối thần tin, cậy, mến; đồng thời thực tập bốn nhân đức luân lý là khôn ngoan, công bình, tiết độ, và can đảm.
3. Sự Nâng Đỡ Cần Thiết
Phần thứ ba của tiến trình đào tạo thiêng liêng có thể được gọi tên là sự nâng đỡ của cộng đoàn. Tiến trình này được đặt dưới sự hướng dẫn trực tiếp và được củng cố bằng ba cách thực hành. Cha giám đốc chủng viện có những buổi huấn dụ thiêng liêng thường kỳ và bất thường. Chủng sinh cũng được linh hướng riêng tư. Cuối cùng, cũng sẽ có chia sẻ và trợ giúp theo nhóm, theo những cách luyện tập khác nhau, dưới sự hướng dẫn của một nhà đào tạo.

B. Việc Tự Đánh Giá của Các Chủng Sinh
Trong suốt thời kỳ huấn luyện ở chủng viện, các chủng sinh được khích lệ tự suy nghĩ về chính bản thân mình, dựa trên một bảng câu hỏi61 xuất phát từ những chất liệu khám phá được từ khung cảnh những khoá linh hướng.
Bảng câu hỏi này liên quan đến:
* Những điều kiện bên ngoài (môi trường xã hội, gia đình, những mối liên hệ với các linh mục quen biết, với người khác giới);
* Những điều kiện tự nhiên (sức khoẻ, tính tình, trí thông minh, các tài năng và khả năng);
* và những điều kiện thiêng liêng (tinh thần xả kỷ, tinh thần trách nhiệm, tinh thần thiêng liêng, tinh thần đức tin, tinh thần cộng tác, tinh thần vâng phục, tinh thần nghèo khó, tinh thần thanh khiết, tinh thần phụng vụ, tinh thần mục vụ và tinh thần lao động chân tay).
Bảng câu hỏi nhằm giúp các chủng sinh biện phân ơn gọi của mình và đưa ra một quyết định trưởng thành cho cuộc đời mình với sự tự do nội tâm hoàn toàn. Để những nỗ lực này được dễ dàng hơn, họ được khuyến khích xây dựng một hình ảnh linh mục lý tưởng62 mà lòng họ ước ao, dựa trên nguyên mẫu là Chúa Giêsu Kitô, Linh Mục Tối Cao Vĩnh Cửu.
Việc tự đánh giá nghiêm túc có thể dẫn chủng sinh tới một trong hai kết luận:
* Hoặc là Chúa muốn thầy theo con đường khác. Thầy đã được trang bị các đức tính và những khả năng cần thiết để sống đời sống Kitô hữu một cách trọn vẹn với tư cách là một giáo dân. Vậy tinh thần trách nhiệm sẽ khích lệ thầy thay đổi ơn gọi.
* Hoặc là Thiên Chúa chọn thầy làm linh mục. Mặc dù thầy tự kiểm mình một cách nghiêm túc, thầy vẫn không thể tuyệt đối chắc chắn về ơn gọi của mình. Sự chấp thuận của Giám Mục và các vị đại diện của ngài sẽ hoàn tất chọn lựa này và làm cho thầy an tâm.

C. Việc Áp Dụng Chương Trình Này Trên Thực Tế
Đào tạo thiêng liêng là nền tảng quan trọng nhất trong việc đào tạo linh mục. Nhưng nói chung, những người trẻ hôm nay vào chủng viện chưa được chuẩn bị kỹ càng cho một đời sống Kitô hữu trưởng thành; họ còn thiếu nền tảng giáo lý và một đời sống cầu nguyện nội tâm nghiêm túc.63
Mọi nhà đào tạo ở chủng viện đều đồng ý rằng công việc đào tạo thiêng liêng cần được làm nổi bật ngay từ thời kỳ tiền chủng viện tại các giáo xứ. Nền tảng giáo lý ở giáo xứ và các chương trình đào tạo nhân bản phải làm sao để các ứng sinh chủng viện biết cách cầu nguyện và tự làm quen với các việc phụng vụ và đời sống cộng đoàn. Vì không còn tiểu chủng viện, công việc đào tạo cơ bản phải bắt đầu trước hết từ gia đình, đặc biệt là các bậc cha mẹ. Các cộng đoàn Kitô hữu và các cha xứ có thể giúp các ứng sinh biện phân các động lực chân thực đối với ước muốn trở thành linh mục của các ứng sinh, và thực hành từng bước một lối sống đó.64 Càng sống như là chủng sinh, ứng sinh càng trở nên chủng sinh thực thụ hơn, và càng sống như là linh mục, ứng sinh càng trở nên linh mục thực thụ hơn.
Trong tất cả các chủng viện, sinh viên được tổ chức theo các nhóm để họ có thể hợp tác với các nhà đào tạo cách tốt hơn trong hành trình thiêng liêng. Nhiệm vụ to lớn của hoạt động này là áp dụng những nhận thức sâu sắc lãnh hội được nhờ việc linh hướng vào cuộc sống của họ. Họ họp nhau hằng tuần để trợ giúp nhau trong những hoạt động đa dạng của việc điều hành đời sống chủng viện, và vượt thắnng những khó khăn cá nhân trong đời sống hằng ngày. Các nhà đào tạo cũng nỗ lực cung cấp một nền tảng giáo dục chắc chắn hơn, một khi họ được vào học năm thứ nhất.

D. Trở Lực Trong Tiến Trình Phát Triển Thiêng Liêng
Nhưng trên thực tế, thời gian được dành cho việc đào tạo thiêng liêng và những nỗ lực đối với công việc này là chưa đủ để các chủng sinh trưởng thành về mặt thiêng liêng. Giáo Hội địa phương đang thiếu thốn nhân sự và những nguồn trợ lực cần thiết để chu toàn việc đào tạo thiêng liêng trong chương trình sáu năm đào tạo linh mục.
Chuyện thiếu các nhà đào tạo vẫn còn là một vấn đề tồn đọng và có ảnh hưởng tiêu cực đối với việc đào tạo thiêng liêng. Một chủng viện không có vị linh hướng thường trú (ví dụ như Hà Nội) phải mời các linh mục ở nơi khác nhận trọng trách này, nhưng mỗi lần các linh mục đó chỉ ở lại vài tháng rồi lại phải ra đi.65 Ta không thể tạo ra được một môi trường đào tạo thuận lợi cho các chủng sinh, và xây dựng lòng tín nhiệm cần thiết để họ có thể ký thác những vấn đề thực tế liên quan đến ơn gọi của họ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi như thế. Hơn nữa, nhiều vị linh hướng hiện nay không được chuẩn bị thích hợp, và vẫn còn tồn tại một quan niệm sai lầm là bất cứ linh mục nào cũng có thể làm linh hướng.
Ta có thể nhận diện những ảnh hưởng bất lợi của một xã hội duy vật và duy tiêu thụ, của việc giáo dục thiêng liêng và nhân bản khiếm khuyết trong thời gian tiền chủng viện, như là những trở lực ngăn cản các ứng sinh tiến tới chức linh mục lớn lên cách thích đáng về mặt thiêng liêng. Ngoài ra, các nhà đào tạo cũng đau đớn nhận thấy rằng do bị tiêm nhiễm bởi tệ nạn gian lận và thiếu lương thiện của xã hội, một số chủng sinh đôi khi vẫn trả lời không thành thực.66 Các thói quen xấu khác có thể thúc đẩy một số ứng sinh che giấu động lực thật sự của mình. Một số nhà đào tạo nói rằng họ sử dụng một số trắc nghiệm như là cơ sở để giúp các ứng sinh biết mình rõ hơn và phát triển hoặc thay đổi thái độ và cách ứng xử.
Các linh mục thường trú có trách nhiệm đối với việc đào tạo thiêng liêng của các chủng sinh, và các linh mục dòng được mời hướng dẫn các kỳ tĩnh tâm thường niên hay các khoá phân định ơn gọi để đảm bảo một sự đánh giá khách quan về mức độ trưởng thành của các chủng sinh. Công việc đào tạo thiêng liêng không đầy đủ và ảnh hưởng của não trạng duy tiêu thụ trên các ứng sinh tiến tới chức linh mục ở Việt Nam hiện nay cho thấy rõ nhu cầu cần xem lại công tác đào tạo thiêng liêng, và nhu cầu cần nhiều vị linh hướng thành thạo (kỹ năng và giàu kinh nghiệm) và được đào tạo chu đáo.
Tuy nhiên, các nhà đào tạo cũng đồng ý với nhau rằng kết quả của việc huấn luyện mặt thiêng liêng là các ứng sinh chứng tỏ những thay đổi tích cực trong một thời gian ngắn ở chủng viện. Các chương trình đào tạo linh mục tại các chủng viện Việt Nam gồm có một hoặc hai năm làm việc mục vụ ở giáo xứ. Việc phục vụ này vẫn còn xen kẽ trong suốt sáu kỳ nghỉ hè, tuỳ theo đòi hỏi của chủng viện và giáo phận.
Vẫn còn đó nhiều vấn đề và khó khăn, nhưng Hội Thánh tại Việt Nam vẫn hy vọng ở một tương lai tốt đẹp hơn, dưới sự hướng dẫn quyền năng của Chúa Thánh Thần, Ngài là vị linh hướng đích thực. Niềm hy vọng này một phần dựa trên sự giúp đỡ quảng đại của các Giáo Hội anh em, những Giáo Hội vẫn đang giúp Giáo Hội Việt Nam đào tạo những nhà đào tạo chủng viện tương lai tại Paris, Rôma và Philíppin.67

E. Việc Lượng Định Hằng Năm
Nhằm lượng định về các chủng sinh, mỗi năm học, các nhà đào tạo họp hội đồng ít nhất là hai lần, một lần sau đầu năm học mới và lần thứ hai trước kỳ nghỉ hè (dĩ nhiên là các chủng sinh không tham dự). Trong cuộc họp thứ nhất, vị giám đốc cho hội đồng biết mức tiến triển của mỗi chủng sinh bằng cách đọc thư của các cha xứ về thông tin cũng như việc xem xét và gợi ý của các ngài liên quan đến chủng sinh trong kỳ nghỉ hè. Hội đồng cũng xem xét và nhớ lại đánh giá mới nhất của mình. Đồng thời, các ngài thảo luận về chương trình cho năm học mới.
Cuộc họp hội đồng thứ hai diễn ra trước khi đi nghỉ hè. Hội đồng đánh giá về các chủng sinh trong năm học qua, đặc biệt là các chủng sinh sẽ mãn khoá chủng viện và sẵn sàng chuẩn bị chịu chức. Vị giám đốc báo cáo kết quả cho Giám Mục của các ứng viên. Ngài cũng gửi một bức thư cho từng cha xứ để xin các ngài hợp tác trong tiến trình đào tạo chủng sinh trong kỳ nghỉ hè.
Mỗi chủng sinh được đánh giá theo năm lãnh vực: thiêng liêng, tri thức, tính tình, kỷ luật và khả năng ơn gọi. Vị giám đốc chủ toạ cuộc họp sẽ nêu tên lần lượt từng chủng sinh. Ngài báo cáo sự đánh giá mới nhất. Sau đó, mỗi thành viên hội đồng lần lượt nói lên những nhận xét của mình về năm lãnh vực nêu trên, so sánh với quá khứ xem chủng sinh này có tiến bộ hay không. Vị giám đốc và thư ký hội đồng ghi chép mọi điều các thành viên hội đồng phát biểu.
Khi đến lượt các chủng sinh do mình hướng dẫn, vị linh hướng sẽ giữ im lặng, nhằm bảo vệ nguyên tắc tín cẩn: Các vị linh hướng không tham dự vào việc lượng định những chủng sinh mà ngài hướng dẫn, vì việc linh hướng diễn ra ở toà trong và mối tương quan này là mối tương quan tín nhiệm và cẩn mật.
Thông qua việc huấn đức của vị giám đốc và người phụ trách môn tu đức, chủng sinh được khuyến khích hoàn thành một bản xét lại bản thân, nhằm kiểm tra lại sức mạnh và các mặt tiến triển để hoạch định cho tương lai.
Các chủng sinh cũng phải được biết về những lầm lỗi của mình, đặc biệt là những lầm lỗi quan trọng. Chủng sinh cũng được phép giải thích và biện hộ lý do của mình (Cv 25,16). Chủng sinh cũng cần có thời gian và cơ hội để thực hiện sự hoán cải cần thiết. Đây là mệnh lệnh của Tin Mừng đối với việc tha thứ và biến đổi. Điều mà tổ tiên người Việt Nam quan tâm là “làm người, không ai thoát khỏi lầm lỗi; có lầm lỗi thì phải sửa mình; và khi đã sửa rồi thì không còn lầm lỗi nữa.” Tin Mừng chứng tỏ nhiều tội nhân trở thành thánh nhân nhờ sự trợ giúp quyền năng của ân sủng Thiên Chúa (Ga 8,7). Đây là tình yêu thương xót của Chúa (Mt9,12-13). Trên thực tế, những người đã hoán cải mà có lòng khiêm tốn còn tốt hơn những ai không hề có lỗi lầm nào đáng kể, mà mắc phải chứng kiêu hãnh và tự phụ.
Mọi nhà đào tạo đều cố gắng biết rõ từng chủng sinh một, nhằm giúp họ trong những nỗ lực tự đào tạo, và góp phần vào đường hướng đào tạo chung của chủng viện. Vì thế, sự thống nhất trong đội ngũ đào tạo chủng viện là cần thiết.68 Nhưng chỉ có vị giám đốc mới cho chủng sinh và Giám Mục liên hệ biết thông tin về chính chủng sinh ấy. Vị giám đốc là đại diện duy nhất của hội đồng chủng viện đối với bên ngoài. Hội đồng chủng viện sẽ không chỉ báo cáo với Giám Mục liên hệ về cách cư xử bên ngoài của từng ứng viên (điều thầy nói và việc thầy làm, và thầy đã đáp ứng được những đòi hỏi như thế nào), nhưng cũng lượng định về thầy như là ứng viên đối với lời mời gọi tiến tới Bí Tích Truyền Chức Thánh.
Mọi nỗ lực và sự quan tâm đặc biệt đối với việc đào tạo ở chủng viện là nhằm cung cấp cho các chủng sinh những phương tiện để biện phân ơn gọi của mình, để họ thu thập được kiến thức, thái độ và những kỹ năng cần thiết cho một linh mục tốt, trong niềm tin tưởng rằng Thiên Chúa sẽ hoàn tất công việc quan trọng này của Hội Thánh bằng những ơn huệ của Chúa Thánh Thần

F. Nhu Cầu Phải Tiến Bộ Liên Tục
Là một tiến trình tiệm tiến, việc đào tạo thiêng liêng và sự lớn mạnh thiêng liêng cũng cần một sự tiến bộ liên tục. Nghĩa là, ta cần một sự lượng định liên tiếp, qua đó chủng sinh sẽ nhận được thông tin rõ ràng và chính xác về bản thân mình, nhờ đó thầy có thể thay đổi và sửa chữa điều không phù hợp và phát triển những mặt thầy còn yếu. Tiến trình này bao gồm cả các nhà đào tạo, chủng sinh và anh em đồng bạn, Giám Mục giáo phận và hàng giáo sĩ giáo phận, các tu sĩ và giáo dân và những người mà thầy có trách nhiệm phục vụ, trong tinh thần tín nhiệm và tin cậy lẫn nhau. Sự lượng định liên tục này giúp chủng sinh chứng tỏ những phẩm chất tích cực đảm bảo cho thầy tiếp tục ơn gọi. Nếu như chủng sinh không có những phẩm chất để làm việc như một linh mục một cách hài hoà và hiệu quả, thì thầy cần phải được cho biết điều này, một cách có tính cách xây dựng, càng sớm càng tốt và nên khuyên thầy rời bỏ chủng viện.69
Để có được sự tiến bộ thường xuyên và hiệu quả, chính chủng sinh phải ý thức việc tự giác tuân thủ kỷ luật và trung thành trong đời sống thiêng liêng, nghĩa là một mối liên hệ cá nhân sâu xa với Chúa Kitô, được nuôi dưỡng bằng kinh nguyện và phụng vụ, đặc biệt là Lời Chúa và Thánh Thể, theo mẫu gương Đức Trinh Nữ Maria. Các kinh nguyện và việc đạo đức ấy giúp thầy nuôi sống ơn gọi của mình trong chủng viện và giúp thầy kiên trì trong đời sống linh mục sau này. Việc tự giác chấp hành kỷ luật, trung thành trong đời sống cầu nguyện, trung thành trong sứ vụ đối với Dân Chúa sẽ giúp thầy thăng tiến liên tục, nỗ lực bền bỉ để trở nên tốt hơn trong đời sống chủng sinh hiện tại, cũng như trong đời sống linh mục mai ngày.
GHI CHÚ
60 “Plans for Common Curriculum Discussed at Formators’ Meeting” (Da Nang, July 11, 2002), Ucanews.com/archives, truy cập ngày 3-11-2004.
61 Xem phụ trương A1: Bảng Câu Hỏi Tự Đánh Giá.
62 Xem Hội Nhập Giáo Huấn của Giáo Hội: Viễn Ảnh của Chức Linh Mục.
63 “Formators call for Better Spiritual Formation of Seminarians” (Nha Trang, 8-8-2000), Ucanews.com/archives, truy cập ngày 25-01-2005.
64 “Deficient Spiritual Formation among Seminarians Tackled at Formators’ Meeting”…, ibid.
65 “Formators Call for Better Spiritual Formation of Seminarians”…, ibid.
66 “Deficient Spiritual Formation among Seminarians Tackled at Formators’ Meeting”…, Ibid.
67 “Formators call for Better Spiritual Formation of Seminarians”…, ibid.
68 Hội Xuân Bích, Hiến Pháp, các khoản 14-15 ; 17.
69 Paul VI, Sacerdotalis Caelibatus: Encyclical Letter on Priestly Celibacy (June 24, 1967), no. 64.

PHẦN II
NHỮNG GIÁO HUẤN CỦA HỘI THÁNH
VỀ VIỆC ĐÀO TẠO THIÊNG LIÊNG
CHO CÁC CHỦNG SINH
Các ứng sinh linh mục phải chuẩn bị một cách có ý thức để lãnh nhận và sống ân huệ của Thiên Chúa và luôn hiểu rằng Hội thánh và thế giới đang rất cần đến họ.70
Đời sống thiêng liêng phải bao gồm và chi phối toàn bộ đời sống con người, vì đời sống thiêng liêng là đời sống nhân bản được sống trong Chúa Thánh Thần. Môi trường hiện tại dẫn đến một hoàn cảnh và hoàn cảnh này lại gây ra những thay đổi sâu xa trong Hội thánh và thế giới. Hoàn cảnh ấy buộc chúng ta phải đặt ra vấn nạn: “Hội Thánh ngày nay và thế giới ngày nay cần kiểu linh mục nào?” Câu trả lời cho vấn nạn này sẽ giúp ích rất nhiều cho công việc hình thành một chương trình đào tạo phù hợp. Trong khi tìm kiếm một số hướng trả lời, tác giả sẽ quan sát, lượng định, và phân tích một số giáo huấn của Hội Thánh về đời sống thiêng liêng, đặc biệt là đời sống thiêng liêng của các linh mục.
Như đã được đề cập trên đây, việc đào tạo thiêng liêng là yếu tố trung tâm trong sứ mệnh của bất cứ chủng viện nào, vì thế “thiếu đào tạo thiêng liêng, việc đào tạo mục vụ sẽ không có nền tảng.”71
Một số tài liệu của Hội Thánh về tiến trình đào tạo thiêng liêng sẽ được nghiên cứu gồm:
* Optatam Totius (Đào Tạo Linh Mục) và Presbyterorum Ordinis (Sứ Vụ và Đời Sống Linh Mục) của Công Đồng Vaticanô II;
* Pastores Dabo Vobis (Những Mục Tử Như Lòng Mong Ước) và Ecclesia in Asia (Hội Thánh tại Á Châu), Tông Thư Hậu Thượng Hội Đồng Giám Mục của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II;
* Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (Lược Đồ Cơ Bản cho Việc Huấn Luyện Linh Mục) và Spiritual Formation in Seminaries của Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo.
* Một số Bài Diễn Văn của Đức Thánh Cha cũng được đề cập tới.
* Các tài liệu của Liên Hiệp Hội Đồng Giám Mục Á Châu (FABC), và của Hội Đồng Giám Mục Việc Nam (HĐGMVN) cũng sẽ được nghiên cứu.
CHƯƠNG IV
GIÁO HUẤN CỦA HỘI THÁNH HOÀN VŨ
VỀ VIỆC ĐÀO TẠO THIÊNG LIÊNG

A. Tài Liệu của Công Đồng Vaticanô II
1. Đào Tạo Linh Mục (Optatam Totius)
Optatam Totius đưa ra nghiên cứu súc tích nhất về những mục đích của bất cứ chương trình đào tạo nào và nhấn mạnh đến việc đào tạo thiêng liêng.72
Trước hết, Đời Sống Thiêng Liêng Sâu Xa và Cảm Thức về Mầu Nhiệm Hội Thánh: Đời Sống Thiêng Liêng Sâu Xa phải giúp các chủng sinh tập sống trong tình hiệp thông mật thiết và liên tục với Chúa Ba Ngôi, bằng các biện pháp: trung thành suy ngẫm Lời Chúa, tích cực tham dự vào các mầu nhiệm thánh của Hội Thánh, đặc biệt là Thánh Thể và Kinh Thần Vụ, tìm kiếm Chúa Kitô nơi người khác, đặc biệt là những người nghèo khổ và nhỏ bé, và lòng tôn kính hiếu thảo với Đức Trinh Nữ Maria.73
Cảm Thức về Mầu Nhiệm Hội Thánh sẽ được diễn tả bằng lòng gắn bó con thảo với Đức Giáo Hoàng, bằng việc trung thành cộng tác với các Giám Mục, bằng sự hoà hợp với anh em linh mục, để làm chứng về sự hiệp nhất của Hội Thánh. Họ phải bày tỏ lòng sẵn sàng đón nhận quyền bính với xác tín sâu xa và vì những lý do siêu nhiên. Bằng lòng yêu mến như thế đối với Hội Thánh, họ củng cố đời sống thiêng liêng.74
Thứ đến, Đời Sống Độc Thân Linh Mục phải được trình bày hết sức kỹ lưỡng cho các chủng sinh như là một món quà quí giá của Thiên Chúa, với tình yêu không chia sẻ vì Nước Trời. Công tác đào tạo này cần được bổ sung bằng những khám phá mới nhất của khoa sư phạm và tâm lý lành mạnh,75 nhằm biết làm thế nào tránh được những hiểm nguy đe doạ đức trong sạch, làm thế nào đạt tới mức trưởng thành về nhân bản và làm chủ suy nghĩ, cơ thể, bản năng, tình cảm và những đam mê của mình.
Các chủng sinh cần được huấn luyện trong tinh thần vâng phục của linh mục, tinh thần nghèo khó và từ bỏ, để họ có thể tự nguyện từ bỏ ngay cả những thứ hợp pháp nhưng không thiết thực. Họ phải khiêm tốn hướng tới và đáp lại đời sống độc thân linh mục một cách tự do và quảng đại dưới ơn trợ giúp và tác động của Chúa Thánh Thần, với những phẩm chất tốt đẹp như thành thật, lòng yêu mến lẽ công bình, lòng trung thành với những lời cam kết, thái độ lịch lãm trong hành động, lòng khiêm tốn và bác ái trong lời nói.76
Và sau cùng, Optatam Totius ước mong sao các Giám Mục dành riêng ra một khoảng thời gian thích hợp để chuẩn bị kỹ lưỡng hơn về thiêng liêng và sắp xếp công việc mục vụ để thử thách mức độ phù hợp của các ứng viên tiến tới chức linh mục.77
2. Sứ Vụ và Đời Sống Linh Mục (Presbyterorum Ordinis)
Presbyterorum Ordinis tập trung vào những đòi hỏi thiêng liêng.78
Trước hết, Lòng Khiêm Tốn và Vâng Phục: Đức tính quan trọng nhất của các linh mục là luôn sẵn sàng nhận ra và thi hành ý Chúa, chứ không phải ý riêng mình. Ý thức được sự yếu đuối của mình (1 Cr 1,27), các ngài khiêm tốn làm việc và cố gắng làm điều đẹp lòng Chúa (Ep 5,10), các Ngài hiểu và dấn bước theo khát mong của Thiên Chúa trong những tình huống bình thường của đời sống hằng ngày.
Lòng bác ái mục tử thôi thúc các linh mục dâng hiến ý muốn của riêng mình bằng lòng tuân phục nhằm phục vụ Thiên Chúa và người khác. Bằng tinh thần đức tin, các ngài vâng phục Đức Giáo Hoàng, Giám Mục Bản quyền và các Bề Trên của mình, trong nhiệm vụ được trao, dầu tầm thường và vô danh, để xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô. Lòng tuân phục này thăng tiến tự do trưởng thành. Bằng lòng khiêm tốn và tuân phục có trách nhiệm, các ngài trở nên thích hợp với Chúa Kitô (Pl 2,7-9; Rm5,19).
Thứ hai, Món Quà Đời Sống Độc Thân: Được Hội thánh Latinh quyết định và bó buộc, Đời Sống Độc Thân được gìn giữ và đánh giá như là món quà của Thiên Chúa, được đón nhận và tuân giữ như một giá trị cao quí của đời sống linh mục. Nó là một dấu chỉ của đức bác ái mục tử và là một suối nguồi đặc biệt của sự phong phú thiêng liêng.
Thực ra, đời sống độc thân có nhiều khía cạnh thích hợp với chức linh mục. Qua đời sống độc thân, được tuân giữ vì Nước Trời, các linh mục kết hợp với Chúa Kitô dễ dàng hơn bằng một con tim không san sẻ (1 Cr 7,32-34). Qua Chúa Kitô, họ hiến dâng bản thân để phục vụ Thiên Chúa và Dân Ngài, và như thế các ngài dễ dàng trở nên dấu chỉ sống động của một thế giới tương lai.
Các linh mục phải khiêm tốn và nhiệt thành cầu nguyện cho đời sống độc thân và đón nhận đời sống ấy như là một món quà thuộc về ân sủng Thiên Chúa. Cùng với Hội Thánh, họ phải khiêm tốn và kiên định cầu nguyện cho ơn trung thành và sử dụng mọi sự trợ giúp siêu nhiên cũng như tự nhiên, đặc biệt là lối thực hành khổ chế đã được kinh nghiệm của Hội Thánh chấp thuận. Cả các linh mục và tín hữu đều phải ấp ủ và nài xin Thiên Chúa quà tặng quí giá là đời sống độc thân linh mục.79
Thứ ba, Đức Nghèo Khó Tự Nguyện: Sống trong thế gian và sử dụng thế gian, các linh mục phải học cách thế không thuộc về thế gian và trở nên ngoan ngoãn với tiếng Chúa trong đời sống hằng ngày. Từ sự tự do và ngoan ngoãn này mà sự tự do thiêng liêng lớn mạnh. Nơi sự tự do thiêng liêng, các linh mục tìm được mối tương quan thích hợp với trần gian và của cải trần gian, từ đó các ngài có thể sử dụng của cải cách đúng đắn theo ý Thiên Chúa và từ bỏ những gì phương hại cho sứ vụ của mình.
Vì thế, các ngài phải tránh mọi thứ bề ngoài xa hoa và phù phiếm, và xếp đặt nhà ở sao cho phù hợp để các ngài không tỏ ra xa cách với bất cứ ai, thậm chí những người khiêm tốn nhất cũng dễ dàng thăm viếng các ngài. Do đó, các ngài được mời gọi sống theo đức khó nghèo tự nguyện, nhờ đó các ngài nên phù hợp với Chúa Kitô một cách rõ ràng hơn và trở nên nhiệt thành với tác vụ thánh.80
Sau cùng, Cuộc Sống Nội Tâm của các linh mục cần được cổ vũ nhờ các phương tiện thiêng liêng để thánh hoá bản thân: hợp nhất với Chúa Kitô trong mọi trạng huống của cuộc sống; sống nhờ hai bàn tiệc Lời Chúa và Thánh Thể, hai bàn tiệc này được cử hành trong Thánh Lễ và được sùng kính trong Bí Tích Cực Thánh; tự xét lương tâm hằng ngày; đọc sách thiêng liêng để tìm ý Chúa nhờ tác động của Chúa Thánh Thần; các dấu chỉ thời đại và các biến cố cuộc sống; lòng sùng kính đối với Đức Trinh Nữ Maria; các cuộc tĩnh tâm và linh hướng; và các dạng khẩu nguyện và suy nguyện khác.81

B. Các Tài Liệu của Toà Thánh
1. Những Mục Tử Như Lòng Mong Ước (Pastores Dabo Vobis)
Pastores Dabo Vobis khai triển những ý niệm này một cách cụ thể hơn về công việc đào tạo thiêng liêng.82
Trước hết, Sự Thinh Lặng và Tiếng Chúa: Cho dù cá nhân con người vẫn mở ra trước siêu việt, trước tuyệt đối, thì việc lắng nghe tiếng Chúa và hiểu rõ giá trị của thinh lặng trong sâu thẳm lòng người, nơi họ hiện diện một mình với Thiên Chúa,83 cũng là việc rất khó trong xã hội hiện đại. Sự thinh lặng cho phép chúng ta nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa và để cho sự hiện diện này chiếm đoạt.
Thứ hai, Thánh Thể: không chỉ vì Thánh Thể là suối nguồn và tuyệt đỉnh đời sống thiêng liêng, mà còn vì Thánh Thể hàm dưỡng những thái độ quyết định nơi cá nhân: Các chủng sinh phải được huấn luyện để góp phần tích cực hằng ngày và coi việc cử hành Thánh Thể như là thời điểm cốt yếu trong ngày sống của mình. Những tâm tình quan trọng bậc nhất được Thánh Thể nuôi dưỡng là lòng tri ân, tự hiến, bác ái, và tôn thờ.
Thứ ba, Bí Tích Sám Hối: Hết sức nhạy bén đối với giá trị và sức mạnh của Thánh Thể, PDV thúc giục việc tái khám phá vẻ đẹp và niềm vui của Bí Tích Sám Hối bằng việc phát huy cảm thức về tội lỗi, về khổ chế, kỷ luật nội tâm, tinh thần hi sinh và Thập Giá.
Thứ tư, Khiêm Tốn Phục Vụ: Các chủng sinh cần một chương trình huấn luyện thích hợp theo tinh thần khiêm tốn phục vụ của Chúa Giêsu (Ga 13,15), theo tình bác ái, đặc biệt là bằng tình yêu thương ưu tiên với người nghèo và lòng thương xót đối với tội nhân.84
Thứ năm, Đời Sống Độc Thân Linh Mục được nêu bật như là một ân huệ và quà tặng đặc biệt của Thiên Chúa,85 như là lựa chọn một tình yêu không chia sẻ và mạnh mẽ hơn vì Chúa Kitô và vì Nước Thiên Chúa. Đời sống độc thân cần được trình bày rõ ràng, không hàm hồ và theo cách tích cực. Các chủng sinh cần đạt mức trưởng thành về tính dục và tâm lý đầy đủ và một cuộc sống cầu nguyện siêng năng và đích thực, dưới sự hướng dẫn của cha linh hướng. Những điều đó sẽ hàm dưỡng khả năng đánh giá giá trị của hi sinh, xả kỷ, tự hiến hết mình, tự giác kỷ luật, đón nhận sự cô tịch và thập giá. Mọi công việc đào tạo nội tâm phải sinh hoa trái trong chính lối sống của ứng sinh: Các ứng sinh phải tìm kiếm Thiên Chúa nơi người khác qua việc phục vụ thừa tác vụ được trao ban nhưng không và đức bác ái mục tử.
2. Hội Thánh tại Á Châu
a. Những Ưu Tiên của Hội Thánh tại Á Châu
Ecclesia in Asia dành những ưu tiên tuyệt đối cho việc loan báo Tin Mừng (EA số 19) và cho linh đạo về Truyền giáo, tại Á Châu điều này có nghĩa là loan báo Chúa Giêsu như là Đấng Cứu Độ duy nhất (EA số 20), bằng phương tiện hội nhập văn hoá (EA số 21-22), trong suy tư thần học, phụng vụ, và công tác đào tạo linh mục với sự tương tác cả chiêm niệm lẫn hành động.
Để cho sứ vụ truyền giáo được hữu hiệu, Hội Thánh tại Á Châu phải sống hiệp thông mật thiết với Chúa Giêsu Kitô, hiệp thông trong lòng Hội Thánh (EA số 25), hiệp thông bằng đối thoại: đối thoại đại kết giữa các giáo hội, đối thoại với các nền văn hoá, đối thoại với các tôn giáo khác (EA số 29-30), đối thoại bằng cuộc sống với người nghèo (EA số 34), dấn thân để thăng tiến nhân vị, đặc biệt là người nghèo trong mọi chiều kích về phẩm giá, kinh tế, cuộc sống, về hoà bình và về môi trường (EA số 41).
Sau hết, Hội Thánh tại Á Châu phải đẩy mạnh việc làm chứng cho Tin Mừng (EA số 42-49), nghĩa là Hội Thánh phải thực sự sống điều mình rao giảng.
b. Đào Tạo Thiêng Liêng cho Các Chủng Sinh
Theo lời Đức Hồng Y Paul Shan Kuo-hsi trình bày,86 Hội Thánh tại Á Châu cần các linh mục quân bình về tâm lý, trưởng thành về tình cảm, lành mạnh về phán đoán, chính thống về giáo lý, mạnh mẽ về ý chí, nhanh nhẹn về lòng bác ái, luôn sẵn lòng phục vụ người khác, nhiệt tâm đối với việc Phúc Âm hoá và việc mục vụ, có đời sống thiêng liêng bám rễ sâu trong mối hiệp thông mật thiết với Ba Ngôi Cực Thánh và đặt Chúa Giêsu Kitô làm trung tâm. Trước khi vào chủng viện, ứng sinh phải trải qua một trắc nghiệm tâm linh, tốt nhất là do một linh mục chuyên gia hướng dẫn.87 Với trắc nghiệm này, ít nhất ứng sinh phải chứng tỏ mình có những dấu hiệu tiềm tàng và tích cực của những phẩm chất nêu trên, và không có những vết tích quá tiêu cực trái ngược.
Những phẩm chất được nêu trên của linh mục cần được ứng sinh thủ đắc dần dần trong những năm dài của quá trình đào tạo. Mặc dù các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng không đưa ra đề nghị chính thức về việc đào tạo tâm lý, tuy nhiên, các ngài đã bàn về điều này trong những cuộc thảo luận theo nhóm nhỏ và những cuộc đàm luận riêng tư. Các ngài đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo về độc thân, các tương giao nhân bản và hợp tác hài hoà với người khác. Các ngài cũng hết sức nhấn mạnh tới việc cầu nguyện, chiêm niệm và cô tịch trong việc đào tạo thiêng liêng. Cầu nguyện, suy niệm, chiêm niệm và cô tịch là những đường hướng thiêng liêng truyền thống dẫn dắt con người tới sự thánh thiện và hoàn hảo trong tất cả các tôn giáo lớn ở Á Châu. Phúc Âm hoá hữu hiệu không chỉ đòi hỏi việc loan báo tích cực, những công việc phục vụ bác ái xã hội, những hoạt động văn hoá và giáo dục, nhưng còn đòi hỏi một đời sống cầu nguyện sâu xa với suy niệm, chiêm niệm, cô tịch và kết hợp với Thiên Chúa.88
3. Lược Đồ Cơ Bản cho Việc Huấn Luyện Linh Mục
(Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis)
a. Những Nguyên Tắc Chỉ Đạo Tổng Quát
Trước hết, những linh mục tương lai cần học:89
* sống gần gũi và luôn đồng hành cùng Chúa Ba Ngôi;
* thường xuyên tìm được Chúa Kitô trong mối hiệp thông thân mật của lời cầu nguyện;
* giữ Lời Chúa với lòng yêu mến ăn rễ sâu trong niềm tin, và trao Lời Chúa cho người khác;
* thăm viếng và thờ lạy Chúa Kitô hiện diện nơi bí tích Thánh Thể;
* có lòng mến yêu thân thiết đối với Đức Trinh Nữ Maria là Đấng liên kết cách đặc biệt với công trình Cứu Độ;
* tham khảo các tài liệu thánh truyền, các tác phẩm của các Giáo Phụ, và mẫu gương của các thánh;
* biết cách tra xét và phán đoán lương tâm và những động cơ của chính mình với lòng lương thiện và thành thật.
Thứ hai, việc đào tạo thiêng liêng cho các chủng sinh là một tiến trình bao gồm những giai đoạn khác nhau; mỗi giai đoạn cần được thích ứng với tuổi tác, kinh nghiệm, và khả năng của các chủng sinh. Hiệu quả của việc đào tạo này được nâng cao đáng kể nhờ một số những thời kỳ ấn định cho việc huấn luyện chuyên sâu hơn. Những thời kỳ này có thể là: lúc mới vào chủng viện, lúc bắt đầu học thần học, và khi họ tiến gần tới ngày chịu chức linh mục.
b. Những Khía Cạnh Cụ Thể
Mục đích trước tiên của việc đào tạo thiêng liêng là đức ái hoàn hảo. Mức hoàn hảo này giúp các chủng sinh trở nên Chúa Kitô khác. Được thấm nhuần Thần Khí của Chúa Kitô cách sâu xa, họ sẽ nhận ra điều họ đang làm khi cử hành mầu nhiệm sự chết của Đức Kitô phục vụ (Mt 20,28). Từng bước một, họ phải hiểu biết rõ ràng và chắc chắn về ơn gọi linh mục của mình, và như thế họ làm cho mình có nhiều khả năng thủ đắc những đức tính và thói quen của đời sống linh mục. Họ được kêu gọi cố gắng hết sức để hoàn thiện đời sống của chính mình và đời sống chung trong chủng viện nên một tâm hồn (Cv 2, 44-46).
Nhờ đó, cộng đoàn vui hưởng sự hiện diện của Thiên Chúa, triệt để tuân giữ luật lệ và đạt được mối liên kết hoàn hảo.90 Đời sống cộng đoàn như thế chuẩn bị cho các ứng sinh để họ có thể nên một trong tình “huynh đệ bí tích” với cộng đoàn rộng lớn hơn là hàng giáo sĩ giáo phận, nhờ mối liên kết bác ái, cầu nguyện, và sự hợp tác trong nhiều khía cạnh, nhằm xây dựng Hội Thánh, một bổn phận đòi hỏi nhiều trách nhiệm và những c anh tân hợp thời.91
Mục đích thứ hai là đời sống độc thân linh mục, một nguyên tắc được Hội Thánh Latinh đặt ra cho những ai, nhờ ân sủng Thiên Chúa, tự nguyện đón nhận vì Nước Trời. Ở tình trạng này, các linh mục dễ dàng ở gần Chúa Kitô hơn với một trái tim không chia sẻ; tự do hơn trong việc trao hiến chính mình phục vụ Chúa và Dân Chúa, và đón nhận chức linh mục với lòng quảng đại.92
Bởi vậy, các linh mục tương lai phải ý thức và đón nhận đời sống độc thân như là một món quà đặc biệt Chúa ban. Nhờ đời sống dành trọn cho việc cầu nguyện, cho mối hiệp nhất với Chúa Kitô, cho đức ái huynh đệ chân thành, các thầy có thể giữ gìn cách hân hoan và trọn vẹn đời sống độc thân của mình. Các thầy cần có được tự do hoàn toàn về tâm lý, cả bề trong lẫn bề ngoài, và đạt mức ổn định về tình cảm, để hiểu rõ và sống đời độc thân như là sự kiện toàn bản thân. Một nền giáo dục thích đáng về giới tính sẽ dẫn đưa các thầy tới một tình yêu trong trắng đối với con người hơn là một nỗi lo âu nhằm tránh tội, như vậy nhằm chuẩn bị cho họ dấn thân vững vàng vào tác vụ mục vụ trong tương lai.93
Một khía cạnh khác của việc đào tạo thiêng liêng là mối tương quan thân mật với Chúa Kitô, “vẫn là một, hôm qua, hôm nay, và mãi đến muôn đời” (Dt13,8). Các chủng sinh nên nhắm tới mối tương quan bằng hữu gần gũi với con người và sứ vụ của Chúa Kitô, Đấng đã hoàn thành nhiệm vụ mình với lòng khiêm tốn tùng phục thánh ý Chúa Cha như là lương thực của mình (Ga 4,34). Các thầy được kêu gọi dâng hiến ý muốn riêng mình để phục vụ Thiên Chúa và tha nhân, nhờ lòng vâng phục với niềm tin.
Họ không chỉ học đón nhận thánh giá, nhưng là yêu mến thánh giá, và gánh vác những trách nhiệm nặng nề được uỷ thác nhằm thi hành sứ mạng tông đồ của mình. Họ cần sống đức vâng phục chân thành đối với Đức Giáo Hoàng và Giám Mục của mình. Bằng việc sống tinh thần phục vụ khiêm tốn và lòng hiếu thảo, họ trở thành những cộng tác viên trung thành của các ngài.94
Thứ tư, các chủng sinh phải học nuôi dưỡng Tinh Thần Nghèo Khó để chu toàn việc tông đồ: tin vào sự Quan Phòng của Chúa Cha, họ cần biết thế nào là dư dật và thiếu thốn, thế nào là đói khổ và no đầy, thế nào là có nhiều và có ít, bắt chước gương thánh Phaolô (Pl 4,12). Bước theo gương mẫu Chúa Kitô (2 Cr 8,9), họ nên coi người nghèo và người kém may mắn như là bổn phận đặc biệt của mình và làm chứng cho đức nghèo khó, với tinh thần từ bỏ chính mình trước những của cải không cần thiết.95
Thứ năm, việc đào tạo thiêng liêng bao trùm con người toàn diện. Ân sủng không bóp nghẹt tự nhiên, nhưng nâng tự nhiên lên mức độ cao hơn. Các chủng sinh phải tập sống thành thật, luôn quan tâm tới công lý, và những cách ứng xử tốt trong giao thiệp với con người với tinh thần bằng hữu và phục vụ, tinh thần sẵn sàng làm việc, và khả năng làm việc với người khác. Họ phải giữ lời, tự chủ và ân cần trong giao tiếp. Vì nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng cho mọi người, họ phải học nghệ thuật, nghĩa là biết nói chuyện với người khác cách đúng đắn, kiên nhẫn lắng nghe và có khả năng diễn đạt ý mình.96
Sau cùng, sinh lực và sự mới mẻ trong đời sống linh mục là Thánh Thể và Bí Tích Sám Hối. Các chủng sinh hằng ngày phải tham dự vào việc cử hành Thánh Thể, “suối nguồn và tột đỉnh của cả đời sống Kitô giáo” và là trung tâm toàn bộ đời sống chủng viện. Việc tôn thờ Thánh Thể phải gắn liền với Kinh Thần Vụ. Nhờ Thánh Thể, phụng vụ và lời cầu nguyện, các thầy sẽ có thể kiên tâm gắn bó thân tình và thật sự với Chúa Kitô và Hội Thánh.97 Bí tích Sám Hối phải được thấm nhuần vào các linh mục tương lai, để họ có thể được canh tân hằng ngày. Mỗi chủng sinh phải khiêm tốn và tin tưởng cởi mở lương tâm mình trước vị linh hướng, thông qua việc linh hướng, để thầy được hướng dẫn cách an toàn trên con đường của Chúa.98
Thầy phải từng bước thủ đắc đời sống thiêng liêng trưởng thành thật sự qua sự tự đánh giá, tĩnh tâm thường kỳ, và những dạng luyện tập khác, luôn ý thức rằng những hoạt động thiêng liêng ấy sẽ giúp phát triển và tăng cường đời sống thiêng liêng của thầy.99 Thầy phải được huấn luyện quan sát chính xác những dấu chỉ thời đại và phán đoán các sự kiện nhờ ánh sáng Tin Mừng. Theo nghĩa này, thinh lặng bên ngoài là bắt buộc, vì thiếu thinh lặng bên ngoài sẽ chẳng có thinh lặng nội tâm trong linh hồn.
4. Đào Tạo Thiêng Liêng Trong Các Chủng Viện
Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo chỉ ra bốn nguyên tắc chỉ đạo khẩn thiết của việc đào tạo thiêng liêng cho các linh mục tương lai:100
Trước hết, Lời Chúa: Ứng sinh phải tạo được một cảm thức về thinh lặng nội tâm thực sự để có thể lắng nghe và hiểu sâu xa Lời Chúa, và kiên nhẫn tìm Chúa Kitô qua chính kinh nghiệm lắng nghe tiếng Chúa trong cầu nguyện của mình. Kinh nghiệm này giúp thầy trở thành thầy dạy cầu nguyện cho người khác. Thinh lặng nội tâm tìm được nơi Chúa Kitô suối nguồn và mục đích: là phó thác cho Chúa Cha và tuỳ thuộc vào Ngài, là sự thân mật nội tâm và đối thoại thực sự với Chúa. Thinh lặng bên trong và thinh lặng bên ngoài ảnh hưởng lẫn nhau và nuôi dưỡng nhau. Trong một chủng viện, nơi mà thinh lặng bên ngoài không hiện hữu thì thinh lặng nội tâm cũng vắng bóng. Luật Sống ở chủng viện phải thu xếp ưu tiên cho việc này.101
Thứ hai, ứng sinh phải sống hy tế cứu độ và làm cho hy tế của Chúa Kitô hiện diện nhờ Thánh Thể và làm cho người tín hữu hiệp thông cách xứng đáng với hy tế này.102
Thứ ba, thầy phải lớn lên trong hy tế thiêng liêng nhờ đón nhận và vác thập giá theo vết chân từ bỏ chính mình của Chúa Kitô, nghĩa là có lòng vâng phục thực sự và có cảm thức sám hối.
Và sau cùng, thầy phải có lòng hiếu thảo và tin tưởng đối với Đức Trinh Nữ Maria, Đấng mà Chúa Giêsu trên thập giá đã ban cho chúng ta như người mẹ. Mầu nhiệm Đức Maria dẫn đưa tới cuộc tiếp xúc tuyệt vời hơn với Chúa Kitô và thập giá của Ngài. Kitô học cũng là Thánh Mẫu học. Tình yêu và lòng sùng kính với Đức Trinh Nữ Maria phải được dậy dỗ và thực hành trong chủng viện với một nguồn sinh lực nội tâm.103
Tài liệu này cũng đề nghị chủng viện có một thời kỳ chuẩn bị dành riêng cho việc đào tạo thiêng liêng. Thời kỳ chuẩn bị này nên diễn ra trước, hoặc cách nào đó ngoài thời gian chủng viện, các sinh viên có cơ hội để hoàn tất một thời gian học tập thiêng liêng thực sự.104

C. Giáo Huấn của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II
1. Đóng Góp của Khoa Tâm Lý Học trong Việc Đào Tạo Linh Mục105
a. Đóng Góp Thích Đáng và Hạn Chế của Khoa Tâm Lý Trong Tiến Trình Đào Tạo Linh Mục
Theo Đức Giáo Hoàng, sự đóng góp chuyên môn của các nhà tâm lý có thể được sử dụng thích hợp vào thời gian mới nhập học, cũng như trong toàn bộ tiến trình đào tạo. Ý kiến chuyên môn này phải được đưa vào sử dụng theo một đường lối quân bình, nhằm bảo vệ giá trị lớn lao của việc linh hướng. Những can thiệp tâm lý này106 không loại bỏ khó khăn và căng thẳng nơi con người, nhưng khuyến khích làm triển nở một nhận thức rộng rãi hơn và một rèn luyện khoảng khoát hơn tự do cá nhân của con người.
Theo đường hướng này, con người có thể đón nhận một cuộc đấu tranh cởi mở và thành thật, nhờ sự trợ giúp không thể thay thế của ân sủng. Vì vậy, các nhà đào tạo cần chú ý đến phẩm chất tôn giáo của các chuyên gia tâm lý, cũng như khả năng chuyên môn khoa học của họ. Nhà tâm lý học cần hiểu biết thấu đáo quan điểm Kitô giáo về cuộc sống, và về ơn gọi linh mục, nếu muốn cung cấp một trợ giúp hữu hiệu cho sự hòa hợp cần thiết giữa các chiều kích nhân bản và siêu nhiên.
b. Đào Tạo Thiêng Liêng Và Đời Sống Độc Thân
Đức Giáo Hoàng dạy rằng các ứng viên phải được giới thiệu thực hành cầu nguyện, suy niệm và khổ chế cá nhân dựa trên các nhân đức đối thần được sống trong đời sống hằng ngày. Cả đức ái tông đồ trong Giáo Hội và giáo luật đều đưa ra những bó buộc thích hợp cho tác vụ tương lai của ứng viên. Đời sống độc thân vì Nước Trời phải được trình bày như một chọn lựa rất thuận lợi cho việc hân hoan loan báo Chúa Kitô Phục Sinh.
2. Chuẩn Bị Vững Chắc Cho Các Linh Mục
Đức Gioan Phaolô II nói rằng việc lựa chọn chính xác các ứng viên là một tiến trình phức tạp. Bởi thế, ta phải lập tức bắt đầu tiến trình chuẩn bị các ứng viên được chọn lựa để sau này trở nên các linh mục tốt lành, thánh thiện. Việc đào tạo thiêng liêng và dạy dỗ giáo lý cho các sinh viên phải được kết hợp hài hoà với nhau và do các nhà đào tạo được huấn luyện chu đáo giám sát. Phải nhấn mạnh tới nhu cầu chính yếu là thường xuyên cử hành các bí tích, đặc biệt là Bí Tích Sám Hối, cùng với việc cầu nguyện riêng tư và sốt sắng và thường xuyên gặp một vị linh hướng.
Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh rằng chức linh mục phải được xem như một ơn gọi hướng tới sự phục vụ vị tha và yêu thương; rằng đời sống độc thân, món quà quí giá và mọi thứ liên quan đến đời sống ấy, “phải được coi như là phần không thể thiếu của đời sống bên trong và bên ngoài của linh mục.”10
3. Việc Đào Tạo Thiêng Liêng Thích Ứng với Những Thách Đố Truyền Giáo
Đức Gioan Phaolô II yêu cầu mọi người Công giáo Việt Nam tiến tới một đường lối mới trong việc Phúc Âm hoá; luôn sống nghiêm túc ơn gọi tín hữu đã lãnh nhận từ khi chịu phép rửa và “đảm nhận vai trò của mình trong đời sống và sứ mệnh của Dân Chúa, là chứng nhân của Chúa Kitô, ở mọi nơi mà họ hiện diện.”108
Đối với việc đào tạo người trẻ, ngài yêu cầu các Giám Mục Việt Nam lưu tâm tới những điều kiện đào tạo tri thức và thiêng liêng thích ứng với những thách đố truyền giáo mà giới trẻ phải đối mặt, bằng việc tuyển chọn kỹ lưỡng những người huấn luyện và các giáo sư, những vị đã thủ đắc mức trưởng thành về nhân bản và đời sống linh mục. Các ngài phải ý thức rằng nhiệm vụ Phúc Âm hoá liên quan tới mọi thành phần Dân Chúa và đòi hỏi lòng nhiệt thành mới, những phương pháp mới và ngôn ngữ mới.109

D. Giáo Huấn của Đức Bênêđitô XVI
1. Chúa Giêsu Kitô Là Chuẩn Mực Chân Thực
Ngay trước khi được bầu, Đức Giáo Hoàng Bênêđitô XVI tổng kết rằng nhiều luồng ý thức hệ và mốt nghĩ đã làm giao động và hất con thuyền bé nhỏ là lối suy tư của các Kitô hữu đi từ thái cực này sang thái cực khác: từ chủ nghĩa Mác sang chủ nghĩa tự do, rồi chủ nghĩa phóng đãng; từ chủ nghĩa tập thể sang chủ nghĩa cá nhân triệt để; từ chủ nghĩa vô thần sang hiện tượng thần bí tôn giáo mơ hồ; tư thuyết bất khả tri đến tạp giáo. Mỗi ngày, các giáo phái mới được sinh ra, dẫn đến lầm lạc (x. Eph.4:14). Đức tin rõ ràng đúng theo Tín Điều của Giáo Hội thường bị chụp mũ là chủ nghĩa cơ bản tuyệt đối dựa vào Kinh Thánh, trong khi thuyết tương đối dường như là thái độ xứng hợp của thời đại chúng ta. Một sự độc tài của thuyết tương đốichẳng nhìn nhận điều gì là tuyệt đối, ngoài cái tôi và những ý nghĩ chợt nảy ra.
Nhưng chúng ta có Con Thiên Chúa, là Con Người Thật như là chuẩn mực cho thuyết nhân bản đích thực. Đức tin trưởng thành và chín chắn là đức tin bám rễ sâu trong tình bằng hữu với Chúa Kitô. Tình bằng hữu này làm chúng ta mở ra với mọi điều tốt đẹp và cho chúng ta chuẩn mực để biện phân giữa cái gì là chân thực và cái gì là giả dối, giữa sự dối trá và chân lý. Chúng ta cần phải trở nên chín chắn trong đức tin trưởng thành này; phải dẫn đưa đoàn chiên Chúa Kitô tới đức tin này. Và đức tin này, đức tin duy nhất, tạo ra sự hiệp nhất và xây dựng trong đức ái như là nền tảng của đời sống Kitô hữu.110
2. Hội Thánh Không Sợ Tương Lai
Trong Sứ Điệp cho các Hồng Y,111 Đức Bênêđitô XVI cam kết sẽ luôn luôn nghe theo những linh hứng của Chúa Thánh Thần, với lòng khiêm tốn phó thác cho sự quan phòng của Thiên Chúa, để tiếp tục con đường của các vị tiền nhiệm là loan báo cho toàn thế giới sự hiện diện sống động của Chúa Kitô. Ngài mạnh mẽ khẳng định quyết tâm tiếp tục dấn thân thi hành Công Đồng Vaticanô II. Ngài cũng cố gắng xây dựng sự hiệp thông trong lòng Hội Thánh, dựa trên sự hiệp thông trọn vẹn với Chúa Kitô Phục Sinh, biểu lộ nơi Thánh Thể.
Trong tương quan với bên ngoài, ngài lấy việc tái lập sự hiệp nhất trọn vẹn và hữu hình nơi những người theo Chúa Kitô, thông qua việc “thanh tẩy ký ức”, như là cam kết ưu tiên. Ngài thúc đẩy Hội Thánh làm sống lại ý thức Truyền Giáo để làm cho ánh sáng Chúa Kitô chiếu soi trước mọi dân tộc ngày nay. Ngài quả quyết sẽ tiếp tục một cuộc đối thoại cởi mở và chân thành với các tôn giáo khác, với các nền văn hoá và văn minh khác nhau, đặc biệt là với những người nghèo và những người nhỏ bé. Ngài cũng tuyên bố rằng mọi người Công giáo sẵn lòng cộng tác để nhắm tới sự phát triển xã hội đích thực vì phẩm giá mọi người, với hy vọng rằng nhờ sự hiểu biết lẫn nhau, hoàn cảnh sẽ làm nảy sinh một tương lai tốt đẹp hơn cho mọi người.
3. Mở Rộng Cửa cho Chúa Kitô
Sau hết, trong Thánh Lễ Nhậm Chức,112 ngài lặp lại lời Đức Gioan Phaolô II “Đừng sợ! Hãy mở rộng cửa cho Chúa Kitô!” Đấng “sẽ chẳng lấy đi điều gì thuộc về tự do và nhân phẩm của con người … Chỉ trong tình bằng hữu này chúng ta mới cảm nghiệm được vẻ đẹp và sự giải thoát.”
GHI CHÚ
70 Gioan Phaolô II, Pastores Dabo Vobis …, ibid., số 82.
71 Gioan Phaolô II, Pastores Dabo Vobis …, ibid., số 45.
72 Vaticanô II, Optatam Totius…, số 8-12.
73 Ibid., số 8.
74 Vaticanô II, Optatam Totius…, số 9; 11.
75 Gioan Phaolô II, “On Psychology and Candidates for the Priesthood”: Diễn Văn với Khoá Họp của thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo, (Vatican City, February 21, 2002), Zenit.org/english, truy cập ngày 3-11-2004.
76 Vaticanô II, Optatam Totius…, ibid, số 9-11.
77 Ibid., số 12.
78 Vaticanô II, Presbyterorum Ordinis…, số 15-18.
79 Vaticanô II, Presbyterorum Ordinis…, số 15 - 16.
80 Ibid., số 17.
81 Vaticanô II, Presbyterorum Ordinis…, số 18.
82 Gioan Phaolô II, Pastores Dabo Vobis…, ibid., số 45-50.
83 Vaticanô II, Gaudium et Spes: Pastoral Constitution on the Church in the Modern World (December 7, 1965), số 16.
84 Gioan Phaolô II, Pastores Dabo Vobis…, ibid., số 48-49.
85 Ibid., số 29.
86 Linh Mục Thiên Niên Kỷ Mới, Đại Chủng Viện Huế, (2000), tr. 31-56.
87 “On Psychology and Candidates for the Priesthood”…, ibid.
88 Linh Mục Thiên Niên Kỷ Mới, Đại Chủng Viện Huế, (2000), tr. 47-49.
89 CCE, Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis…, ibid., số 44-58.
90 CCE, Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (RFIS)…, ibid., số 44- 46.
91 Presbyterorum Ordinis…, ibid., no. 8; RFIS…, ibid., số 46.
92 Presbyterorum Ordinis…, ibid., no. 16; RFIS…, ibid., số 48.
93 CCE, RFIS …, ibid., số 48.
94 RFIS, ibid., số 49.
95 RFIS, ibid., số 50.
96 RFIS, ibid., số 51.
97 RFIS, ibid., số 52.
98 RFIS, ibid., số 55.
99 RFIS, ibid., số 56-58.
100 Spiritual Formation in Seminaries, tr. 9-23.
101 Ibid., tr.10-14.
102 Ibid., tr. 14-18.
103 Spiritual Formation in Seminaries,tr. 22-23.
104 Ibid., p. 24. Xem Giai đoạn Tiền Chủng.
105 Gioan Phaolô II, “On Psychology and Candidates for the Priesthood” …, ibid.
106 Xem phụ lục C: Khoa Tâm Lý và Đào tạo đời sống độc thân cho chủng sinh.
107 Gioan Phaolô II, “Solid Preparation for Laity and Priests”: Address to Philippine Bishops (Vatican City, October 9, 2003), no. 6, Zenit.org/english, truy cập ngày 25-12-2004.
108 John Paul II, Ecclesia in Asia…, số 45.
109 “The Church is waiting for the Total Respect of its Autonomy”…, ibid.
110 “Jesus Christ: the Measure of True Humanism” (Rome, April 18, 2005), Zenit.org/english, truy cập ngày 1-5-2005.
111 “A Church That Has No Fear of the Future” (Vatican, April 20, 2005), Zenit.org/english, truy cập ngày 1-5-2005.
112 “Do Not Be Afraid of Christ! He Takes Nothing Away and Gives Everything,” (Vatican City, April 24, 2005), Zenit.org/english, truy cập ngày 1-5-2005.
CHƯƠNG V
GIÁO HUẤN CỦA HỘI THÁNH ĐỊA PHƯƠNG
VỀ VIỆC ĐÀO TẠO THIÊNG LIÊNG

A. Phương Hướng Cụ Thể của Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu (FABC)
Liên Hiệp Hội Đồng Giám Mục Á Châu áp dụng giáo huấn của Hội Thánh hoàn cầu vào bối cảnh địa phương. Chiều kích thiêng liêng phải được mang vào trong cuộc sống toàn diện của mỗi người: Rao giảng Lời Chúa bằng cách sống Lời Chúa. Lãnh đạo mà thiếu chứng tá về thánh thiện, khổ chế, và sự thống nhất nhân vị là thiếu tính chân thực. Vì vậy, những nhiệm vụ chính của việc đào tạo thiêng liêng được đưa ra: làm chứng cho Tin Mừng qua lối sống giản dị, nghèo khó, độc thân, vâng phục, hiệp thông, đối thoại và cầu nguyện.
1. Khuôn Mặt Á Châu của Linh Mục113
a. Chức Linh Mục Trung Tâm của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ
Chức linh mục của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ là trung tâm. Công trình cứu độ nhân loại là công trình của Một Chúa Ba Ngôi qua Chúa Giêsu Kitô và được tiếp tục trong Hội Thánh dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Linh mục tham dự vào chức linh mục của Chúa Giêsu Kitô và cộng tác vào công trình cứu độ của Ngài.
Vì vậy, việc đào tạo linh mục toàn diện, đặc biệt là việc đào tạo thiêng liêng, nhắm làm cho linh mục tương lai nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu Kitô, Linh Mục Tối Cao. Nói cách khác, đào tạo linh mục nhắm làm cho chủng sinh có khả năng hiểu biết, nội tâm hoá và sống chính con người, sứ điệp và tầm nhìn của Chúa Giêsu, Đấng là cốt lõi của việc đào tạo và là con tim của cuộc sống và sứ vụ của linh mục. Công trình cứu độ này muốn giúp tất cả mọi người thoả mãn những khát vọng sâu xa nhất và lòng khát khao sống mối tương quan trọn vẹn với Một Thiên Chúa Ba Ngôi (Phúc Âm hoá), và xây dựng cộng đoàn Hội Thánh (mục vụ). Để hoàn thành sứ mệnh và tác vụ này của Chúa Giêsu, linh mục phải trung thành với ba tác vụ của Lời Chúa, Bí Tích và Phục Vụ.114
b. Linh Mục, Người của Hội Thánh
Để thực thi sứ mệnh và tác vụ của Chúa Giêsu ở Á Châu, linh mục phải là người của Hội Thánh, nghĩa là ngài phải đặt nền móng nơi Giáo Hội địa phương, có khả năng tạo nên sự hiệp thông ngay trong các cộng đoàn Giáo Hội (các giáo xứ, các nhóm canh tân, v.v…), mở ra để liên đới với các cộng đoàn khác (các cộng đoàn giáo hội và tôn giáo khác, những người thiện chí, những người nghèo). Là người của Hội Thánh như thế, ứng sinh linh mục phải được đào tạo và tự đào tạo để trở nên một con người thiêng thánh, một con người đối thoại (cả trong lẫn ngoài Giáo Hội) và một con người khiêm tốn phục vụ.115
c. Cuộc Sống Và Vai Trò Của Linh Mục Trong Bối Cảnh Á Châu
Theo PDV, có bốn chiều kích trong việc đào tạo linh mục toàn diện (nhân bản, thiêng liêng, tri thức và mục vụ). Bốn chiều kích này tuỳ thuộc lẫn nhau và cần được phối hợp với nhau. Để nhận ra thừa tác vụ linh mục tại Á Châu hôm nay, bốn chiều kích này cần được hội nhập văn hóa bằng tất cả tinh thần và lối sống, chứ không chỉ bằng những hình thức bên ngoài. Vì thế linh mục phải được giới thiệu như là một con người có nhân cách chín chắn, một con người thánh thiêng, một con người đối thoại, và một con người khiêm tốn phục vụ. Đặc biệt tại Á Châu, con người thiêng thánh thật hết sức quan trọng. Trong những tôn giáo khác ở Á Châu, sự thánh thiện được đánh giá rất cao và những người thánh thiện được hết sức kính trọng.
Sự thánh thiện của linh mục gắn kết cách nội tại với thừa tác vụ linh mục và triển nở nơi thừa tác vụ linh mục. Nghĩa là, việc thi hành thừa tác vụ cách tận tuỵ làm tăng triển sự thánh thiện, và sự thánh thiện lại làm thăng tiến thừa tác vụ. Là tình yêu dành cho Thiên Chúa, sự thánh thiện này nhất thiết phải hàm dưỡng tình yêu dành cho con người và thiên nhiên. Tình yêu này được nuôi dưỡng nhờ cầu nguyện, nhờ suy niệm sâu xa Lời Chúa, nhờ đời sống bí tích và phục vụ. Tiến trình đào tạo cần đặt tiêu điểm nơi Chúa Kitô như là mô hình thánh thiện cho linh mục. Các chủng sinh cũng cần những gương mẫu nhiệt tâm và thánh thiện của linh mục nơi đội ngũ đào tạo. Để hướng dẫn các chủng sinh hướng tới mức trưởng thành nhân bản và thiêng liêng, thì sự tự do, kỷ luật và trách nhiệm phải đồng hành với nhau.116
Trước sự đa dạng về tôn giáo và văn hoá tại Á Châu, linh mục cần phát triển khả năng đối thoại lịch thiệp và kính trọng với các tôn giáo khác và đại đa số những người không Công giáo tại Á Châu. Do những khó khăn về kinh tế và xã hội của mọi người, linh mục nên tiếp cận với họ như là một tôi tớ khiêm tốn, quan tâm tới sự phát triển thực sự và thăng tiến con người, với mối quan tâm đặc biệt dành cho người nghèo. Cuộc đối thoại và phục vụ này phải mở ra cho công cuộc Phúc Âm hoá.117
2. Các Khía Cạnh của Tiến Trình Đào Tạo
a. Kiểu Mẫu và Phương Pháp Đào Tạo Ứng Viên
Kiểu mẫu và phương pháp đào tạo ứng viên cần phải được nghiên cứu. Tiến trình đào tạo cần bao gồm việc biện phân và tuyển lựa các ứng viên theo một số tiêu chuẩn. Họ cần có những động lực thích hợp, những phẩm chất nhân bản phù hợp và đời sống đức tin căn bản.118 Những phương pháp kỹ thuật hiện đại, như là sự đánh giá về tâm lý học, có thể trợ giúp cho tiến trình tuyển lựa. Tiến trình đào tạo cần hàm dưỡng đời sống đức tin và ơn gọi cho các ứng viên. Việc đào tạo và tự đào tạo cần được thu xếp trong một nhóm nhỏ, để cho sự hướng dẫn riêng tư và mức trưởng thành nhân bản của các ứng viên được tăng cường.
b. Phẩm Chất Thiết Yếu của Người Đào Tạo
Việc tuyển lựa các nhà đào tạo cũng cần được tiến hành theo một số tiêu chuẩn. Các ngài phải là những con người thánh thiện với kinh nghiệm mục vụ và rao giảng Phúc Âm hiệu quả, và có khả năng về trình độ học thuật. Những giáo dân có khả năng cũng có thể được mời để họ cống hiến các ân huệ Chúa ban cho tiến trình đào tạo ở chủng viện. Tất cả những người có liên hệ với công việc huấn luyện ở chủng viện, cả giáo sĩ và giáo dân, bao gồm những người cùng chủng sinh lo công tác mục vụ, cần được xem như là thành phần của đội ngũ đào tạo.
Vị giám đốc và đội ngũ đào tạo trực tiếp sát cánh với ngài có một vai trò quyết định trong việc tạo ra một bầu khí bao gồm ý thức về sự thánh thiêng, về học vấn, về đối thoại, và về phục vụ. Cần làm rõ chuyện này là không phải bất cứ linh mục nào cũng có thể là nhà linh hướng hữu hiệu, vì việc linh hướng không phải là một chức năng, nhưng là một nghệ thuật.119
c. Cần Có Đường Lối Lượng Định Hiệu Quả
Chủng viện không chỉ là một cơ chế hàn lâm. Do đó, chủng viện cần thiết lập các phương tiện lượng định chủng sinh. Các nhà đào tạo và chính các chủng sinh cần làm việc theo phương cách hợp tác. Việc lượng định cần phải bao gồm mọi khía cạnh của đời sống chủng viện: Nó phải toàn diện và đối xử với chủng sinh theo một đường lối toàn bộ và thích đáng. Như thế, việc lượng định phải do hội đồng và các giáo sư, chính chủng sinh và nhóm anh em bạn thực hiện. Một số bản mẫu câu hỏi cũng có thể thích hợp. Có lẽ một kỳ tĩnh tâm là cách tốt nhất để tiến hành chuyện này. Sau cùng, đối với các chủng sinh đang lo phục vụ nhiều người ở ngoài chủng viện, vị giám đốc cũng nên tham khảo những người đó để họ cũng đánh giá về chủng sinh đó.
3. Đời Sống Cầu Nguyện trong Việc Đào Tạo Thiêng Liêng cho Các Chủng Sinh120
a. Ý Nghĩa Sống Còn của Cầu Nguyện
Cầu nguyện là nguồn ánh sáng và nghị lực xuất phát từ Chúa để làm sống động và nuôi dưỡng toàn bộ đời sống và hoạt động của mỗi người và mỗi cộng đoàn, với ân huệ là sự hiện diện của Chúa và việc làm của Chúa Thánh Thần trong lòng người. Cầu nguyện làm cho con người có khả năng hướng về Thiên Chúa và gọi Ngài là Cha với niềm tin tưởng. Cầu nguyện là quà tặng Chúa ban và bám rễ sâu trong đức tin. Người ta cầu xin nhân danh Chúa Giêsu, cầu xin Chúa Giêsu và cùng với Chúa Giêsu mà cầu xin Chúa Cha, trong mối hiệp thông với Hội Thánh.
Thánh Thể, suối nguồn và tột đỉnh của việc thờ phượng, là trung tâm của lời cầu nguyện Kitô giáo. Nơi Thánh Thể, Chúa Giêsu tự hiến cho Chúa Cha và nhân loại, qua việc Ngài chết và sống lại cho thế gian được sống. Bằng cách trao hiến mạng sống vì chúng ta, Chúa Giêsu dạy chúng ta cũng trao hiến mạng sống mình vì người khác (Ga 3,16). Nhờ ơn Thiên Chúa, kinh nghiệm về sự hiện diện và hoạt động của Chúa Giêsu phải được chúng ta tăng cường và đào sâu, và lòng chúng ta phải mở ra để đón nhận dồi dào hoa trái của Chúa Thánh Thần: yêu thương, bình an, tốt lành, dịu dàng (Gl 5,22).
b. Tương Tác Giữa Các Cách Thức Cầu Nguyện Kitô Giáo và Á Châu
Việc đào tạo bằng cầu nguyện cho các ứng viên linh mục theo các cách thức cầu nguyện và thờ phượng truyền thống của Á Châu tìm được sự thích hợp và tầm quan trọng mang tính sống còn: thống nhất cơ thể – tâm linh, nội tâm, nội tại, các dạng chiêm niệm (Thiền, Yoga), khổ chế, các kiểu diễn tả đức tin và lòng sùng đạo bình dân. Công việc đào tạo này phải vừa đích thực Kitô giáo vừa đích thực Á Châu. Nó có thể làm cho ứng viên trở thành người của Chúa và người cho kẻ khác, bằng việc huấn luyện những người được trao phó cho họ đi vào con đường cầu nguyện và trở lại với Chúa trong mọi biến cố thăng trầm của đời sống hằng ngày.
Việc đào tạo như thế sẽ làm cho chủng sinh quen thuộc với việc hội nhập văn hoá, bằng việc sử dụng tất cả những gì là chân, thiện, mỹ trong các truyền thống và văn hoá Á Châu (những tập tục, khôn ngoan, giáo huấn, nghệ thuật và các khoa học) để chúc tụng Thiên Chúa và loan báo Tin Mừng. Thái độ này sẽ trở nên thích hợp để tăng triển con người toàn diện trong mối tương quan nhạy bén với người khác, đặc biệt là với người nghèo, người bị áp bức và bị loại trừ (để nhìn bằng con mắt của Chúa và yêu thương bằng con tim của Chúa). Đây là chứng tá hùng hồn cho tình yêu Chúa và Nước Thiên Chúa. Tinh thần sẵn sàng và cởi mở như thế chuẩn bị cho cuộc đối thoại vốn là một con đường cấp bách để hiện diện và truyền giáo tại Á Châu.

B. Những Chỉ Thị và Nguyên Tắc Chỉ Đạo của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
Các Giám Mục Việt Nam cũng đã tỏ lòng lo lắng và quan tâm ưu ái đối với việc đào tạo thiêng liêng cho các chủng sinh thông qua các Thư Mục Vụ. Các ngài đã chọn thái độ lắng nghe và nỗ lực hiểu biết Dân Chúa trong hoàn cảnh mới, chú tâm đào tạo đúng theo những định hướng của Công Đồng Vaticanô II, đi vào thế giới đương đại bằng cách làm chứng tá cho giá trị Tin Mừng giữa những thực tại trần thế của đất nước và của dân chúng. Các ngài cố gắng hiểu biết những điều kiện của người khác và kêu gọi canh tân Giáo Hội địa phương qua cầu nguyện và các bí tích.
Trong Thư Mục Vụ 1976, các ngài kêu gọi Dân Chúa sống đức tin một cách tích cực bằng cách dấn thân phục vụ với tấm lòng cởi mở, khiêm tốn, cộng tác nhằm đến hạnh phúc của mọi người, theo mẫu gương của Chúa Kitô nhập thể, qua đường lối đối thoại và cộng tác, vượt qua khác biệt giữa Công giáo và Cộng sản,121 đề cao giá trị của lao động.122 Các ngài nhắc nhở các linh mục và chủng sinh hình ảnh Chúa Kitô, căn tính của linh mục:123 như là những thừa tác viên của Lời Chúa và các Bí Tích, đặc biệt là Thánh Thể, lòng khiêm tốn và vâng phục, luôn hoán cải và canh tân đời sống theo thánh ý Thiên Chúa, trong tình hiệp thông và liên đới.
Trong Thư Mục Vụ 1980, các Giám Mục Việt Nam đã nhấn mạnh định hướng mục vụ: sống gần gũi với Chúa Giêsu và hiệp thông với Hội Thánh Hoàn Cầu, gắn bó với Đức Giáo Hoàng và với nhau như cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi và trung thành với tinh thần Công Đồng Vaticanô II. Điều này đòi hỏi một sự hoán cải lương tâm liên tục và thay đổi đời sống cho phù hợp với Tin Mừng, bằng cách lắng nghe Lời Chúa và đón nhận các bí tích, kiên trì cầu nguyện và kiểm điểm đời sống mình một cách chân thành.124 Các ngài kêu gọi người Công giáo “sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc với tinh thần phục vụ hạnh phúc của mọi người.”125 Các ngài đặc biệt nhắc nhở các linh mục luôn tìm kiếm ý Chúa qua việc loan báo Tin Mừng và cử hành các bí tích để xây dựng Hội Thánh, và làm cho Chúa Kitô hiện diện giữa các tín hữu bằng tinh thần phục vụ khiêm tốn và chuyên cần trong mối hiệp nhất với Giám Mục của mình.
Với Thư Mục Vụ 1989, các ngài thúc giục người Công giáo về sứ mệnh truyền giáo, đáp lại lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng về tân Phúc Âm hoá bằng cách chia sẻ niềm vui và hy vọng, đau khổ và buồn sầu với đồng bào,126 và bằng cách xây dựng một cuộc sống hoàn hảo (Pl 4,8). Các ngài phó thác việc này cho Trái Tim Vẹn Sạch Mẹ Maria.
Về các linh mục và việc đào tạo linh mục, Thư Mục Vụ 1998 nhắc nhở rằng các Kitô hữu cần có những mục tử nhiệt thành và người hướng dẫn thiêng liêng; rằng gương mẫu bản thân của các nhà đào tạo có một vai trò then chốt trong tiến trình đào tạo.127 Với ước mong rằng các ơn gọi tu sĩ và linh mục luôn được chăm sóc và nuôi dưỡng, các Giám Mục Việt Nam nhắc nhở các linh mục về cả hai sứ mệnh đồng thời là loan báo Tin Mừng và canh tân Giáo Hội, củng cố lòng tin và căn tính Kitô hữu, bởi vì một khi được chia sẻ, đức tin sẽ còn tiến xa hơn và tự củng cố chính mình.128
Các Giám Mục Việt Nam nhấn mạnh đến các yếu tố canh tân đời sống thiêng liêng trong Thư Mục Vụ 2001: Lời Chúa, các Bí Tích và đời sống cầu nguyện là những cách thức hiệu quả có khả năng tự canh tân. Mối hiệp thông sâu xa với Thiên Chúa cũng sẽ tẩy sạch nơi chúng ta lòng ích kỷ và cho chúng ta sức mạnh để quảng đại phục vụ người khác, theo mẫu gương của Chúa Giêsu Kitô.129
Trong Thư Mục Vụ 2003, các ngài thúc giục người Công giáo loan báo Tin Mừng qua cầu nguyện, qua chứng tá đời sống và đối thoại với người không Công giáo, bằng cầu nguyện, thăm viếng, cùng làm việc và chia sẻ những của cải vật chất. Những đường lối loan báo Tin Mừng / Truyền Giáo được rút ra từ nguồn sống của Chúa Ba Ngôi, theo gương Chúa Giêsu Kitô, trung thành với truyền thống của Giáo Hội tiên khởi và vâng nghe giáo huấn của Hội Thánh.
Và mới đây trong Thư Mục Vụ 2004, các ngài tập trung vào tâm điểm và tột đỉnh của đời sống thiêng liêng: Chúa Giêsu Thánh Thể. Các ngài nhấn mạnh rằng chức linh mục thừa tác có cội nguồn từ Thánh Thể và dẫn đưa tới Thánh Thể. Các linh mục phải làm chứng về lòng tin, lòng sùng kính và yêu mến đối với Thánh Thể. Điều này diễn tả qua cách thức cử hành, cầu nguyện trước Thánh Thể và mang Thánh Thể tới cho người bệnh. Lòng sùng kính Thánh Thể là suối nguồn phong phú dồi dào cho đời sống và thừa tác vụ linh mục130 Các ngài mời gọi các linh mục nhìn lại việc cử hành phụng vụ của mình và thúc giục các linh mục cử hành bằng lòng sùng mộ theo đúng qui tắc phụng vụ. Đồng thời các ngài đề nghị dành một vị trí đặc biệt cho việc viếng Thánh Thể,131 ta sẽ tìm được nguồn trợ lực và an ủi như lời Chúa Giêsu đã nói (x. Mt 11,28). Đó là lý do tại sao Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II khuyên dành thời gian với Chúa Giêsu hiện diện dưới hình bánh rượu nơi Thánh Thể: “Biết bao lần tôi đã cảm nghiệm điều này, và rút được từ đó sức mạnh, nguồn an ủi và nâng đỡ.”132
Tóm lại, từng bước một, ta luôn nhắm mục đích giúp các ứng viên lớn lên không ngừng và tiệm tiến trong mối tương quan cá nhân với Chúa Giêsu Kitô và trong việc họ cam kết dấn thân cho Hội Thánh. Nghĩa là giúp họ thiết lập nên những thái độ, thói quen, và cách thực hành đời sống thiêng liêng mà họ sẽ tiếp tục duy trì sau khi chịu chức.
GHI CHÚ
113 FABC, “Seminary Formation for Priesthood in Asia”: Seventh Plenary Assembly- Workshop Discussion Guide by Vicente Cajilig, Ucanews.com/fabc-workshop, truy cập ngày 7-10-2004.
114 Bộ Giáo sĩ, The Priest, Pastor and Leader of the Parish Community, Zenit.org/english, truy cập ngày 25-1-2005.
115 FABC, “Seminary Formation for Priesthood in Asia”…, ibid.
116 FABC, “Priest in the Asian Context”: Seventh Plenary Assembly - Workshop 4, by Vicente Cajilig, Ucanews.com/fabc-papers/workshop-report, truy cập ngày 7-10-2004.
117 FABC, “Priest in the Asian Context”…, ibid.
118 Vaticanô II, Optatam Totius…, ibid., số 6.
119 FABC, “General Observation and Suggestions on Formation”: Workshop Discussion Guide by Vicente Cajilig, Ucanews.com/fabc-papers/workshop-report, truy cập ngày 7-10-2004.
120 FABC Documents in For all the Peoples of Asia 1 (Quezon City: The Claretian Publications, 1991), tr. 27-48.
121 HĐGMVN, Thư Mục Vụ 1978, số 7.
122 Ibid.,số 8.
123 HĐGMVN, Thư Mục Vụ 1978, số 12; Vaticanô II, Presbyterorum Ordinis…, số 4-6, 15.
124 HĐGMVN, Thư Mục Vụ 1978, số 8.
125 Ibid …, số 13.
126 Vaticanô II, Gaudium et Spes…, ibid., số 1.
127 HĐGMVN, Thư Mục Vụ 1998, số 15.
128 HĐGMVN, Thư Mục Vụ 1998, số 15; Đức Gioan Phaolô II, Redemptoris Missio: Encyclical Letter on the Mission of the Redeemer, số 2.
129 HĐGMVN, Thư Mục Vụ 2001, số 21.
130 HĐGMVN, Thư Mục Vụ 2004, số 11.
131 Ibid …, số 12.
132 John Paul II, Ecclesia de Eucharistia, n. 2 in Celebrating the Eucharist with Mary: A Guidebook (Metro Manila, Philippines: Assisi Development Foundation, Inc.,

CHƯƠNG VI
ÁP DỤNG GIÁO HUẤN CỦA HỘI THÁNH VÀO VIỆC
ĐÀO TẠO THIÊNG LIÊNG CHO CÁC CHỦNG SINH

A. Viển Ảnh Chức Linh Mục Áp Dụng Vào Việc Đào Tạo Thiêng Liêng
Đâu là mẫu linh mục mà người ta nhắm đào tạo cho Hội Thánh và cho thế giới ngày nay? Chủng sinh được uốn nắn theo mẫu nào? Câu trả lời phải vừa thực tiễn, vừa lý tưởng, vì linh mục phải nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu Kitô, như là Đầu và Mục Tử của Hội Thánh,133 kiểu mẫu duy nhất của các linh mục, đáp ứng với thực tế đa dạng của Hội Thánh và thế giới, hôm nay và ngày mai.
Kiểu mẫu lý thuyết là nền tảng cho khoa sư phạm hiện nay về việc đào tạo linh mục, nhằm làm cho chủng sinh trở thành Thầy Dạy Lời Chúa, Thừa Tác Viên Bí Tích, và Lãnh Đạo Cộng Đoàn,134 như Huấn Quyền Hội Thánh gợi hứng và trình bày: một con người vừa thấm nhuần thiêng liêng vừa thấm nhuần nhân bản, và kiên quyết dấn thân trong ơn gọi linh mục, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
Ta có thể tóm lược những quan điểm của Công Đồng Vaticanô II về chức linh mục: Liên hệ với Giám Mục như người cộng sự, linh mục phải nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu và làm chứng cho Lời. Đời sống thiêng liêng của linh mục chính là chu toàn thừa tác vụ của mình, như là người phục vụ, chứ không phải dùng quyền mà thống trị trên cộng đoàn. Ngài hành động nhân danh và con người của Chúa Kitô để xây dựng và đảm bảo nguồn gốc tông truyền của Cộng Đoàn Kitô giáo, như là mục tử và người chủ toạ cộng đoàn.
Các linh mục hôm nay phải nhìn nhận và thăng tiến phẩm giá, việc đồng trách nhiệm và các đặc sủng của giáo dân trong tinh thần bình đẳng, tương trợ, hài hoà và liên đới với giáo dân, để họ tự do trong lĩnh vực và vai trò riêng của họ. Cuối cùng, vì sự thống nhất và hoà giải của cộng đoàn tín hữu, linh mục không nên trực tiếp tham gia các tổ chức và đảng phái chính trị.135 Mẫu linh mục toàn diện như thế phải được đào tạo một cách hài hoà cùng với việc tích cực tự đào tạo của mỗi ứng viên.
1. Linh Mục, Người Được Chúa Thánh Thần Thánh Hiến, Chiếm Hữu và Hướng Dẫn
Trước hết, linh mục phải tự để cho Chúa Thánh Thần chiếm hữu (Lc 1,15.41.67; 4,18-19; Is 61,1-2; Cv 2,4; 4,8) và hướng dẫn (Mt 4,1; Mc 1,12; Lc 4,1.11). Vì Chúa Thánh Thần là Đấng mà linh mục đã nhận lãnh từ khi chịu phép rửa tội và trở thành đền thờ của Ngài (Mc 1,8; Lc 3,16; Ga 1,33;3,5; Cv 1,5), đặc biệt từ khi chịu chức thánh với quyền tha tội (Ga 20,22), bằng cách hành động nhân danh và con người của Chúa Kitô.
Được Chúa Cha và Chúa Giêsu sai đến, Thần Khí Sự Thật sẽ dạy linh mục mọi điều và nhắc nhở ngài tất cả những gì Chúa Giêsu đã nói (Ga 14,26). Cũng chính Thần Khí đó sẽ dạy linh mục điều ngài phải nói (lc 12,12) và sẽ nói thay cho ngài (Mt 10,20; Mc13,11). Nghĩa là linh mục không chỉ chu toàn đời sống riêng mình, nhưng còn thừa tác vụ linh mục, nhờ sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần qua bảy ơn136 của Ngài (khôn ngoan, trí hiểu, thông biết, can đảm, tư vấn, đạo đức và kính sợ Chúa). Cách ứng xử thích đáng của linh mục là luôn trung thành và “nghe theo những linh hứng của Chúa Thánh Thần,”137 để sinh hoa trái và mang hoa trái của Chúa Thánh Thần đến cho người khác (bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, quảng đại, dịu dàng, trung tín, khiêm nhường, tiết độ và trong trắng). Chúa Thánh Thần luôn họat động trong công trình sáng tạo và trong lịch sử nhân loại, trong cuộc sống và sứ vụ của Chúa Giêsu, trong Hội Thánh, Nhiệm Thể Chúa Kitô, đặc biệt là trong Hội Thánh tại Á Châu.138
2. Linh Mục, Con Người Đạo Đức và Cầu Nguyện
Linh mục phải thực sự là một con người có đời sống cầu nguyện và thiêng liêng sâu xa, nghĩa là có mối hiệp thông cá nhân sâu xa với Chúa Cha qua Chúa Con, nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần.139 Điều này được diễn tả trong mối tương quan với người khác, linh mục nhìn bằng ánh mắt của Chúa và yêu thương bằng trái tim của Chúa.140
Đời sống cầu nguyện của linh mục khiến ngài có khả năng nhận thức được chính mình và sự tuỳ thuộc của ngài, thậm chí cả chức linh mục của ngài, vào Chúa (Dt 5,4-6); nhận thức được sự hiện diện của Thiên Chúa và công trình của Chúa Thánh Thần trong cuộc sống hằng ngày nhờ sự tự hiến và phó dâng hoàn toàn cho Thiên Chúa, theo gương Chúa Giêsu Kitô.
Lời cầu nguyện của linh mục là lời cầu nguyện trong lòng Hội Thánh, đặc biệt là lời cầu nguyện thuộc Hội Thánh và mang tính bí tích trong Phụng Vụ, mà suối nguồn và chóp đỉnh là Thánh Thể.141 Lời cầu nguyện này của linh mục được lồng vào trong lời cầu nguyện của Chúa Giêsu: Linh mục cầu nguyện nhân danh Chúa Giêsu và cầu nguyện với Chúa Giêsu và cầu nguyện lên Chúa Giêsu.
Đời sống cầu nguyện của linh mục giúp ngài tìm được Chúa Giêsu nơi người khác, đặc biệt là người đau khổ, bệnh tật, nghèo đói, bị loại trừ, bị áp bức và bất lực, để yêu thương họ và phục vụ họ như Chúa Giêsu đã dạy và đã thực hành. “Người ta mong chờ điều này nơi linh mục: Họ thật sự nhìn ngài như là một người của Thiên Chúa, một người có kinh nghiệm về Thiên Chúa. Một điều người ta mong muốn linh mục phải làm là dạy họ cách cầu nguyện.”142
3. Linh Mục, Con Người của Linh Thánh
Linh mục tương lai phải nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu và được kêu gọi tiếp nối sứ mệnh của Chúa Giêsu, Đấng đã được Chúa Cha thánh hoá và sai đến thế gian (Ga 10,36); Đấng được Chúa Thánh Thần xức dầu, thánh hiến và chiếm hữu (Lc 4,18-19). Do vậy, được kêu gọi nên thánh thiện,143 ứng viên linh mục phải được đào tạo và tự đào tạo để trở thành con người cua linh thánh, vì linh mục là người của Thiên Chúa, “là người thuộc về Thiên Chúa và làm cho con người nghĩ đến Thiên Chúa, là một người sẽ giúp con người hướng về Thiên Chúa, đi lên với Thiên Chúa.”144 Nhân tố “linh thánh” trong các tôn giáo truyền thống Á Châu là rất quan trọng và khả tín đối với sứ mệnh của Hội Thánh tại Việt Nam. Cùng một đường hướng với Pastores Dabo Vobis, Ecclesia in Asia dạy rằng con người Á Châu cần thấy hàng giáo sĩ như là “những người mà lòng trí luôn đặt để trong những thực tại sâu xa thuộc Thần Khí.”145
Các tăng ni Phật giáo và Lão giáo có một kỷ luật tinh thần, nghiêng về chiêm niệm hơn là hoạt động, nhấn mạnh đến việc tự chế, quên mình và siêu thoát khỏi thế giới, nhằm chống lại những cám dỗ và say mê tìm sự giải thoát. Thực tế này “thách thức các linh mục Công giáo đào sâu đời sống thiêng liêng của mình; nếu không, chứng từ của họ trong xã hội Việt Nam sẽ thiếu thuyết phục.”146
Chúng ta nên học tập họ và tăng cường đời sống nội tâm mang tính truyền giáo của mình. Thực ra, các linh mục có thể học hỏi cách sống của các tôn giáo đó như là cánh cửa dẫn tới Thần Linh và là một phương tiện hiệp thông với Đấng Thánh Thiêng.147 Nếu các ngài hân hoan và trung thành sống lối sống và các nhân đức Tin Mừng (vâng phục, nghèo khó và trong sạch), chứng từ và sứ vụ của họ sẽ rất hữu hiệu. “Điều này là xác thực trong bối cảnh Á Châu, nơi mà con người thường bị thuyết phục bởi đời sống thánh thiện hơn là lý lẽ trí thức.”148 Trong Hội Thánh, linh mục có mọi phương tiện thích hợp,149 cả tự nhiên lẫn siêu nhiên, để trở thành một con người linh thánh. Điều quan trọng nhất là thực hành các phương tiện ấy trong đời sống hằng ngày.
4. Linh Mục, Người Có Nền Tảng Thánh Kinh Vững Chắc
Linh mục sống giữa trần gian nhưng không thuộc về trần gian, mà thuộc về Chúa Kitô và Hội Thánh Ngài. Linh mục được “kêu gọi để biến đổi trần gian, chứ không để bị trần gian biến đổi.”150 Thế nên linh mục phải là một con người của Đức Tin với một nền tảng Thánh Kinh vững chắc cho cuộc sống và sứ vụ của mình.151
Mọi khủng hoảng đều do thiếu đức tin. Quả thế, linh mục cũng có thể bị ảnh hưởng bởi nhân tố văn hoá và tâm thức xã hội do những cơ cấu chính trị và tôn giáo tạo nên. Ví dụ, chịu ảnh hưởng từ Khổng giáo, chế độ phong kiến, thực dân, các cơ cấu gia trưởng và phẩm trật trong Hội Thánh thời tiền Vaticanô II, linh mục Việt Nam đôi khi phải chịu đựng những thử thách và đấu tranh trong việc vâng phục với ba loại tùng phục (quyền phục, lý phục, và tâm phục).
Nhưng với đức tin mạnh mẽ ăn rễ sâu trên nền tảng Thánh Kinh vững chắc đặt trọng tâm nơi Chúa Giêsu, nơi Tin Mừng, và nơi Hội Thánh, với lời cầu nguyện và sự biện phân, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, ngài sẽ tự nguyện vâng phục một cách siêu nhiên những vị lãnh đạo và các cơ cấu Hội Thánh, không phải với tư cách là cơ cấu hay hữu thể con người, nhưng là ý Chúa nơi và qua những cơ cấu hay con người đó.
Việc đào tạo thiêng liêng cho các chủng sinh Việt Nam cần để tâm tới những ảnh hưởng về văn hoá và những yếu đuối của con người: Siêu nhiên ở trong tự nhiên để nâng lên và hoàn thiện tự nhiên. Nhưng ta cũng phải nhẫn nại lưu ý tới trình độ trưởng thành thiêng liêng và nhân bản của các chủng sinh: “Tôi đã cho anh em uống sữa chứ không cho dùng thức ăn cứng, vì anh em chưa chịu nổi. Ngay bây giờ anh em cũng vẫn còn chưa chịu nổi” (1 Cr 3,2).
5. Linh Mục, Người Mở Ra cho Tình Hiệp Thông
Ta không thể định nghĩa căn tính và sứ vụ linh mục bên ngoài mối hiệp thông bắt nguồn từ Chúa Ba Ngôi và nơi Chúa Ba Ngôi. Vaticanô II nhắc nhở chúng ta rằng”việc đào tạo cần giúp chủng sinh sống sự hiệp nhất liên lỉ và mật thiết với Thiên Chúa Cha qua Con Ngài là Chúa Giêsu Kitô, và trong Chúa Thánh Thần.”152
Linh mục phải là người của Hội Thánh, là người sẽ sống mối hiệp thông trọn vẹn của Hội Thánh qua mối hiệp thông phẩm trật với Đức Giáo Hoàng, với hàng Giám Mục, đặc biệt là với Giám Mục Bản Quyền của mình trong tâm tình vâng phục hiếu thảo;153 tăng triển trong và cùng với hàng linh mục trong tình hiệp nhất với Giám Mục của mình,154 với giáo dân và mọi người sống đời thánh hiến, nghĩa là với toàn thể Dân Chúa, để xây dựng toàn bộ Nhiệm Thể Chúa Kitô (Ep 4,12).
Đây là lời cầu nguyện tha thiết của Đức Gioan Phaolô II cho những thừa tác viên chức thánh thuộc Hội Thánh tại Á Châu: “sống và làm việc trong tinh thần hiệp thông và hợp tác với hàng Giám Mục và mọi tín hữu, để làm chứng cho tình yêu.”155 Với tư cách là con người của hiệp thông, linh mục phải sống và xây dựng mối hiệp thông của toàn thể nhân loại và thế giới được tạo thành. Thế giới được tạo thành vẫn đang đợi chờ Nước Thiên Chúa và tha thiết trông mong ngày giải thoát toàn thể vũ trụ (Rm 8,18-23). “Mối hiệp thông và sứ vụ luôn đi đôi với nhau”156 và kết nối với nhau không thể tách lìa.
6. Linh Mục, Người Dấn Thân Truyền Giáo157
Công Đồng Vaticanô II giúp Hội Thánh tái khám phá ra căn tính truyền giáo của mình. Quả thế, Truyền giáo thuộc về chính bản chất của Hội Thánh,158 là cảm thức và ý nghĩa, là nguồn gốc và mục đích của Hội Thánh.159 Bởi thế, tự bản chất linh mục là nhà thừa sai và phải luôn luôn thiết tha với việc truyền giáo. Nếu không, ngài không còn là một linh mục nữa và đánh mất căn tính của mình là thừa tác viên của Lời Chúa.
Linh mục phải coi việc loan báo Tin Mừng là ưu tiên số một, thậm chí còn hơn cả việc thờ phượng mang tính bí tích và việc chăm sóc mục vụ:160 “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!” (1 Cr 9,16). Đấng Cứu Độ đã được sinh ra ở Á Châu, nhưng Kitô giáo ngày nay lại là nhóm thiểu số tuyệt đối nơi lục địa lớn nhất trái đất với gần hai phần ba dân số nhân loại.161 Vì vậy, linh mục phải rất lưu tâm đến lời kêu gọi khẩn thiết phải tiếp tục công việc truyền giáo của Chúa Giêsu cho đồng bào mình, với lòng khát khao cháy bỏng là làm cho mọi người biết và yêu mến Chúa Kitô.
Vaticanô II mở rộng nhãn quan chúng ta về Nước Thiên Chúa và thôi thúc chúng ta sống sứ mệnh Truyền giáo, với lòng tin tưởng Chúa Thánh Thần đã “khơi dậy một tinh thần truyền giáo thực sự trong lòng nhiều linh mục và tín hữu.”162 Và Thượng Hội Đồng Giám Mục Đặc Biệt của Á Châu và Liên Hiệp Hội Đồng Giám Mục Á Châu chỉ ra con đường mới mẻ trong sự hiện diện của Hội Thánh với ba chiều kích đối thoại. Những hoạt động của Hội Thánh địa phương tại Việt Nam trong dịp cử hành 470 năm loan báo Tin Mừng (1533-2004) là lời nhắc nhở quí giá và lời mời gọi khẩn thiết đối với việc truyền giáo: việc truyền giáo của người Châu Á cho người Châu Á.
7. Linh Mục, Người của Đối Thoại
Con đường đối thoại163 bắt nguồn và khởi đầu từ Thiên Chúa, Đấng luôn duy trì cuộc đối thoại với con người, đặc biệt với người nghèo, người bị áp bức, và người bị ruồng bỏ. Với tư cách là sứ giả của Thiên Chúa và thừa tác viên của Hội Thánh, linh mục phải là con người của đối thoại.
Đối với Á Châu, cái nôi của nhiều truyền thống văn hoá, những tôn giáo lớn và đa số người nghèo trên thế giới, sứ mệnh này lại càng khẩn thiết và thích hợp hơn. Vì thế, các chủng sinh phải được huấn luyện kỹ càng về các kỹnăng đối thoại. Chúng ta không chỉ cần ba cuộc đối thoại mà Liên Hiệp Hội Đồng Giám Mục Á Châu đã chỉ ra như là cách thế hiện diện và thi hành sứ mệnh truyền giáo (đối thoại với các nền văn hóa, với các tôn giáo và với người nghèo), mà trong bối cảnh riêng biệt ở Việt Nam, chúng ta còn cần cuộc đối thoại thứ tư, đối thoại với người cộng sản.164 Nhưng không được xao nhãng cuộc đối thoại đại kết trong lòng Hội Thánh.165
8. Linh Mục, Người của Truyền Thông Xã Hội
Ngày nay, không ai có thể phủ nhận vai trò quan trọng và ảnh hưởng ghê gớm của phương tiện truyền thông đại chúng, những ích lợi và tác động tai hại của nó trong đời sống con người, “cách riêng thế hệ trẻ đang lớn lên trong một thế giới bị lệ thuộc vào phương tiện thông tin đại chúng.”166
Linh mục phải hiểu cách sử dụng những phương tiện truyền thông xã hội hiện đại như là những dụng cụ hiệu quả để sống hiệp thông bằng lòng và trí với toàn thể Hội Thánh, để cập nhật kiến thức thần học và mục vụ của mình, cũng như giáo huấn luân lý và xã hội của Hội Thánh, để thông truyền sứ điệp Tin Mừng và gia tăng đời sống thiêng liêng. Ở thời đại chúng ta, linh mục phải học cách sử dụng đúng đắn phương tiện truyền thông, dĩ nhiên không phải như là chuyên gia và chuyên nghiệp trong lãnh vực này, để sử dụng và hướng dẫn người khác cách sử dụng phương tiện thông tin một cách đúng đắn trong đời sống hằng ngày.
Vì thế, Đức Gioan Phaolô II khuyên nhủ rằng giáo dục về truyền thông cần phải là một mảng ngày càng gia tăng trong việc đào tạo linh mục, chủng sinh, tu sĩ, giáo lý viên, các giáo dân chuyên nghiệp, sinh viên…, theo chỉ dẫn của Huấn Thị Mục Vụ Aetatis Novae, với sự chú ý thích hợp đối với những cảnh huống đang phổ biến ở Á Châu.”167
9. Linh Mục, Người Nhạy Bén với Đổi Thay Xã Hội
Mọi thứ đang đổi thay và tiếp tục đổi thay nhanh chóng. Linh mục phải là con người liên kết cách hài hoà với những hoàn cảnh thay đổi hiện tại trên thế giới. Ngài phải luôn sẵn sàng nhậy cảm đọc được những dấu chỉ thời đại, đón nhận những đổi thay mới mẻ và tự thích ứng bằng lòng can đảm và sự khôn ngoan sáng suốt với những dấu vết của Chúa Thánh Thần, Đấng đổi mới mọi sự (Kh 21,5).
Vì thế, Công Đồng Vaticanô II khích lệ các linh mục hoàn thiện một cách phù hợp và không gián đoạn kiến thức về những sự thánh và những công việc của con người để có thể trao đổi đàm luận với những người đương thời cho đúng lúc đúng chỗ hơn.168 Sự nhậy bén sẽ giúp linh mục hiểu rõ ràng hơn những nhu cầu của con người, nhận thức được những vấn nạn không thành lời của họ, đáp lại những yêu cầu của họ, chia sẻ những niềm hy vọng, mong đợi, niềm vui và gánh nặng của họ.169
Sự nhậy bén này cũng gợi lên và hướng dẫn những đổi thay của trí não và con tim hướng tới sự hoán cải liên tục về với Thiên Chúa và người khác, bằng cách “để mọi việc cứ qua đi và để Chúa lo liệu.” Thiên Chúa luôn canh tân lời kêu gọi của Ngài qua Tin Mừng, qua các dấu chỉ thời đại, qua những con người, những biến cố và những thăng trầm của đời sống hằng ngày, thì linh mục và tất cả những ai theo Chúa Giêsu cũng đều phải luôn canh tân lời đáp trả cho phù hợp. Theo nghĩa này, linh mục trở nên một người khiêm tốn phục vụ bất cứ việc gì, bất cứ ở đâu, bất cứ khi nào và theo bất cứ cách nào mà con người cần ngài.
10. Linh Mục, Người Của Tác Vụ Ngôn Sứ
Sau hết, linh mục bị buộc phải sống tác vụ ngôn sứ. Quả thực, “Thiên Chúa quá yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình cho thế gian” và Con Một Ngài, Chúa Giêsu Nadarét là mặc khải liên tục của tình yêu tha thiết Thiên Chúa dành cho con người. Để thi hành sứ vụ ngôn sứ của mình, Chúa Giêsu rao giảng Bát Phúc, người con hoang đàng, người Samaria Tốt Lành; Ngài đến với những người tội lỗi, gái điếm, ngoại tình, bị ruồng bỏ, những người nghèo, những người ngoài lề xã hội và bị loại bỏ; dù Ngài bị phê phán là kẻ điên rồ và phản động.
Nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu, linh mục phải thực thi tác vụ ngôn sứ của mình, với hết tấm lòng, hết linh hồn và hết sức lực mình, trong hai nhiệm vụ quan trọng này:
* Loan báo và sống tình yêu đam mê hai mặt của Chúa Giêsu: đam mê Thiên Chúa và Nước Thiên Chúa, và đam mê con người;170
* Tố cáo thói giả hình, bất công, áp bức, v.v… dù phải trả giá bằng thập giá và cái chết (Đức Cha Oscar Romero và mục sư Martin Luther King là những nhân chứng thời hiện đại).
Vâng, ở đây và bây giờ, linh mục có cơ hội để tuyên bố và giới thiệu cho thế giới và Dân Chúa sứ điệp yêu thương của Ngài. Đồng thời, linh mục phải nhắc nhở con người dấn thân vào mối tương quan giao ước với Thiên Chúa. Hơn nữa, dù đó là nhiệm vụ khó khăn và nguy hiểm, ngài cũng phải đóng vai trò chỉnh sửa trong Giáo Hội cũng như trong Xã Hội, bất cứ khi nào có quá nhiều áp bức trong các hệ thống xã hội, chính trị, kinh tế và tôn giáo.171

B. Linh Đạo và Thần Học về Chức Linh Mục
1. Linh Đạo về Chức Linh Mục
Trước hết, nhấn mạnh đến phẩm chất của thừa tác vụ linh mục là đòi hỏi tính trung thực và trưởng thành của linh đạo của đời sống linh mục, qua căn tính, sự thân mật, tính siêu việt và tính toàn diện của linh mục. Linh đạo qui về kinh nghiệm nhân loại liên kết với cái tuyệt đối, trong cả hai, vừa thực tại vừa mầu nhiệm. Linh đạo vén mở cuộc sống của đương sự như là mối tương quan trong ân sủng với Thiên Chúa và người khác trong Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần.
Có mối liên hệ qua lại và tuỳ thuộc lẫn nhau giữa tác vụ và đời sống của linh mục: cả hai, cầu nguyện và rao giảng đều là nền tảng của linh đạo linh mục giáo phận. Chúng là hình thức và cơ cấu của đời sống linh mục trong ân sủng, bám rễ sâu trong đời sống đức tin / cầu nguyện và sự luyện tập thừa tác vụ linh mục, như là tôi tớ của Dân Chúa và Nước Thiên Chúa.
Điều đó có nghĩa là tác vụ của linh mục mang tính cộng đồng hơn, trong một Hội Thánh như là một cộng đoàn lấy con người làm trung tâm, và cộng đoàn ấy làm cho đời sống thiêng liêng của linh mục được lớn lên: khi linh mục giảng dạy, ngài được dạy dỗ; khi khuyên bảo, ngài được khuyên bảo; khi thăm viếng người bệnh, con bệnh là chính ngài được nâng dậy; khi an ủi người đau buồn, ngài tìm thấy sự an ủi; khi phục vụ người nghèo, sự nghèo nàn trong linh hồn ngài tìm được sự nâng đỡ; khi hướng dẫn người khác, ngài tìm được sự hướng dẫn và chỉ đạo; khi chủ toạ Thánh Thể, tinh thần ngài được biến đổi và canh tân; khi cầu nguyện, ngài tiếp xúc với những hoạt động kín đáo của ân sủng.172
Theo nghĩa này, linh đạo của linh mục giáo phận có bốn chiều hướng:
* Chiều hướng Hội Thánh: bao gồm cảm thức Hội Thánh và sự dấn thân cho việc tăng trưởng cộng đoàn, với nhiều dạng canh tân (chia sẻ niềm tin, nhân chứng bác ái chia sẻ cho nhau, cầu nguyện và các nhóm đặc sủng, đồng trách nhiệm, liên đới, đối thoại, hiểu biết lẫn nhau);
* Chiều hướng nhập thể: đối thoại và thúc đẩy một nhận thức tích cực về thế giới và một sự phối hợp cái thiêng liêng và cái trần tục, để biến đổi và thánh hiến thế giới cho Thiên Chúa trong Chúa Kitô;
* Chiều hướng nhắm đến phục vụ trần gian: xem việc phục vụ trần gian như một phần không thể thiếu của linh đạo, và định hướng phục vụ trở nên cam kết sâu sắc hơn trong chiều kích nhập thể của Hội Thánh phục vụ;173
* Chiều hướng giải phóng: liên kết với việc phục vụ trần gian và đáp lại tiếng kêu xin cuộc sống dồi dào, trong viễn cảnh sinh thái học. Chiều hướng này lại tự biểu lộ qua ba cách:
* qua việc chữa lành bằng một thái độ và lối sống chia sẻ đời sống để giúp người thiếu thốn;
* qua một cuộc chiến mang tính ngôn sứ chống lại những bất công của cơ cấu xã hội, dù là dân sự hay thuộc về giáo hội;
* qua việc phát triển những thái độ mới có tính sáng tạo và hy vọng nhằm đưa ra những giải pháp mới mẻ và sáng tạo.174
2. Thần Học về Chức Linh Mục
1) Theo thư gửi tín hữu Do Thái, Chúa Kitô là căn nguyên của mọi chức linh mục. Linh mục nhận được quyền hành trực tiếp từ Chúa Kitô và phải trung thành với Chúa Kitô, chứ không phải với cơ chế;
2) Chức linh mục của Chúa Giêsu được chia sẻ trong toàn thể Hội Thánh, với chức linh mục cộng đồng, được lãnh nhận khi chịu phép rửa của mọi tín hữu. Tác vụ có chức thánh xuất phát từ cộng đoàn nguyên thuỷ gồm mười hai môn đệ của Chúa Giêsu, nơi mà cả Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần cùng trực tiếp hoạt động. Vậy có sự trao đổi qua lại giữa cộng đoàn và thừa tác vụ: Không có thừa tác vụ nào tồn tại bên ngoài cộng đoàn;
3) Chức linh mục là để cho cộng đoàn: Chúa Giêsu lập chức linh mục không chỉ trong Bữa Tiệc Ly, nhưng trải qua suốt cuộc đời công khai của Ngài. Ngài kêu gọi các môn đệ và mong muốn họ tiếp nối công việc và sứ vụ của Ngài;
4) Hội Thánh không bao giờ được hoàn thành hay được xây dựng đầy đủ, nhưng luôn được Chúa Thánh Thần uốn nắn thành một mối hiệp thông của những con người. Sự tràn đầy Thần Khí được biểu lộ trong mọi ân huệ mà các thành viên nhận được;
5) Tác vụ linh mục là một lời kêu gọi và lời đáp trả lại lời mời gọi này. Việc chấp nhận ý Chúa thiết lập nên tác vụ và mối tương quan cá nhân của linh mục với Chúa Giêsu;
6) Thừa tác vụ linh mục là thừa tác vụ ngôn sứ và có thể nói linh mục được kêu gọi để điều khiển một cộng đoàn ngôn sứ, với hai vai trò chính là rao giảng Lời Chúa và cử hành Thánh Thể; và cau cùng
7) Phận vụ của linh mục là đại diện và hành động nhân danh Chúa Giêsu, và linh mục phải luôn là người đại diện của Ngài: không phải để được phục vụ nhưng phục vụ và hiến trao mạng sống mình cho người khác.175

C. Hình Ảnh và Căn Tính của Linh Mục
Việc Đào Tạo Thiêng Liêng “đòi hỏi toàn bộ con người phải dấn thân”176 và làm cho người trẻ sẵn lòng trở thành linh mục nên “một hình ảnh sống động của Chúa Giêsu Kitô.”177 Nghĩa là, chủng sinh sẽ càng ngày càng được đào tạo nhiều hơn để nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô Linh Mục và Mục Tử Nhân Lành178 đối với Dân Chúa.
Vậy việc đào tạo thiêng liêng cung cấp cho linh mục tương lai năm yếu tố:
* một sự hiệp thông sâu sắc với Chúa Giêsu Kitô;
* một sự tuân phục hoàn toàn theo Chúa Thánh Thần;
* một thái độ hiếu thảo đối với Chúa Cha;
* một lòng gắn bó tin tưởng với Hội Thánh;
* và một lối sống ăn rễ sâu từ kinh nghiệm về Thập Giá.
Chúng ta có thể khai triển những cấu tố này của việc đào tạo thiêng liêng cho linh mục tương lai bằng cách sử dụng từ CHRIST theo kiểu lấy các chữ cái đầu 179 cho một nền linh đạo đặt Chúa Kitô làm trung tâm:
Cross (Thập Giá)
Cuộc sống và thừa tác vụ linh mục bắt nguồn nơi Thập Giá Chúa Giêsu, một con đường duy nhất để bước theo Ngài: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24). Mẹ Hội Thánh không bao giờ che giấu thập giá; Hội Thánh tán dương và suy tôn thập giá. Không thể xem thập giá như là một gánh nặng, nhưng đúng hơn như là cây gậy nâng đỡ. “Cuộc sống của linh mục càng cắm rễ sâu vào thập giá, thì càng sinh nhiều hoa quả.”180 Vì thế, chúng ta không bao giờ nên che chắn cho chủng sinh thoát khỏi bóng thập giá, thoát khỏi khía cạnh hy sinh trong cuộc sống và tác vụ của họ.
Humanity (Nhân Tính)
Nhân tính của Chúa Giêsu gây kinh ngạc cho chúng ta, khi chúng ta đọc và suy niệm Tin Mừng (Mc 10,14; 6,35; 1,41; Lc 7,11; Ga 11,35). Ta nhìn thấy nhân tính của Chúa Giêsu cách rõ ràng nhất nơi lòng trắc ẩn của Ngài. Lòng trắc ẩn của Chúa Giêsu khiến Ngài liên kết với mọi người: người bệnh tật và đau khổ, người nghèo đói và bị áp bức, kẻ tội lỗi cũng như các thánh nhân (Mc 10,46; 5,30; Lc 21,2). Linh mục không thể vô cảm, miễn nhiễm hay lãnh đạm trước những nỗi đau buồn và những cuộc đấu tranh của những con người mà ngài săn sóc.181 Sống tác vụ với người bệnh tật và đau khổ, người nghèo đói và thiếu thốn cách nào đó làm chúng ta nên mềm mại và dịu dàng, khiến chúng ta trở nên nhân bản hơn và nên giống Chúa Kitô.182
Reconciliation (Hoà Giải)
Chúa Kitô đến để hoà giải chúng ta với chính mình, với người khác, với Thiên Chúa và với tất cả thế giới được tạo thành. Ngài chữa lành những gì đã bị đổ vỡ, tập hợp những gì đã bị phân tán, hiệp nhất những gì đã bị chia rẽ (2 Cr 5,19; Ga 11,52; Dt 4,15; Mt 11,19; Lc 23,43).
Các nhà đào tạo là những thừa tác viên và sứ giả của sự hoà giải. Nhưng các ngài cũng cần nhận thức sâu xa nơi chính mình rằng các ngài vẫn mang những hạt giống tội lỗi và ích kỷ; rằng các ngài cần hoán cải và hoà giải trước tiên. Đồng thời, các ngài cần đào tạo và giúp các chủng sinh của mình nhận thức, một cách khiêm tốn và trung thực, sự dữ trong lòng họ, để họ phải được hoà giải với chính họ, với người khác, với tạo thành và với Thiên Chúa, và trở nên những sứ giả bình an và hoà hợp trong cộng đoàn chủng viện cũng như trong Hội Thánh và xã hội.183
Interiority (Nội Tâm)
Các Tin Mừng miêu tả Chúa Giêsu như là một con người cầu nguyện trong mối hiệp thông sâu xa nhất với Chúa Cha (Mt 14,23; 26,36.42.44;27,46; Mc 6,46; 14,32; Lc 6,12; 9,18.28; 10,21; 11,1; 23,46). Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ Ngài cầu nguyện bằng chính gương mẫu của Ngài. Lòng gắn bó của Ngài với con người cũng xuất phát dồi dào từ mối hiệp thông của Ngài với Chúa Cha.
Việc đào tạo thiêng liêng phải vun trồng đời sống nội tâm, đời sống cầu nguyện, chiêm niệm trong hành động, đặc biệt là đối với các linh mục giáo phận là những vị sống trong trần gian nhưng không thuộc về trần gian. Vậy việc đào tạo thiêng liêng phải giúp các chủng sinh tập và yêu mến cầu nguyện, dành ưu tiên cho việc cầu nguyện và hằng ngày dành thời gian tốt đẹp cho Chúa.184 Đời sống thiêng liêng đích thực là “sống trong tình hiệp nhất thân mật và liên lĩ với Chúa Cha, qua Con Ngài là Chúa Giêsu Kitô, trong Chúa Thánh Thần”. Nhờ đó, “các ngài thủ đắc được tinh thần cầu nguyện, học cách bảo vệ và củng cố ơn gọi của mình, gia tăng các nhân đức khác và tăng trưởng trong lòng nhiệt thành đem mọi người về cho Chúa Kitô.”185
Servanthood (Phục Vụ như Tôi Tớ)
Ở Á Châu, các linh mục vẫn còn được tôn trọng và kính phục; các ngài được hưởng một uy tín và quyền lực nào đó giữa người tín hữu, ngay cả xã hội cũng dành cho các ngài một qui chế.
Việc đào tạo thiêng liêng phải làm sáng tỏ, sửa lại và thay đổi nhãn quan của các chủng sinh về mặt này theo gương mẫu Chúa Giêsu, Đấng “đã đến không phải để được phục vụ nhưng là phục vụ và hiến ban mạng sống hầu cứu chuộc muôn người” (Mc 10,45; Mt 20,28). “Chúa Giêsu hiểu những yếu đuối của chúng ta, những thất bại của chúng ta, những cảm giác ngã lòng, lo sợ và cô đơn của chúng ta. Chính Ngài cũng đã trải nghiệm những khó khăn này.”186 Tinh thần phục vụ của một tôi tớ vô dụng, kẻ chỉ làm bổn phận mình (Lc 17,10) sẽ làm cho các chủng sinh vui vẻ chấp nhận và quảng đại dấn thân trong những nhiệm vụ được trao phó, với nhận thức rằng thầy sẽ không được phong chức để thống trị cộng đoàn Kitô hữu, nhưng để trao tặng cộng đoàn ấy tinh thần phục vụ vị tha của mình.187
Teacher (Thầy Dạy)
Việc đào tạo thiêng liêng nhắm mục đích huấn luyện các chủng sinh nên Thầy Dạy Lời Chúa nhờ chính đời sống cầu nguyện và chiêm niệm của họ: “Có mối tương quan thiết yếu giữa việc cầu nguyện cá nhân và việc rao giảng… Việc rao giảng hiệu quả là một hoa trái khác của việc cầu nguyện cá nhân.”188 Trước khi dạy dỗ và rao giảng, các linh mục phải có kinh nghiệm bản thân về Lời Chúa, như cô Maria đã ngồi dưới chân Chúa để lắng nghe lời Ngài (Lc 10,38-42), hay người môn đệ học được từ nguồn kinh nghiệm cá nhân của thầy Guru. Các ngài không dạy dỗ hay rao giảng “về chính bản thân mình hay những ý kiến riêng mình, nhưng là một Tin Mừng mà các ngài là những thừa tác viên với lòng trung tín trọn vẹn.”189

D. Nâng Đỡ và Nuôi Dưỡng Thiêng Liêng
Như trong cuộc sống con người, cha mẹ trao ban sự sống cho con cái và phải bảo vệ sự sống đó, nuôi dưỡng và chăm sóc cho con cái lớn lên tới lúc trưởng thành về mọi phương diện, để đến lượt mình, con cái lại tiếp tục trao ban sự sống cho thế hệ tiếp theo và như thế dòng chảy sự sống sẽ được tiếp nối. Cũng vậy, việc đào tạo phải nuôi nấng và tăng cường đời sống thiêng liêng cho các linh mục tương lai, những người cũng sẽ trở thành những thầy dậy cầu nguyện, những nhà đào tạo và linh hướng, những người sẽ giúp nhiều thế hệ tương lai trong đời sống thiêng liêng cho đến khi hoàn tất chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
Theo chiều hướng này, người ta tìm được sự nâng đỡ và nuôi dưỡng trong giáo huấn của Hội Thánh.
Trước hết, về phương tiện siêu nhiên: Lời Chúa trong cả hai bàn tiệc Phụng vụ Lời và Phụng vụ Thánh Thể, bí tích Sám Hối được chuẩn bị nhờ việc xem xét lương tâm hằng ngày, việc đọc sách thiêng liêng để chuyên cần tìm kiếm những dấu chỉ của thánh ý Thiên Chúa và những thúc đẩy của Chúa Thánh Thần nơi những sự kiện khác nhau trong cuộc sống, mẫu gương tuyệt vời của Đức Trinh Nữ Maria, việc viếng thăm và sùng kính Bí Tích Thánh Thể, những cuộc tĩnh tâm và linh hướng, trí nguyện và khẩu nguyện.190
Thứ hai, về phương tiện tự nhiên: sự quan tâm của Giám Mục và cuộc sống huynh đệ giữa các linh mục, sự trợ giúp của các tín hữu giáo dân với tình bằng hữu, sự hiểu biết và hợp tác.191 Đức Gioan Phaolô II thúc giục các Giám Mục Việt Nam luôn gần gũi các linh mục, để nâng đỡ các linh mục trong những chương trình mục vụ, để chú tâm đến đời sống hằng ngày và đồng hành với các linh mục, đặc biệt khi họ gặp phải những khó khăn liên hệ đến thừa tác vụ của họ. Cũng cần phải dành sẵn cho họ những kỳ đào tạo thiêng liêng và tri thức thích ứng với những thách đố truyền giáo mà họ phải đối mặt.192
Thứ ba, lòng trung thành với thừa tác vụ cũng sẽ nâng đỡ và thánh hoá linh mục.193 Linh mục phải thánh thiện để cử hành những mầu nhiệm thánh, và những mầu nhiệm thánh được cử hành sẽ thánh hoá linh mục: nhờ các hành động thiêng thánh … các linh mục được dẫn tới sự trọn hảo trong đời sống và trong việc luyện tập đức ái mục tử, các ngài sẽ khám phá ra mối ràng buộc của sự trọn lành linh mục, trong khi đó sự thánh thiện cũng giúp nhiều cho linh mục sống một tác vụ sinh hoa kết trái. Linh mục thu lượm được của ăn thiêng liêng từ chính những hoạt động mà ngài dấn thân vào.
Thứ tư, việc đào tạo thường xuyên sẽ nâng cao đời sống linh mục và làm cho đời sống ấy sinh thêm nhiều hoa trái. Bởi vậy, Sắc Lệnh Đào Tạo Linh Mục (Optatam Totius) ước mong rằng việc huấn luyện linh mục phải được duy trì và kiện toàn, bằng những phương tiện phù hợp để từng bước đưa chủng sinh vào đời sống linh mục và hoạt động tông đồ một cách hiệu quả.194 Chức Vụ và Đời Sống Linh Mục (Presbyterorum Ordinis) thúc giục các linh mục hoàn thiện, cách thích hợp và không gián đoạn, kiến thức của các ngài về những sự thánh, cũng như những công việc của con người, hầu nuôi dưỡng và củng cố đời sống thiêng liêng của các ngài.195 Những Mục Tử Như Lòng Mong Ước (Pastores Dabo Vobis) xem việc thường huấn như là một bổn phận, và chỉ dẫn chi tiết nhiều hình thức và phương tiện cho việc đào tạo thường xuyên cho mọi linh mục thuộc mọi lứa tuổi và mọi điều kiện sống, đặc biệt là các linh mục trẻ.196
Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu đã đáp lại sớm nhất với tài liệu nêu trên. Văn Phòng Giáo Dục và Tuyên Uý Sinh Viên được chỉ định chuẩn bị và điều hành chương trình đào tạo thường xuyên và nhấn mạnh những điểm sau:
* việc học tập của hàng giáo sĩ trẻ;
* thay đổi lại mô hình Giáo Hội học;
* hội nhập văn hoá và đối thoại giữa các niềm tin;
* phụng vụ và cuộc sống;
* lối tiếp cận trong linh hướng;
* đạo đức sinh học; và
* những quan tâm đến những mức độ và giai đoạn khác nhau của đời sống linh mục, và thời gian nghỉ phép.197
Tóm lại, trong mọi trạng huống của đời sống và thừa tác vụ, các linh mục luôn được nhắc nhở rằng không gì có thể tách các ngài ra khỏi tình yêu vĩnh cửu của Chúa Kitô và lời hứa cứu độ của Thiên Chúa. Không hề sợ hãi, các ngài nhìn vào sự canh tân và biến đổi trong cuộc sống và thừa tác vụ linh mục của mình, nhờ hoạt động quyền năng của Chúa Thánh Thần. Đằng sau gương mặt luôn đổi thay của thế giới luôn tồn tại gương mặt cứu độ của Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã hứa với các ngài “Thầy luôn ở cùng anh em!”
GHI CHÚ
133 Đức Gioan Phaolô II, Pastores Dabo Vobis…, ibid., số 21.
134 Bộ Giáo Sĩ, The Priest and the Third Christian Millennium: Teacher of the Word, Minister of the Sacraments, and Leader of the Community (March 19, 1999).
135 Domingo Moraleda, “Lectures on Theology of the Forms of Christian Life in the Church”
136 Jose Cristo Rey Paredes, “Lectures on Holy Spirit in the Life and Mission of the Church and Consecrated Life”
137 Đức Bênêditô XVI, “A Church That Has No Fear of the Future”: Message to Cardinals (Vatican, April 20, 2005), Zenit.org/english, truy cập ngày 1-5-2005.
138 Đức Gioan Phaolô II, Ecclesia in Asia…, ibid., số 15-18.
139 FABC, “Prayer-The Life of the Church in Asia,” in For All the People of Asia I…, ibid., tr. 41.
140 Ibid., tr. 42.
141 CCE, Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis…, ibid., số 52.
142 Orlando B. Quevedo, “Pastoral Priorities of the Church in the Philippines and their Implications to Seminary Formation,” in Gathered Around Jesus (Manila, Philippines: University of Santo Tomas Central Seminary, 2004), tr. 43.
143 Đức Gioan Phaolô II, Pastores Dabo Vobis…, số 12.
144 Ibid., số 47.
145 Đức Gioan Phaolô II, Ecclesia in Asia…, ibid., số 43.
146 “Formators call for Better Spiritual Formation of Seminarians”…, ibid.
147 FABC Paper No. 92d – 7th Plenary Assembly, Workshop Discussion, Appendix II: Spiritual Direction, Emphasis on an Asian Approach, Ucanews.com/archives, truy cập ngày 7-10-2004.
148 Đức Gioan Phaolô II, Ecclesia in Asia…, ibid., số 42.
149 Vaticanô II, Presbyterorum Ordinis…, ibid., số 12.
150 Bruno Torpigliani, Forming our Future Priests (Manila: Philippines 1988), tr. 27.
151 Judette A. Gallares, “Lectures on Biblical Foundation of Consecrated Life”
152 Vaticanô II, Optatam Totius…, ibid., số 8.
153 Gioan Phaolô II, Pastores Dabo Vobis…, ibid., số 28.
154 Ibid., số 74.
155 Gioan Phaolô II, Ecclesia in Asia…, ibid., số 43.
156 Ecclesia in Asia…, ibid., số 24.
157 Domingo Moraleda, “Lectures on An Introduction to Missiology of Consecrated Life”
158 Vaticanô II, Ad Gentes: Decree on the Church’s Missionary Activity, số 2.
159 Synod of Bishops 1971, The Ministerial Priesthood, part two, 1: Priests in the Mission of Christ and the Church.
160 Ibid., số 29-30; Vaticanô II, Lumen Gentium: Dogmatic Constitution on the Church, số 25; Vaticanô II, Presbyterorum Ordinis…, ibid., số 4.
161 Gioan Phaolô II, Ecclesia in Asia…, ibid., số 6.
162 Vaticanô II, Presbyterorum Ordinis…, ibid., số 22.
163 Gioan Phaolô II, Ecclesia in Asia…, ibid., số 29.
164 Xem Cuộc Đối Thoại với Người Cộng Sản ở chương VII.
165 Gioan Phaolô II, Ecclesia in Asia…, ibid., số 30.
166 Ibid., số 48.
167 Gioan Phaolô II, Ecclesia in Asia…, ibid.
168 Vaticanô II, Presbyterorum Ordinis…, ibid., số 19.
169 Gioan Phaolô II, Pastores Dabo Vobis…, ibid., số 72; Vaticanô II, Gaudium et Spes…, ibid., số 1.
170 Domingo Moraleda, “Lectures on Religious Vows as Evangelical Charisms and Responsibility ‘Covenant Perspective’”
171 Judette Gallares, “Lectures on Biblical Spirituality”
172 Donald B. Cozzens, “The Spirituality of the Diocesan Priest,” in Donald J. Georgen, ed., Being a Priest Today (Collegeville, Minnesota: The Liturgical Press, 1992), tr. 50-72.
173 Gaudium et Spes số 40-44.
174 Paul Bernier, Ministry in the Church: A Historical and Pastoral Approach (Connecticut: Twenty-Third Publications, 1992), tr. 264-268.
175 Paul Bernier, Ministry in the Church…, ibid., tr. 270-278.
176 Gioan Phalô II, Pastores Dabo Vobis…, ibid., số 45.
177 Ibid., số 43.
178 Gioan Phalô II, Pastores Dabo Vobis…, ibid., số 11.
179 Alex Rebello, “Spiritual Formation and Religious Traditions in Asia,” trong Linh Mục Thiên Niên Kỷ Mới, Đại Chủng Viện Huế (2000), tr. 140-183.
180 Ibid. tr. 152.
181 Vaticanô II, Gaudium et Spes…, ibid., số 1.
182 Alex Rebello, “Spiritual Formation and Religious Traditions in Asia” …, ibid., tr. 158.
183 Ibid., tr. 162.
184 Alex Rebello, “Spiritual Formation and Religious Traditions in Asia” …, ibid., tr. 163-164.
185 Vaticanô II, Optatam Totius…, ibid., số 8.
186 Lode Wostyn, Believing unto Discipleship: Jesus of Nazareth (Quezon City, Philippine: Claretian Publications, 2004), tr. 8.
187 Alex Rebello, “Spiritual Formation and Religious Traditions in Asia” …, ibid., tr. 168.
188 Bộ Giáo Sĩ, The Priest and the Third Christian Millennium…ibid., ch. II, số 1.
189 Phaolô VI, Evangelii Nuntiandi: On Evangelization in the Modern World (December 8, 1975), số 15.
190 Vaticanô II, Presbyterorum Ordinis…, ibid., số 18.
191 Gioan Phaolô II, Pastores Dabo Vobis…, ibid., số 50.
192 “The Church is waiting for the Total Respect of its Autonomy”…, ibid.
193 Vaticanô II, Presbyterorum Ordinis…, ibid., số 12-14.
194 Vaticanô II, Optatam Totius..., ibid., số 22.
195 Vaticanô II, Presbyterorum Ordinis…, ibid., số 19.
196 Giaon Phaolô II, Pastores Dabo Vobis…, ibid., số 70-81.
197 FABC Paper No. 92e, Ucanews.com/archives, truy cập ngày 7-10-2004.

PHẦN BA
ĐÀO TẠO VÀ TỰ ĐÀO TẠO THIÊNG LIÊNG CỦA CÁC LINH MỤC TƯƠNG LAI
TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM HÔM NAY

Trong vài năm qua, Hội Thánh Công giáo đã phải chịu đau đớn nhiều vì cách cư xử không đúng đắn của một ít linh mục. “Chúng ta phải thừa nhận rằng hàng giáo sĩ của chúng ta, cả trẻ và già, không phải không có những vấn đề, những xung đột, và những khủng hoảng có lẽ phản ánh việc lựa chọn và đào tạo chưa đầy đủ của họ.”198
Những trường hợp này có thể được dùng như phúc lành của Chúa nhắc nhở và thách thức chúng ta phân tích, lượng định và tổ chức lại việc huấn luyện chủng viện.199 Có những người sẽ nói rằng việc huấn luyện ở chủng viện trong quá khứ đã phải chịu đựng một loại nhị nguyên luận. Nghĩa là có sự tách đôi giữa những gì các chủng sinh học, và những gì họ sống. Chúng tôi bác bỏ kiểu phân chia như thế trong chương trình đào tạo chủng viện, vì con người là một thể thống nhất. Cuộc sống con người với và trong Thiên Chúa tác động mọi khía cạnh của con người, bởi vậy, đời sống thiêng liêng phải bao gồm, tác động, và bao quát mọi khía cạnh của đời sống con người, cùng những gì thuộc về con người cách chân thực và đích thực.
Phần ba này sử dụng những nền tảng, thách đố và cơ hội khả dĩ trong bối cảnh Việt nam đã được trình bày ở phân thứ nhất, và giáo huấn của Huấn Quyền Giáo Hội đã được nhấn mạnh ở phần thứ hai. Sử dụng hai cột trụ quan trọng đó, phần này sẽ tạo nên toà nhà của việc đào tạo ở chủng viện và toà nhà sẽ gồm cả việc đào tạo thiêng liêng cho các chủng sinh đặt trong bối cảnh Việt Nam hôm nay, với cả những quan điểm về Giáo Hội học của Vaticanô II, của việc Truyền Giáo, của việc Cộng Tác với Giáo Dân, và của việc Đối Thoại. Việc Đào Tạo và Tự Đào Tạo Thiêng Liêng sẽ được trình bày theo ba thời kỳ: Giai đoạn Tiền Chủng Viện, Giai đoạn đào tạo Chủng Viện, và năm năm đầu đời Linh Mục thuộc thời kỳ Hậu Chủng Viện.

CHƯƠNG VII
BỐI CẢNH HÓA ĐÀO TẠO THIÊNG LIÊNG CHO CÁC
LINH MỤC VIỆT NAM TƯƠNG LAI

A. Trong Viễn Anh Giáo Hội Học của Vaticanô II
Trong kiểu Giáo Hội nào mà các chủng sinh hôm nay được đào tạo, và rồi, họ sẽ thi hành tác vụ trong tương lai? Ta có thể nói ngay rằng đó là Giáo Hội của Vaticanô II: với cái nhìn năng động mới và một hiểu biết quân bình hơn về những hình thức khác nhau của đời sống Kitô giáo: Giáo Dân, Tu Sĩ và Giáo Sĩ cùng với nhau trong bình đẳng phẩm giá, bổ sung, hài hoà và liên đới với nhau vì Nước Thiên Chúa.
Giáo Hội ấy được xem như:
* Giáo Hội Hiệp Thông, hiệp thông trong lòng Giáo Hội: Tình huynh đệ, phục vụ lẫn nhau, vâng phục lẫn nhau và hiệp nhất trong đa dạng giữa Giáo Hội phổ quát và Giáo Hội địa phương;
* Giáo Hội Truyền Giáo, mở ra với thế giới: Nước Thiên Chúa vượt ra ngoài biên giới Giáo Hội, và Thần Khí vẫn luôn hiện diện trong Giáo Hội, trong thế giới, trong các tôn giáo khác và xã hội. Với tư cách là thừa tác viên và người truyền đạt Lời Chúa, Giáo Hội là dấu chỉ bí tích, là hạt mầm của Nước Trời, theo cái nhìn cánh chung;
* Dân Lữ Hành của Thiên Chúa: mặc dù với những cơ cấu, nhưng không chỉ là thể chế được thiết lập, vẫn luôn trên hành trình về với Chúa Cha, trong Chúa Giêsu Kitô, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần;
* Giáo Hội Phục Vụ: Giáo Hội không phải ở ngoài hay song hành với nhân loại, nhưng được lồng vào trong lịch sử nhân loại vì sự sống của trần gian, với thái độ bất biến là đối thoại và hợp tác với con người trong việc xây dựng tình huynh đệ phổ quát.
Trong khi đó, thế giới hôm nay là thế giới của văn minh khoa học kỹ thuật, thế giới của thần học giải phóng, của sự thăng tiến phụ nữ, của lựa chọn ưu tiên cho người nghèo, người bên lề, người bị áp bức, và người thấp cổ bé họng; thế giới của nền kinh tế lấy thị trường làm trung tâm với nền văn hoá duy vật và duy tiêu thụ.
Các linh mục tương lai sẽ được đào tạo và rồi thi hành thừa tác vụ trong nhãn quan Giáo Hội học này: mọi thành phần của Giáo Hội đều được kêu gọi nên thánh và đạt tới đức ái trọn hảo; nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô linh mục, ngôn sứ và vương giả, qua phép rửa tội và phép thêm sức; được thánh hiến vì sứ vụ, để yêu mến, để phục vụ và để làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa, trong sự hiểu biết phổ quát về ơn cứu độ, với lòng khiêm tốn và với ý thức về những yếu đuối của con người và những điều kiện tội lỗi, không còn những thái độ và lời lẽ ngạo mạn.200

B. Trong Viễn Anh Truyền Giáo
1. Tính Khẩn Thiết của Việc Truyền Giáo với Giáo Hội Việt Nam Hôm Nay
Á Châu là cái nôi của các tôn giáo lớn trên thế giới. Đặc tính thánh thiêng của các tôn giáo này đã được rất nhiều người biết đến, đặc biệt là người Âu Châu, trong số đó có nhiều người, thậm chí các Kitô hữu, sử dụng những lối thực hành cầu nguyện chiêm niệm, suy niệm, và một số người trở thành những môn đệ thuần thục của các tôn giáo này.
Trong bối cảnh này, chúng ta có nhu cầu khẩn thiết phải loan báo Tin Mừng,201 bởi vì “hầu hết các linh mục địa phương có thể là những người quản lý tốt những cộng đoàn Kitô hữu, nhưng họ lại thường thiếu quan tâm và lòng cởi mở với những người không Công giáo quanh họ,”202 trong khi Thiên Chúa lại muốn cho cả trần gian được cứu độ (x. Ga 3,16-17). Bản chất của tình yêu là chia sẻ sự phong phú tràn trào của nó và đó cũng là lý do tồn tại của sứ vụ của Chúa Giêsu là chia sẻ tình yêu tràn trào của Thiên Chúa cho nhân loại. Chúa Giêsu trao sứ vụ của Ngài cho Giáo Hội và Giáo Hội gắng sức làm chứng cho tình yêu đó của Thiên Chúa và tập hợp mọi người lại trong Nước Thiên Chúa, như Công Đồng Vaticanô II thúc đẩy chúng ta.
Nếu chúng ta hiểu thấu đáo ý nghĩa sứ vụ của Chúa Giêsu, cũng là sứ vụ của Giáo Hội, chúng ta sẽ không giới hạn việc thực thi sứ vụ này trong việc rửa tội cho người ta để biến họ thành Kitô hữu: “Việc tân Phúc Âm hoá cần những người loan báo Tin Mừng mới… những người động lòng trắc ẩn trước đám đông và trao cho họ bánh sự thật, bánh tình yêu, bánh sự sống.”203 Nước Thiên Chúa bao gồm mọi người, mọi thụ tạo của Thiên Chúa. Vì thế “việc tân Phúc Âm hoá chính là nhiệm vụ thiết yếu và cấp bách của Hội Thánh.”204
Trong nhãn quan rộng rãi hơn như thế, việc đào tạo thiêng liêng nhắm mục đích giúp các linh mục tương lai nhận thức được việc tự đào tạo để nên những linh mục truyền giáo nhiệt thành mà Giáo Hội cần, không chỉ cho Giáo Hội địa phương ở Việt Nam, nhưng còn cho các Giáo Hội anh em tại Á Châu. Quả thực, “toàn thể Giáo Hội đều là thừa sai. Ngay cả khi chúng ta phục vụ tại chính giáo phận mình, thừa tác vụ của chúng ta cũng phải thấm nhuần chiều kích truyền giáo.”205
2. Nguồn Gốc và Mẫu Mực: Sứ Vụ của Chúa Giêsu
a. Sứ Vụ của Chúa Giêsu trước Phục Sinh
Chúa Giêsu là nhà thừa sai trước tiên được Chúa Cha sai đến. Sứ vụ của Chúa Giêsu mở ra một cuộc canh tân. Ngài phá đổ những ranh giới qua nhiều lời nói, dụ ngôn và hành động của Ngài. Tính chất bao gồm (inclusiveness) trong sứ vụ của Chúa Giêsu gây sửng sốt! Ngài là người đặt nền móng cho sứ vụ với Dân Ngoại. Những nét quan trọng trong sứ vụ của Chúa Giêsu là: Chúa Giêsu thi hành sứ vụ của Ngài với lời cầu nguyện liên lỉ và kinh nghiệm sâu xa về Thiên Chúa, Cha của Ngài; Nước Thiên Chúa là trung tâm trong toàn bộ tác vụ của Chúa Giêsu và là trung tâm đối với sự hiểu biết về chính sứ vụ của Ngài; sứ vụ của Chúa Giêsu đặt tâm điểm nơi vấn đề con người hơn là những nguyên tắc và nghi thức.206
b. Sứ Vụ của Chúa Giêsu sau Phục Sinh
Sau khi sống lại, Chúa Giêsu tiếp tục bày tỏ tình yêu của Thiên Chúa cho mọi người, khi Ngài hiện ra với các môn đệ và chào họ bằng những lời trấn an: “Bình an cho anh em!” Chúa Giêsu thổi hơi vào họ, trao ban Chúa Thánh Thần cho họ và sai họ ra đi tiếp nối chính sứ vụ của Ngài.
Kinh nghiệm Phục Sinh là trung tâm, không chỉ cho các môn đệ của Chúa Giêsu, nhưng còn cho tất cả chúng ta, vì kinh nghiệm này giữ cho sứ vụ của Chúa Giêsu luôn sống động. Rời bỏ thế gian và lên với Chúa Cha, giờ đây Chúa Giêsu có thể làm công việc của Ngài ở mọi nơi trên thế giới, bất cứ nơi đâu có các môn đệ của Ngài hiện diện. Là những môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta có một sứ điệp tuyệt đẹp của tình yêu Thiên Chúa để sẻ chia. Và trước hết, đó không phải là một sứ điệp bằng lời, mà là một sứ điệp tự diễn tả qua cách sống và cách hiện diện của chúng ta. Đây là sứ vụ vĩ đại mà chúng ta được đặc quyền chia sẻ và làm chứng, ở đây và bây giờ.
c. Bản Chất của Giáo Hội là Truyền Giáo
Tự chính bản chất, Giáo Hội lữ hành là truyền giáo, vì Giáo Hội được khơi nguồn từ chính sứ vụ của Chúa Con và của Chúa Thánh Thần, theo đúng thánh ý Chúa Cha, như Công Đồng Vaticanô II nhấn mạnh (LG 4). Vậy tất cả Dân Chúa đều được mời gọi canh tân nội tâm sâu xa với ý thức sống động trách nhiệm của chính mình trong việc truyền bá Tin Mừng (AG 35): “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15). Hành động nhân danh và là hiện thân của Đấng Cứu Thế, linh mục phải cưu mang trong tâm trí mình lời kêu gọi cấp thiết này và duy trì tinh thần truyền giáo theo lệnh truyền của Chúa Giêsu.
3. Đối Thoại, Con Đường Thích Hợp để Sống và Thi Hành Sứ Vụ Truyền Giáo
Theo quan điểm của Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu, con đường mới trong sự hiện diện của Giáo Hội là con đường với ba cuộc đối thoại: Đối thoại với các nền văn hoá và các truyền thống, đối thoại với các Tôn Giáo Khác và đối thoại bằng cuộc sống với người nghèo. Nhưng bối cảnh Việt Nam đòi hỏi thêm một chiều kích đối thoại nữa: đối thoại với người cộng sản.207 Mặc dù điều này xem ra có vẻ khó khăn vì chính sách tôn giáo khắt khe của ý thức hệ cộng sản, chúng ta tin tưởng vào Thiên Chúa, Đấng là Chủ của lịch sử, Ngài sẽ biến đổi mọi sự vào đúng thời của nó. Được trang bị bằng đời sống nội tâm vững chắc trong mối tương quan gần gũi với Thiên Chúa, các linh mục dấn thân vào thế giới để cứu độ thế giới và để được cứu độ cùng với toàn thể thế giới được tạo thành.
4. Trở Nên Những Thừa Sai Hăng Say và Hiệu Quả
Mỗi thời đại có những khía cạnh tích cực và tiêu cực của nó. Chúa Thánh Thần là tác giả của mọi cuộc canh tân trong Hội Thánh và trong thế giới. Hướng tới một cách thức hiện diện và thi hành sứ vụ truyền giáo hữu hiệu trong thế giới đương đại, các linh mục Việt Nam208 phải lắng nghe theo những linh hứng của Ngài. Tin rằng Chúa Thánh Thần luôn cùng làm việc với các ngài, các linh mục tự dấn thân vào công việc Phúc Âm hoá, ý thức đầy đủ về sứ vụ khẩn cấp của mình (1 Cr 9,16). Nhưng các ngài cũng ý thức được những giới hạn con người của mình với những yếu đuối và tội lỗi, luôn ghi nhớ trong tâm trí lời Thánh Phaolô: “Tôi bắt thân thể phải chịu cực và phục tùng, kẻo sau khi rao giảng cho người khác, chính tôi lại bị loại” (1 Cr 9,27).

C. Trong Viễn Ảnh Cộng Tác Với Giáo Dân209
1. Quan Tâm Mới, Cái Nhìn Mới
Chịu ảnh hưởng do quan niệm tiền Vaticanô về đời sống linh mục và đời sống tu trì, hàng giáo sĩ thường có mặc cảm tự tôn đối với giáo dân. Nhưng ngày nay nhiều giáo dân giỏi hơn nhiều linh mục do căn bản giáo dục và kiến thức thần học cao hơn. Thách đố này mang đến một nhìn nhận rõ ràng: ở tuyến đầu của Giáo Hội, trong địa hạt các đặc sủng và sứ mệnh, cũng như trong định nghĩa (Dân Thiên Chúa, tham dự vào chức linh mục của Chúa Kitô) và con số (99,80% giáo dân, mà chỉ 0,12% tu sĩ và chỉ 0,08% thừa tác viên chức thánh),210 người giáo dân cho thấy một đóng góp đối với việc thực hiện Nước Thiên Chúa và công trình thánh hoá trần gian từ bên trong như men. Mọi người đã chịu phép rửa tội được kêu gọi nên thánh, tùy theo việc phục vụ và thừa tác vụ hợp với những ân huệ và tài năng của riêng mình. Cả giáo dân và giáo sĩ đều góp phần vào Triều Đại Thiên Chúa trong chiều kích cánh chung: người giáo dân nhấn mạnh cái hiện tại (cái đã có), trong khi hàng giáo sĩ nhấn mạnh đến cái tương lai (cái chưa có).
Việc xây dựng sự cộng tác làm việc giữa giáo dân-giáo sĩ là rất quan trọng và thông qua ba yếu tố chủ yếu: hiệp thông, hợp tác trong sứ vụ và việc đào tạo thích hợp về thiêng liêng, tín lý và văn hoá. Đúng thế, hình ảnh thích hợp của linh mục thế kỷ hai mươi mốt là bậc thầy luôn học hỏi Chúa Kitô: ngài luôn đồng hành với con người ở đúng nơi mà họ đang hiện diện, lắng nghe họ và rồi chia sẻ những hiểu biết trong hành trình của họ. Đó cũng là người chữa lành mà lại mang thương tích như Chúa Kitô: ngài có mọi quyền năng, nhưng lại hoàn toàn dễ dàng bị tổn thương. Bắt chước người chữa lành mang thương tích, các linh mục và giáo dân biết mình là ai nơi cốt lõi của chính mình, bằng cách chia sẻ chính mình với Thiên Chúa và với mọi người, nam cũng như nữ, trong những mối tương quan mật thiết, như Chúa Giêsu, Đấng từng có cả bạn bè nam và nữ.211
Để xúc tiến sự hợp tác giáo dân-giáo sĩ này, hàng giáo sĩ và giáo dân phải:
* dấn thân nhiều hơn trong đời sống của nhau với sự cảm thông với nhau sâu sắc hơn;
* chia sẻ những trách nhiệm trong sự hiểu biết, tự do và viển ảnh Kitô giáo với tình yêu chân thực của những người cộng tác với nhau;
* cổ vũ sự hiệp thông với ý thức về sự hiện diện của người khác, với sự nhìn nhận những tình trạng khác nhau trong cuộc sống và chấp nhận người khác theo như đúng bản chất của họ;
* nâng phẩm chất việc đào tạo toàn diện của giáo sĩ và giáo dân, trong đó chiều kích liên hiệp của giới tính con người phải được đề cao.212
2. Cộng Tác với Người Giáo Dân Nói Chung
Công Đồng Vaticanô II là một Lễ Hiện Xuống mới với viễn ảnh mới về Giáo Hội như là hiệp thông, mà hàng giáo phẩm là ở trong lòng Dân Chúa, chứ không phải ở bên trên, và như huynh đệ, nhấn mạnh đến sự bình đẳng của mọi tín hữu dựa trên phép rửa tội (LG 30;32). Các mục tử phải nhìn nhận các đặc sủng và sứ vụ của giáo dân : cộng tác trong đời sống và sứ vụ của Giáo Hội; chia sẻ ý kiến vì lợi ích của Giáo Hội trong tinh thần vâng phục lẫn nhau; thi hành sứ vụ trong lãnh vực hôn nhân, gia đình, văn hoá, các cơ cấu xã hội, kinh tế, chính trị, tình liên đới, công lý và hoà bình.213 Vấn đề chính yếu không phải là canh tân một phía, giáo sĩ hoặc giáo dân, vì giáo sĩ và giáo dân có liên hệ với nhau và tùy thuộc lẫn nhau. Họ phải cảm thấy nhu cầu cần thay đổi căn bản trong tâm trí, để cùng bước đi trên con đường Nước Thiên Chúa.
Trong tinh thần đó, linh mục phải đề cao sự cộng tác214 với người giáo dân, lắng nghe họ và đáp ứng lại những mong đợi của họ liên quan đến đời sống và sứ vụ linh mục, đào tạo và tự đào tạo cho việc Phúc Âm hoá và vì ích chung của Giáo Hội và thế giới. Giáo dân mong đợi nơi linh mục:
* canh tân và thánh hoá đời sống linh mục như là chuyện quan trọng nhất;
* đời sống thiêng liêng và cầu nguyện của linh mục như là mẫu mực của người tín hữu;
* linh mục phải là hình ảnh của Chúa Kitô và là mẫu mực cho đời sống đức tin của người tín hữu;
* Thiên Chúa phải là mục đích trước tiên và tối hậu của đời sống linh mục;
* một linh mục luôn trung thành với thánh ý Thiên Chúa sẽ biết cách giữ quân bình trong các hoạt động thuộc thừa tác vụ của mình, vượt qua những khó khăn và cám dỗ mà ngài gặp phải trong đời sống hằng ngày;
* mọi giáo sĩ phải yêu thương tất cả mọi người và yêu thương nhau như là những môn đệ yêu thương của Chúa Kitô (Ga 13,1.34-35), và trung thành với chức linh mục cho đến chết;
* linh mục không kiêu căng và độc đoán, nhưng khiêm tốn đứng về phía người nghèo, người ngoài lề xã hội và người bị áp bức;
* linh mục phải luôn hiệp thông gần gũi với tín hữu và tránh mọi hình thức độc đoán và quản lý theo kiểu dân chủ, vì những điều này dẫn tới tục hoá linh mục và giáo sĩ hoá giáo dân;
* Đức Trinh Mữ Maria phải là mẹ và mẫu mực cho linh mục và linh mục phải đón nhận Mẹ vào cuộc đời mình, để học cách sống khiêm nhường, trong sạch và vâng phục của Mẹ, và tìm thấy niềm vui và nguồn an ủi nơi Mẹ;
* Mong sao giáo dân được sử dụng trong việc giáo dục các chủng sinh.215
3. Cộng Tác với Phụ Nữ, Nữ Giáo Dân và Nữ Tu
Nữ tu Sung-Hae Kim, SC, “than phiền” rằng việc đào tạo linh mục hiện nay không tạo ra được những cơ hội tự nhiên để đào tạo một kiểu mẫu tích cực về nữ giới: một khi đã vào chủng viện, các chủng sinh sinh sống, giải trí và học tập trong một thế giới toàn nam giới, không có những tiếp xúc có ý nghĩa với phụ nữ, không có kinh nghiệm về phụ nữ như là những môn đệ bình đẳng của Chúa Kitô… Sau khi chịu chức, nhiều vị không được chuẩn bị để làm việc với phụ nữ, và đôi khi cảm thấy bị các nữ tu và các lãnh đạo phụ nữ đe doạ nghiêm trọng, nên phản ứng tiêu cực, thậm chí phân biệt đối xử và dùng ngôn ngữ miệt thị. Một nghiên cứu kết luận rằng phân biệt giới tính đối với phụ nữ trong Giáo Hội còn lớn hơn ngoài xã hội.
Để cải thiện tình trạng này, chị gợi ý nên thuê những phụ nữ có khả năng, cả nữ tu và giáo dân, dạy trong chủng viện hoặc hướng dẫn tĩnh tâm, để các chủng sinh có thể tôn trọng, đề cao và hình thành một mô hình tích cực về phụ nữ, một quan niệm quân bình về phụ nữ, và có cơ hội nhìn Thiên Chúa theo viễn ảnh của phụ nữ. Các linh mục hiện nay sở hữu một kiến thức hời hợt về đời sống tu trì và vì thế có xu hướng đi tới hai thái cực. Do đó, người ta mong ước rằng các chủng sinh được cung ứng một hiểu biết tốt hơn về đời sống thánh hiến trong bối cảnh khoa Giáo Hội học hiệp thông. Hiểu biết lẫn nhau chính là chìa khoá. Và sau cùng chị ước mong rằng chúng ta nên làm bất cứ điều gì có thể để giáo dục các chủng sinh, tu sĩ và giáo dân, để giúp họ tập làm việc với nhau như là những cộng sự viên bình đẳng, và trở nên những nhân chứng sống động của Tin Mừng.216
4. Kiểi Mẫu Đào Tạo ICLA
Ta có thể nhìn nhận một cách thẳng thắn rằng theo tâm thức tự tôn của nam giới, cách nào đó, người phụ nữ Á Châu bị coi thường, khinh miệt, bách hại và đàn áp, không chỉ ngoài xã hội, do những người bên ngoài, nhưng ngay trong chính gia đình, do cha, chồng và anh em của họ. Và thật phi lý khi có sự phân biệt đối xử, ngược đãi, bất công và đàn áp mà người phụ nữ phải chịu đựng ngay trong Giáo Hội, Nhiệm Thể Chúa Kitô. Trong khi, do tinh thần xã hội phong kiến và cơ cấu tôn ti, người Công giáo Á Châu quá tôn trọng hàng giáo sĩ, và thực tế này làm cho các linh mục trở nên quan liêu và độc đoán, ít ra là với mặc cảm tự tôn.
Hi vọng rằng Học Viện Đời Sống Thánh Hiến tại Á Châu (Institute for Consecrated Life in Asia – ICLA, Manila, Philippines), như là một dấu chỉ mới mẻ và tuyệt vời của Chúa Thánh Thần, là học viện chào đón các tu sĩ nam nữ, linh mục, chủng sinh và giáo dân từ trên hai mươi nước Á Châu, sẽ tạo ra những cơ hội cho một mô hình tích cực về nữ giới, biến chuyển từ mô hình cổ điển, qua mô hình của Vaticanô II và hậu Vaticanô II, sang mô hình nữ quyền:217 Bên cạnh những phụ nữ có khả năng, cả tu sĩ lẫn giáo dân, đang dạy học và hướng dẫn tĩnh tâm, còn có nhiều nữ tu có trình độ cao hơn các sinh viên nam trong một số khía cạnh, và họ được tôn trọng, đề cao và vì vậy tự tin hơn.
Đời sống cộng đoàn và những hoạt động của ICLA cung cấp cho các sinh viên thuộc cả hai giới những cơ hội hợp tác, chia sẻ cuộc sống và trách nhiệm, trong đời sống hằng ngày cũng như trong đời sống thiêng liêng, để cùng làm việc, cùng học tập, cùng ăn uống, cùng vui chơi, cùng cầu nguyện, cùng tham dự tĩnh tâm, và cùng cử hành Thánh Thể, với sự tôn trọng lẫn nhau, hiểu biết và khích lệ mang tính bằng hữu, với quan niệm quân bình, những mối tương quan hài hoà và trưởng thành, với kinh nghiệm là những môn đệ bình đẳng của Chúa Kitô cùng làm chứng cho Tin Mừng. Những mối tương quan trưởng thành và tôn trọng nhau giữa các nhà đào tạo ICLA (linh mục, nữ tu, giáo dân nam và nữ) đối với các sinh viên là mẫu gương tốt đẹp và là bằng chứng rõ ràng về điều mà họ muốn tạo nên và đào tạo, đặc biệt Cha Giám Đốc với sự săn sóc hiền hậu, sự quan tâm nhậy bén, sự cảm thông sâu sắc, sự hiện diện gây an lòng, sự khích lệ đầy tin tưởng và tình yêu bền chặt với mọi người.
Sự hiện diện của họ mang tính giáo dục còn nhiều hơn chính điều họ dậy dỗ. Mẫu đào tạo của ICLA là một đóng góp hữu hiệu cho cuộc canh tân Giáo Hội, đặc biệt là cho đời sống tu trì. Mọi người đều ước mong rằng mẫu đào tạo của ICLA sẽ được nhân rộng, được thực hiện và được đẩy mạnh, để ta có thể nhìn tới một tương lai tốt đẹp hơn của một số Giáo Hội Á Châu trong sứ vụ tân Phúc Âm hoá, sứ vụ của người Á Châu cho người Á Châu.
5. Viển Ảnh và Đề Nghị của FABC
Trong đường hướng này, Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu cũng khích lệ chúng ta. Các ngài tuyên bố rằng Thiên Chúa đã chọn một phụ nữ, Đức Trinh Nữ Maria, làm mẹ Chúa Giêsu, qua Mẹ, Thiên Chúa mặc khải giá trị và phẩm giá của người phụ nữ. Chúng ta lấy Chúa Giêsu làm mẫu mực cho chúng ta theo cách Ngài đón nhận và nhìn nhận thiên hướng và phẩm giá của phụ nữ, thái độ và sự nhậy cảm của ngài đối với phụ nữ và lòng can đảm của Ngài khi đối xử với phục nữ với lòng tôn trọng và phẩm giá bình đẳng.
Và rồi, các ngài ước mong rằng việc đào tạo linh mục phải bao gồm:
* Một tương tác lành mạnh với phụ nữ;
* Huấn luyện sự nhậy bén về giới tính;
* Đọc lại, giải thích lại và tái khám phá Sách Thánh để bao gồm cả nhãn quan phụ nữ;
* Các giáo trình thần học và các giáo huấn của Đức Giáo Hoàng về phụ nữ; Sự hiện diện của các nữ giáo sư và nữ sinh viên trong các chủng viện.218

D. Trong Viễn Ảnh Đối Thoại
1. Thái Độ và Chỉ Đạo của Đức Bênêđitô XVI
Sau khi đưa ra cái nhìn toàn cảnh về tình trạng của Giáo Hội và của thế giới, với nhiều dòng ý thức hệ và mốt suy tư dẫn đưa tới lầm lạc, Đức Giáo Hoàng Bênêđitô XVI giới thiệu niềm tin trưởng thành và chín chắn vào Con Thiên Chúa, Đấng là thước đo tối hậu và tiêu chuẩn, như là con đường dẫn đưa tới nền tảng đời sống Kitô hữu.219
Tiếp đến ngài giải thích cho các Hồng Y220 chương trình tổng quát của ngài trong việc cai quản và dẫn dắt Giáo Hội hoàn vũ: vâng theo những linh hứng của Chúa Thánh Thần, với lòng phó thác khiêm nhường cho sự quan phòng của Thiên Chúa, bước theo những vị tiền nhiệm trong việc tiếp tục dấn thân thực hiện Công Đồng Vaticanô II, trong việc xây dựng sự hiệp thông trong lòng Hội Thánh, thiết lập sự hiệp nhất giữa mọi người đi theo Chúa Kitô, làm sống lại sứ vụ Truyền Giáo, đảm bảo một cuộc đối thoại chân thành và cởi mở với các tôn giáo khác, các nền văn hoá và văn minh, và tuyên bố mọi người Công giáo sẵn lòng cộng tác vì sự phát triển xã hội và phẩm giá của mọi người.
Và sau cùng, ngài nhắc lại những lời của Đức Gioan Phaolô II “Đừng sợ! Hãy mở rộng cửa cho Chúa Kitô!”… Chỉ nơi tình bằng hữu này chúng ta mới cảm nghiệm được vẻ đẹp và sự giải phóng.”221 Chúng ta hiểu rằng trong những con đường rộng mở ấy, chúng ta sẽ đào tạo các ứng sinh linh mục của chúng ta, để họ đáp ứng đúng theo những nhu cầu của thời đại chúng ta, hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn cho mọi người.
2. Đối Thoại với Các Nền Văn Hoá
Việc hội nhập văn hoá, như một điều khẩn thiết được Công Đồng Vaticanô II nhấn mạnh, là một nhu cầu khẩn cấp đối với sứ vụ Truyền Giáo ở Việt Nam hôm nay. Hội nhập văn hóa phải được nuôi dưỡng ngay trong đào tạo chủng viện. Việc này nhằm biến đổi nền văn hoá đón nhận Tin Mừng nhờ sứ điệp Tin Mừng và làm cho các thừa tác viên thích ứng với văn hoá và môi trường sống của đoàn chiên222 như Thánh Phaolô đã làm (1 Cr 9,23). Hội nhập văn hóa là một nhu cầu khẩn cấp đối với sứ vụ của các linh mục Việt Nam. Nó làm cho người Việt Nam dễ dàng đón nhận Tin Mừng và điều chỉnh theo Tin Mừng các giá trị văn hoá phong phú và cao quí của họ: “Phúc Âm hoá và hội nhập văn hoá liên kết với nhau một cách tự nhiên và mật thiết.”223 Các linh mục được kêu gọi làm tăng triển sự nhậy bén của họ đối với văn hoá, để họ có thể hội nhập văn hoá công việc tân Phúc Âm hoá của mình vì vinh quang Thiên Chúa, và ơn cứu độ của toàn thể thế giới được tạo thành.
Trong tiến trình hội nhập văn hoá, mỗi nền văn hoá đón nhận những yếu tố tích cực từ nền văn hoá khác và do đó được nên phong phú hơn. Ví dụ, cuộc gặp gỡ giữa nền văn hoá Việt Nam và Tin Mừng của Kitô giáo, Tin Mừng đề cao nhiều yếu tố văn hoá, và khám phá ra những cách thức mới mẻ diễn tả các giá trị Tin Mừng. Vậy ta có thể nói rằng việc hội nhập văn hoá của Kitô giáo phải đặt nền tảng trên mầu nhiệm Nhập Thể. Hội nhập văn hoá theo tinh thần như thế sẽ làm cho các “Kitô hữu bản địa có khả năng sống theo những giá trị văn hoá của riêng họ, không bị méo mó, và đồng thời sống theo những giá trị đặc biệt của Tin Mừng.”224
Từng trải nghiệm sự thiệt hại không thể phủ nhận do việc Giáo Hội bác bỏ việc thờ kính tổ tiên nhân danh việc Phúc Âm hoá trong quá khứ, Giáo Hội địa phương ở Việt Nam buộc phải dấn thân không hề chậm trễ trong việc hội nhập văn hoá. Nhưng trong hiện tại, việc thiếu nhân sự thành thạo, thời gian và thiện chí là những trở ngại chính cho việc hội nhập văn hoá.225 Do vậy, chúng ta phải để ý nhiều hơn tới vấn đề này trong công việc đào tạo linh mục: những người loan báo Tin Mừng buộc phải “đặt mình vào hoàn cảnh của người nghe, để cho việc loan báo của mình thích ứng với trình độ và mức trưởng thành của người nghe, và theo hình thức ngôn ngữ phù hợp.”226 Nhất là phải nổ lực đặc biệt để hội nhập cái tinh thần, cái lối sống, chứ không chỉ với cái hình thức bên ngoài
3. Đối Thoại Liên Tôn
Đối thoại liên tôn, “như là một bổn phận và thách đố của toàn thể Hội Thánh,”227 muốn nói tới việc xem xét những đường lối “cổ vũ sự hiểu biết và làm phong phú lẫn nhau” trong đó các thành viên của các truyền thống tôn giáo khác nhau có thể học hỏi nhau và học hỏi về nhau, đồng thời học hỏi về chính mình để nhận ra những giá trị thiêng liêng và cứu độ của chính mình và tin vào sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong chính mình.
Ở mức độ sâu xa nhất, đối thoại liên tôn luôn là đối thoại về ơn cứu độ, bởi vì cuộc đối thoại này tìm cách khám phá, làm sáng tỏ, và hiểu biết hơn những dấu chỉ thời đại trong suốt cuộc đối thoại mà Thiên Chúa duy trì với nhân loại.
Một cuộc đối thoại liên tôn chân thành và cởi mở là một con đường tốt cho sứ vụ truyền giáo tại Việt Nam, một đất nước giàu các tôn giáo truyền thống. Qua đối thoại, chúng ta để Thiên Chúa hiện diện ở giữa chúng ta, vì khi chúng ta tự mở ra với người khác, chúng ta cũng tự mở ra với Thiên Chúa. Vì thế đối thoại liên tôn là công trình Thiên Chúa khát khao, một yếu tố không thể thiếu trong sứ vụ loan báo Tin Mừng của Hội Thánh, sứ vụ này tìm ra cách diễn tả trong khi phục vụ đức tin, sự thăng tiến công bằng và phẩm giá con người.
Dù những hình thức cụ thể của việc thực hiện cuộc đối thoại liên tôn có thể khác biệt, căn bản của cuộc đối thoại (thái độ kính trọng và tin tưởng) phải luôn là một, đặc biệt với “đức tin Kitô giáo trưởng thành và xác tín.”228 Cuộc đối thoại như thế khiến các Kitô hữu trở nên tốt hơn và dễ thương hơn. Điều này cũng tương tự cho các tín hữu thuộc các tôn giáo khác. Sự thăng tiến chung này chuẩn bị đất đai mầu mỡ cho Tin Mừng được gieo xuống và mọc lên.
Bởi thế, một chương trình huấn luyện phù hợp cho các linh mục tương lai là rất quan trọng. Cuộc hội thảo toàn thể của Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu (FABC) tại Sam Phran, Thái Lan, đề nghị rằng linh đạo đối thoại liên tôn, như là một “cách thức hiện diện mới mẻ của Hội Thánh,” phải được in sâu nơi các nhà lãnh đạo trẻ của Giáo Hội tại Á Châu. Những người tham dự cuộc hội thảo nhận diện những nỗi sợ hãi và những thành kiến về tôn giáo như là những trở ngại to lớn trong việc theo đuổi cuộc đối thoại liên tôn. Và họ kể ra việc lắng nghe nhau, học hỏi nhau, khuyến khích nhau, cảm thông lẫn nhau, kính trọng và tin tưởng nhau như là điều kiện bó buộc để giúp thăng tiến cuộc đối thoại liên tôn hướng tới cuộc sống sung mãn.229 Quả thực, “nơi đầu tiên mà chúng ta phải thoát khỏi là trái tim nhỏ bé và hẹp hòi của chúng ta.”230
4. Hiện Diện với Người Nghèo:
Thiên Chúa là Đấng đầu tiên đã ưu tiên chọn lựa người nghèo. Qua Con Yêu Dấu của Ngài, Thiên Chúa khai mạc Vương Quốc giữa người nghèo (x. Mt 5,3; 25,40). Và “khi tìm cách thăng tiến nhân phẩm con người, Hội Thánh chứng tỏ lòng yêu thương ưu ái dành cho người nghèo và người thấp cổ bé miệng.”231
Nghèo đói là một số phận đối với nhiều người Việt Nam. Vì thế, Giáo Hội tại Việt Nam phải thực sự là Giáo Hội của người nghèo, vì người nghèo, cho người nghèo và với người nghèo “cả trong lời nói và việc làm” và trong cách “sống giản dị theo gương Chúa Giêsu.”232 Các linh mục phải sẵng lòng lắng nghe người nghèo và người bên lề xã hội, để thực sự là dấu chỉ chữa lành của tình yêu Thiên Chúa đối với họ.
Đức Hồng Y Paul Shan Kuo-hsi ước mong rằng “Tình yêu ưu ái và tình liên đới với người nghèo phải được truyền đạt cho các chủng sinh và phải bám rễ vào lòng họ, để họ có thể mang Tin Mừng cho người nghèo.” Và ngài gợi ý rằng “Các chủng sinh cần có kinh nghiệm về một số công việc dãi gió dầm sương trong cuộc sống thực của người nghèo, để các thầy có sự cảm thương sâu sắc với người nghèo, và sống một cuộc sống giản dị,” bởi vì “trong một xã hội thiên về vật chất và hưởng thụ, cuộc sống giản dị của linh mục là một bằng chứng mạnh mẽ cho những giá trị Tin Mừng và là một liều thuốc giải độc hữu hiệu đối với tình trạng khó chịu của thế giới hiện đại.233
Ngày nay chúng ta có một nhận thức mới mẻ rằng người nghèo không chỉ nghèo, nhưng còn bị áp bức, cả về vật chất lẫn tinh thần. Họ là những nạn nhân của những cơ cấu kinh tế và chính trị bất công, thậm chí cả những cơ cấu tôn ti và gia trưởng của kiểu tự tôn trong gia đình, trong xã hội và trong Hội Thánh, là nạn nhân của bóc lột, phân biệt đối xử và bạo lực, đặc biệt là phụ nữ và trẻ nhỏ. Vì thế, tham dự vào cuộc đấu tranh của người nghèo để giải phóng họ là một phần không thể thiếu trong sứ vụ của chúng ta: “Hội Thánh phải làm tất cả những gì có thể để vượt qua những sự dữ như thế, để hành động vì lợi ích của những người bị bóc lột nhiều nhất ấy và tìm cách đưa những người nhỏ nhất đến với tình yêu của Chúa Kitô.”234
Các linh mục thực sự hướng về phía người nghèo và người thiếu thốn trong sứ vụ của mình. Các ngài phải để giáo xứ mình dấn thân vào nhiều hình thức khác nhau trong việc nâng đỡ người nghèo, các trẻ mồ côi, những người goá bụa và sống dưới mức bình thường, nhằm “giúp cho họ biết tự giúp mình, để họ có thể làm việc nhằm thăng tiến tình trạng của họ và trở thành những người loan báo Tin Mừng cho chính nền văn hoá và xã hội của họ.”235
Chúng ta phải nhận ra hình ảnh Chúa Kitô, Đấng đã tự hủy mình ra không nơi người nghèo, và lắng nghe tiếng kêu của Ngài qua tiếng kêu của người nghèo, tin rằng nghèo khổ có thể mang tính cứu độ, nếu như đó là một sự nghèo khổ theo Tin Mừng. Tại Việt Nam, ta có thể xem xét, như là một khía cạnh tích cực trong sự quan phòng của Thiên Chúa, chính sách của những người cộng sản là áp đặt những hạn chế trên Giáo Hội và trưng thu những tài sản của Giáo Hội, nhờ thế các giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân phải nhìn lại đời sống chứng tá của mình và thăm dò những cách thức mới mẻ để sống với người nghèo và với những người sống niềm tin khác, thậm chí đối nghịch với mình.236
5. Đối Thoại với Người Cộng Sản
Sống dưới chính sách Cộng sản, Việt Nam có hoàn cảnh riêng của mình. Vì thế, nghiên cứu này chú ý nhiều hơn đến địa hạt đối thoại với người Cộng Sản, trong đó bao hàm cả việc đào tạo, cuộc sống và thừa tác vụ của các linh mục tương lai.
a. Những Lý Do Đối Thoại với Người Cộng Sản
1) Sứ Vụ Của Chúa Giêsu Và Sứ Vụ Của Hội Thánh
Thiên Chúa là Đấng đi bước trước trong cuộc đối thoại với con người. Hội Thánh được kêu gọi tiếp tục sứ vụ của Chúa Giêsu được Chúa Cha trao phó, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Nước Thiên Chúa không loại trừ ai, và sứ vụ của Chúa Giêsu, cũng là sứ vụ của Hội Thánh, là”một sứ vụ bao gồm tất cả:”237 gồm cả người nghèo và người giầu, người bị áp bức và người áp bức, tội nhân và người đạo đức, làm tan biến sự tha hoá và phá đổ những bức tường thù địch.
Công Đồng Vaticanô II đề nghị rằng các chủng sinh “cần học để tìm Chúa Kitô nơi … đặc biệt là người nghèo, các trẻ em, người bệnh tật, người tội lỗi và người không tin.”238 Chúng ta không được quên sự hiện diện của người Cộng Sản Việt Nam và chúng ta có thể tiếp cận họ qua con đường đối thoại, trong nhãn quan về sứ vụ cứu độ của Hội Thánh.239
Thực thế, “hầu hết mọi quan chức chính quyền và các nhà lãnh đạo trong xã hội đều chính thức đi theo ý thức hệ Mác-xít. Vì thế, Hội Thánh tại Việt Nam cũng được kêu gọi đối thoại với những người vô thần.”240 Vấn đề chính là phải theo kiểu đối thoại nào? Nếu chúng ta hiểu đối thoại như là một tương quan theo đúng mô hình “ad intra” (hướng vào trong) và “ad extra” (hướng ra ngoài) của Chúa Ba Ngôi, như là việc mang sứ điệp đi phân phát và mang sự hiệp thông đi trao tặng, như là chia sẻ tình yêu Thiên Chúa và làm chứng về tình yêu Thiên Chúa cho mọi người, như là một nỗ lực biến đổi thế giới này thành một thế giới tốt đẹp hơn và huynh đệ hơn, thì đối thoại trở thành một bổn phận của Hội Thánh như là hạt giống, men, muối và ánh sáng của trần gian.
2) Đòi Hỏi Của Tin Mừng
Đó là điều Chúa Giêsu Nadarét, Thiên Chúa thật và người thật, đã mang đến cho nhân loại nhờ tình yêu đến mức chết trên thập giá của Ngài. Ngài khởi sự một trật tự mới xuất phát từ tình yêu và sự tha thứ của Thiên Chúa cho tất cả mọi người. Ngài chúc phúc cho người xây dựng hoà bình (Ga 16,33; Mt 5,9) và ra lệnh phải yêu thương kẻ thù (Mt 5,43-45). Chúng ta phải góp phần thực hiện những viễn tượng hoà bình của Isaia (Is 2,4). Thế giới đương thời của chúng ta được tình yêu cứu độ của Thiên Chúa Cha khích lệ và đảm bảo. Chúa Cha là Đấng “đã sai Con Ngài đến cứu độ thế gian” (1 Ga 4,14) để cho thế gian có “sự sống dồi dào” (Ga 10,10). Cuộc đối thoại cứu độ này xuất phát từ Thiên Chúa Cha đến với nhân loại qua Chúa Con và quyền năng Chúa Thánh Thần. Chỉ có một cuộc đối thoại chân thành và tin tưởng giữa mọi thành phần của xã hội dân sự mới có thể tạo nên mội hy vọng mới cho toàn thể dân tộc Việt Nam.241
3) Định Hướng Lịch Sử Của Nhân Loại Trong Thời Đại Chúng Ta
Nhân loại đã chịu đựng quá nhiều các loại chiến tranh: chiến tranh ý thức hệ và diệt chủng, chiến tranh thế giới, nội chiến và chiến tranh quốc gia, chiến tranh đẫm máu giữa những anh em cùng dòng máu, chiến tranh nóng với bom hạt nhân, chiến tranh lạnh với đe doạ của nguyên tử, chiến tranh kinh tế, v.v…
Thật tuyệt vời khi biến kẻ thù thành bạn hữu. Một bài hát Việt Nam ca rằng: “Kẻ thù ta đâu có phải là người. Giết người đi thì ta ở với ai? Kẻ thù ta, tên nó hờn căm, tên nó là tỵ hiềm, tên nó là một lủ ma.” Ta không thể tiếp tục cuộc tàn sát của chiến tranh. Nhân loại phải phá bỏ xiềng xích bạo lực và hận thù, và bắt đầu cùng tồn tại trong hoà bình và liên đới, bằng đối thoại và hợp tác, bằng cách dùng mọi nghiên cứu và mọi tiến bộ xã hội và kỹ thuật để phục vụ cho mọt tương lai tốt đẹp hơn cho mọi người.
“Thế giới này của chúng ta có thể biến đổi: hoà bình là có thể, thậm chí ở nơi đã có giao chiến và chết chóc kéo dài.”242 Lịch sử chứng minh rằng thế giới có thể thay đổi (và phải thay đổi) những cách suy nghĩ và hành động, để hướng tới mối tương quan tốt đẹp với Thiên Chúa, với chính mình, với người khác và với tạo thành, trong tình liên đới và yêu thương. Dù hoà giải các lập trường của các đối thủ có những mối hận thù xa xưa và những vấn đề trầm trọng thật là khó,”243 nhưng “Thần Khí vẫn luôn dùng sự bất lực và yếu đuối con người để thực hiện sự tha thứ lẫn nhau và hoà giải giữa các cá nhân, các gia đình và các cộng đoàn.”244
4) Sự Biến Chuyển Của Nhận Thức Và Các Mối Liên Hệ
Chúng ta phải sống bài học quá khứ của lịch sử với niềm hy vọng: đó là sự biến chuyển nhận thức và mối liên hệ giữa Giáo Hội và Chủ Nghĩa Cộng Sản, biến chuyển của mối quan tâm và liên hệ trong chính mỗi cơ cấu. Chẳng hạn, sự biến chuyển này diễn ra từ quan điểm đối đầu và loại trừ của Thông Điệp Divini Redemptoris về Chủ Nghiã Cộng Sản Vô Thần,245 của Thư Mục Vụ 1951 của các Giám Mục Đông Dương 246coi chủ nghĩa cộng sản như là mối nguy hiểm lớn nhất của thời đại, hoàn toàn mâu thuẫn với Công giáo, xấu xa tự bản chất, những người Công giáo tham gia chủ nghĩa cộng sản sẽ bị vạ tuyệt thông; và điều này được lặp lại trong Thư Mục Vụ 1960 do các Giám Mục Miền Nam Việt Nam,247 đến tinh thần đối thoại và cộng tác của Công Đồng Vaticanô II và sự cộng tác lành mạnh của Đức Gioan Phaolô II.
Về phía Chủ Nghĩa Cộng Sản, điều tương tự cũng diễn ra, đặc biệt là với những chính sách perestroika và glasnost248 (canh tân và mở ra công khai) của Mikhail Gorbachev, được thực hiện ở Việt Nam với chính sách Đổi Mới của Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản; với chuyến viếng thăm Vaticanô gần đây của Phó Thủ Tướng Việt Nam, ông Vũ Khoan, “nhân vật quan trọng nhất của Việt Nam trở lại thăm viếng các chức sắc Rôma kể từ năm 1987.” Trong chuyến viếng thăm này, “hai bên đã đồng ý về nhu cầu tăng cường hợp tác giữa Giáo Hội và Chính Phủ, vì lợi ích của toàn xã hội Việt Nam, bao gồm cả vấn đề bình thường hoá quan hệ ngoại giao.”249
b. Những Tiêu Chí Của Cuộc Đối Thoại Này
1) Khuyến Cáo Của Đức Gioan Phaolô II
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã cụ thể hoá và bối cảnh hoá những nguyên tắc chỉ đạo cho cuộc đối thoại này trong những bài nói chuyện với các Giám Mục Việt Nam.
Những Điều Kiện Tiên Quyết: Đức Tin Mạnh Mẽ, Hiệp Nhất và Hiệp Thông trong Hội Thánh250
Trong bài nói chuyện vào ngày 17-6-1980, Đức Gioan Phaolô II đã nhắc nhở các Giám Mục Việt Nam về sứ vụ quan trọng nhất là giảng dạy, bảo vệ và nâng đỡ đức tin của đồng bào mình. Ngài nói rằng cuộc tiếp xúc và đối thoại với nhà cầm quyền dân sự là cùng nhau tìm kiếm lợi ích của đất nước và Hội Thánh tại Việt Nam.251
Trong bài nói chuyện ngày 11-12-1980, ngài nhấn mạnh đến mối hiệp nhất trong hàng giám mục như là sự bảo đảm cho mối hiệp nhất giữa các linh mục địa phận: hiệp nhất và hiệp thông bằng lòng yêu mến và hành động, bằng suy nghĩ và việc làm trong Hội Thánh là rất quan trọng, bởi vì thật phi lý là cuộc đối thoại trong lòng Hội Thánh đôi khi còn khó khăn hơn cuộc đối thoại với bên ngoài. Đức Giáo Hoàng ước mong rằng hàng Giám Mục biểu lộ cho người khác thấy các ngài yêu mến quê hương đến mức nào, và rằng tham dự vào việc thăng tiến đất nước cũng là cách các ngài loan báo Tin Mừng.252
Tôn Trọng Sự Độc Lập và Tự Quản
Trong bài nói chuyện ngày 22-1-2002, Đức Gioan Phaolô II nhấn mạnh rằng “do nhiệm vụ và thẩm quyền của mình, Hội Thánh không hoà mình, bằng bất cứ cách nào, vào cộng động chính trị và không liên kết với bất cứ hệ thống chính trị nào”; rằng “cộng đồng chính trị và Hội Thánh độc lập với nhau và tự quản trong địa hạt của mỗi bên;”253 “được kêu gọi vừa để chu toàn sứ vụ riêng biệt của mình vì lợi ích của cùng một dân tộc, việc phục vụ của cả hai phía sẽ còn hữu hiệu hơn vì họ còn thực hiện giữa họ một sự cộng tác lành mạnh.”254
Tôn Trọng Sự Phát Triển của Tự Do Tôn Giáo
Để tiến hành “sự cộng tác lành mạnh” này, Giáo Hội chờ đợi nơi cộng đồng chính trị sự tôn trọng hoàn toàn tính độc lập và tự quản của Giáo Hội. Chính sự thiện vô giá là tự do tôn giáo - được Công Đồng Vaticanô II, các Tuyên Ngôn và Công Ước Quốc Tế đặt thành vấn đề – cũng được gửi tới các cá nhân và các cộng đồng tôn giáo. Dựa trên Tuyên Ngôn Dignitatis Humanae,255 Đức Giáo Hoàng miêu tả chi tiết những quyền tự do tôn giáo đối với các cá nhân cũng như cộng đồng tôn giáo.256
Viễn Ảnh Một Tương Lai Tốt Đẹp Hơn
Về tương lai của Việt Nam, Đức Gioan Phaolô II ước mong rằng người tín hữu phải có khả năng được hưởng một nền giáo dục khả dĩ giúp họ nên chứng nhân trong đời sống xã hội, chính trị và kinh tế, để họ có thể “đảm nhiệm vai trò thuộc về họ trong đời sống và sứ vụ của Dân Chúa, như những chứng nhân của Chúa Kitô, ở bất cứ nơi đâu mà họ có thể hiện diện;”257 rằng “mọi thành phần quốc gia đều được liên kết nhằm thăng tiến nền văn minh tình thương, đặt nền tảng trên những giá trị phổ quát là hoà bình, công lý, liên đới và tự do” và rằng đức cậy Kitô giáo làm phong phú nhiệt tình tông đồ và trao ban những sức mạnh mới để công bố Chúa Kitô, Đấng Cứu Độ, Ngài đã đến “để con người được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).
2) Thái Độ Của Các Giám Mục Việt Nam
Trong Thư Mục Vụ 1976, các Giám Mục Việt Nam nhận định rằng cuộc xung đột giữa niềm tin Kitô giáo và học thuyết Mác-xít là rõ ràng, nhưng đó không phải là lý do để nói rằng cuộc đối thoại và hợp tác giữa những người phục vụ con người trong sứ mệnh cá nhân và xã hội là không thể diễn ra. Và các ngài kết luận rằng đức tin Kitô giáo không phải là trở lực gây chia rẽ người có tôn giáo và người không tôn giáo, đức tin ấy cũng không phải chất ma tuý đem người Công giáo ra khỏi thực tại trần thế. Trái lại, đức tin dẫn chúng ta đến với con người và làm cho chúng ta có khả năng đánh giá đúng đắn các thực tại trần thế.258
Với lòng gắn bó như thế với cuộc đối thoại và hợp tác, được những khích lệ của Đức Giáo Hoàng động viên và soi sáng, các Giám Mục Việt Nam đã thẳng thắn trình lên các Nhà Lập Pháp Việt nam một lá thư ngỏ nêu ra những gợi ý của các ngài hướng đến việc xây dựng và phát triển xã hội vì nhân vị con người, như là cùng đích của bất cứ tổ chức và cơ cấu xã hội nào, theo phẩm giá và các quyền của họ:
* Giảm thiểu những khiếm khuyết xã hội hiện nay: tha hoá nhân vị con người, hệ thống bất công làm tha hoá con người, ví dụ cơ chế “xin cho” máy móc;
* Phát triển các giá trị nhân bản làm cho con người trở nên nhân bản hơn và sống theo phẩm giá con người của mình, “như là một giá trị Tin Mừng không thể bị khinh miệt mà không xúc phạm trầm trọng đến Đấng Tạo Hoá:”259 phát triển nhân phẩm con người, phát triển xã hội và thăng tiến nhân vị con người dựa trên sự thật, phát triển tình liên đới trong mọi sinh hoạt gia đình và xã hội, phát triển nguyên tắc phân quyền, phát triển nhận thức và lòng sẵn sàng phục vụ công ích.”260
Ngoài ra, Đức Cha Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam cũng nói với Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Hoa Kỳ rằng việc loan báo Tin Mừng không thể tách lìa sứ vụ thăng tiến sự tiến bộ thực sự của tất cả mọi con người. Đây là giáo huấn cốt lõi của Đức Gioan Phaolô II trong Ecclesia in Asia mà các Giám Mục Việt Nam đã đón nhận như là chỉ dẫn mục vụ cho mình. Và ngài kết luận: “Để hoàn thành sứ vụ yêu thương và phục vụ của Chúa Kitô tại Việt Nam, chúng tôi đang nổ lực gia tăng nhân sự được huấn luyện kỹ càng và thực hiện các giá trị truyền thống trong gia đình và xã hội.”261
Và gần đây, Tuần Báo France Catholique tường thuật cuộc phỏng vấn của Vietcatholic News với Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn. Với câu hỏi tại sao các Giám Mục Việt Nam không dùng một lập trường cứng rắn hơn đối với chính quyền, Hồng Y Mẫn trả lời rằng người Kitô hữu Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, có những thái độ khác nhau trong lãnh vực này. Về phía các Giám Mục, các ngài luôn khởi đi từ Tin Mừng, nguồn ánh sáng, sự thiện và chân lý. Các ngài có trách nhiệm mang Tin Mừng đến cho dân chúng, mà các ngài phải yêu thương tất cả mọi người, bất cứ họ là ai. Hồng Y Mẫn cũng nhắc tới Đức Gioan Phaolô II, vị đã thường tuyên bố rằng con đường duy nhất mà Hội Thánh phải theo đuổi, cho dù thiếu tự do hay gặp nhiều khó khăn, là con đường đối thoại, con đường của Vaticanô II. Như thế, các Giám Mục không thực hành sự đối lập mang tính hệ thống, nhưng là thái độ đối thoại.262
3) Sự Cảm Thông Của FABC
Với tinh thần thực tế và lòng cậy trông vào ân sủng Thiên Chúa, Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu (FABC) tuyên bố rằng việc đối thoại đòi hỏi đời sống nội tâm sâu sắc giúp con người có khả năng tin vào tình yêu Thiên Chúa, dám mạo hiểm chịu thương tích và hiểu lầm, thậm chí mọi thứ có vẻ như tan tành; và giống Chúa Kitô hoàn toàn khi tự huỷ mình ra không, để rồi, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, “chúng ta có thể thành những dụng cụ hữu hiệu để xây dựng Nước Thiên Chúa.”263
c. Đường Lối Đối Thoại Thích Hợp với Người Cộng Sản
1) Nhìn Nhận Những Quyền Bính Dân Sự
Không gì thoát khỏi kế hoạch quan phòng của Thiên Chúa, cho dù con người không thể hiểu được (Is 55,8). Quyền bính “được Đức Chúa trao ban và chính Đấng Tối Cao đã ban quyền thống trị” (Kn 6,3). Chính Chúa Giêsu đã trả lời Philatô rằng: “Ngài không có quyền gì trên tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài” (Ga 19,11); và Ngài nói với những người Pharisêu: “Của Xêda, trả cho Xêda; của Thiên Chúa, trả cho Thiên Chúa” (Mt 22,21). Thánh Phêrô cũng dạy như thế (1 Pr 2,13-14).
Trong chiều hướng này, Chính Quyền và Đảng Cộng Sản là những thực thể không thể chối cãi, đã kết thúc chiến tranh và đem lại hoà bình, thống nhất và độc lập cho toàn thể đất mẹ Việt Nam, cùng với sự đóng góp của toàn thể dân chúng. Giáo Hội Công Giáo và các Giáo Hội thuộc các tôn giáo khác cũng là những thực thể không thể chối cãi được, phải được nhìn nhận và tôn trọng. Ta phải thẳng thắn thừa nhận sự nhìn nhận tích cực của Hiến Pháp 1992 của Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và ước mong rằng với đối thoại và cùng nhau làm việc, Hiến Pháp sẽ được đem ra thực hiện:
Công dân có quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các Tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước.264
Có chung cùng một mục đích, các tôn giáo và cộng đồng chính trị được “kêu gọi hoàn thành sứ mệnh riêng biệt của mình vì lợi ích của dân tộc, việc phục vụ của họ sẽ hữu hiệu hơn nhiều vì họ sẽ cùng nhau thực hiện một sự hợp tác lành mạnh.”265
2) Bác Bỏ Đối Thoại ở Mức Độ Ý Thức Hệ
Tốt hơn là nên đối thoại với người cộng sản hơn là chủ nghĩa cộng sản, với con người hơn là với ý thức hệ, do có sự khác biệt tận căn giữa Công Giáo với ý thức hệ Cộng Sản. Ta phải chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt nơi người khác; đón nhận cái tích cực và loại bỏ cái tiêu cực; đề cao và phát triển những giá trị của mỗi phía. Ta không thể phủ nhận những giá trị tích cực của Chủ Nghĩa Cộng Sản trong kế hoạch quan phòng của Thiên Chúa đối với nhân loại và đối với Dân Thiên Chúa.
Hãy để thời gian và con người thử nghiệm các ý thức hệ. Bất cứ học thuyết nào không còn đáp ứng được những khát vọng của con người sẽ bị loại bỏ. Đó là lý do của sự sụp đổ của Chủ Nghĩa Cộng Sản sau một thời gian thống trị kéo dài gần một thế kỷ. Đó cũng là lý do bỏ đạo của nhiều Kitô hữu trong thế giới phát triển, ở các nước hậu cộng sản Đông Âu, thậm chí trong các nước mới phát triển thuộc thế giới thứ ba.
Đây là một lời cảnh báo nghiêm khắc thúc giục Giáo Hội có lựa chọn ưu tiên cho người nghèo, người bị áp bức, người bị bóc lột và người bị đặt ngoài lề; tự đặt mình về phía những người đói khát sự thật, công lý, sự kính trọng, tự do, hoà bình, nhân phẩm con người, nhân phẩm của con cái Thiên Chúa, tình liên đới và tình yêu; và từ đó, hăm hở làm chứng cho Thiên Chúa và Nước Thiên Chúa, một Vương Quốc bao gồm tất cả mọi người.
3) Đối Thoại Bằng Cuộc Sống Và Hành Động Với Người Cộng Sản
“Cuộc đối thoại cơ bản nhất là cuộc đối thoại của con tim và linh hồn. Cuộc đối thoại này đưa tới đối thoại về cuộc sống và hành động để cùng nhau khắc phục những thảm họa xã hội.”266
Tại Việt Nam hôm nay, con đường thích hợp để đối thoại với người Cộng Sản là Đối Thoại bằng Cuộc Sống và Đối Thoại bằng Hành Động:
* Đối thoại bằng cuộc sống xảy ra ở nơi con người phấn đấu sống trong tinh thần cởi mở và thân thiện, chia sẻ niềm vui và nỗi buồn, những vấn đề nhân sinh và những mối bận tâm của mình;267
* Đối thoại bằng hành động được thực hiện ở nơi mà người Kitô hữu và người Cộng Sản hợp tác vì sự phát triển toàn diện và vì cuộc giải phóng đất nước.
Dựa trên các giáo huấn Tin Mừng của Công Đồng Vaticanô II, với tinh thần cởi mở, đối thoại, hoà giải và chấp nhận những khác biệt, các Giám Mục Việt Nam đã nói trong Thư Mục Vụ 1980: “Là Hội Thánh trong lòng Dân tộc Việt Nam, chúng ta quyết tâm gắn bó với vận mạng Quê hương, noi theo truyền thống Dân tộc, hoà mình vào cuộc sống hiện tại của Đất Nước.”268 Và trong Thư Mục Vụ 2001, các ngài viết: “Để yêu thương và phục vụ, trước hết ta phải tiếp tục đường hướng đồng hành với dân tộc, đồng cảm, chia sẻ hy vọng và lo âu của dân tộc, trong tiến trình phát triển xã hội và thăng tiến con người.”269
4) Đối Thoại Bằng Cách Làm Chứng Cho Tình Yêu Thiên Chúa
Đặc biệt, ở phạm vi cá nhân cũng như tập thể, mọi thành phần Giáo Hội Việt Nam phải làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa đối với người cộng sản và thật lòng yêu thương họ. Thái độ thù địch là một sức mạnh phá hủy khủng khiếp, nhưng Tình Yêu lại còn mạnh mẽ hơn: “Đức mến không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,5-7). Quả thực, “một tình yêu mạnh hơn vượt thắng một tình yêu yếu hơn và sự gắn bó đi liền với tình yêu ấy … Nếu đức tin của chúng ta đủ mạnh, chúng ta sẽ không bị sức lôi cuốn của ý thức hệ áp đảo.”270 Tình yêu sẽ biến đổi mọi sự trong thế giới này, và hy vọng sự biến đổi ngay trong lòng Chủ Nghĩa Cộng Sản và giữa những người Cộng Sản.
5) Một Số Dữ Liệu Thống Kê
Những con số thống kê năm 2003 cho biết: Giáo Hội địa phương ở Việt Nam có hai mươi lăm giáo phận chia thành ba giáo tỉnh, một ở miền Bắc, một ở miền Trung và một ở miền Nam với tổng số 5.572.525 người Công giáo (6,69%) trong tổng dân số 79.347.431 người. Đoàn chiên này của Thiên Chúa được uỷ thác cho hai Hồng Y, 38 Giám Mục và Tổng Giám Mục, 2125 linh mục giáo phận, 432 linh mục dòng, với sự cộng tác của 1920 nam tu sĩ, 10337 nữ tu sĩ và 50272 giáo lý viên. Có 1085 chủng sinh đang theo học ở sáu đại chủng viện, 100 trong số 241 chủng sinh mãn trường đã chịu chức linh mục, và 1712 chủng sinh còn trong danh sách chờ đợi.271
d. Con Đường Hy Vọng Đã Được Mở Ra
Thiên Chúa luôn luôn đúng. Ngài có thể uốn đường cong nên thẳng và rút điều tốt ra từ điều xấu. Bây giờ người Công giáo có hiểu biết nhiều hơn về người vô thần, người Cộng Sản và những người theo các tôn giáo khác. Và chính quyền các cấp cũng đã nhận ra sự đóng góp tích cực của người Công giáo trong việc phục vụ xã hội, xây dựng đất nước và đoàn kết quốc gia. Hơn thế nữa, với pháp lệnh mới về tôn giáo, ban hành ngày 18-6-2004 và có hiệu lực từ ngày 15-11-2004,272 (gồm sáu chương và 41 điều), tình trạng của các tôn giáo tại Việt Nam dần dần trở nên tốt hơn. Không ai có thể phủ nhận rằng, qua cuộc đối thoại bằng cuộc sống, bằng hành động, và bằng việc làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa, trong đất nước, có nhiều đổi thay tích cực và những biến đổi tốt hơn trong nhiều phạm vi, và một số người cộng sản trở lại Công giáo, ít nhất là bằng con đường hôn nhân.
Con Đường Hy Vọng đã được mở ra. Các linh mục tương lai phải tiếp tục và thực hiện những nỗ lực của những người tiền nhiệm, trong tình liên đới và hợp tác với đồng bào, trong Cách Thức Hiện Diện Mới của Hội Thánh tại Á Châu, với bốn cuộc đối thoại: đối thoại với các tôn giáo khác, với các nền văn hoá, với người nghèo và với người cộng sản. Các ngài sẽ cùng làm việc với người khác để xây dựng thành trì dưới đất, nhưng không bao giờ đánh mất tầm nhìn về vương quốc trên trời.
Với tình yêu Thiên Chúa và với tác động của Chúa Thánh Thần, chúng ta trông mong có một tương lai tốt đẹp hơn cho nước Việt Nam và Hội Thánh tại Việt Nam: “Mọi thành phần trong quốc gia đều liên kết với nhau để thăng tiến một nền văn minh tình thương, đặt nền móng trên những giá trị phổ quát là hoà bình, công lý, liên đới và tự do.”273
Mới đây, chính quyền Việt Nam và các nhà lãnh đạo Hội Thánh Công giáo địa phương đã tỏ lòng biết ơn sự đóng góp của Đức Gioan Phaolô II đối với việc cải thiện những mối quan hệ Vaticanô – Việt Nam và bày tỏ hy vọng rằng sự tiến bộ sẽ còn tiếp tục. Các phái đoàn Vaticanô đã tiến hành 12 cuộc thăm viếng làm việc chính thức với các quan chức Việt Nam kể từ cuộc gặp mặt năm 1989, và điều này đã giúp ích cho Giáo Hội địa phương và Đất Nước. Với tinh thần đối thoại thẳng thắn và một thái độ tôn trọng lẫn nhau, hai bên có thể đạt được những thỏa thuận tích cực, hy vọng rằng chính quyền Việt Nam và Toà Thánh sẽ thiết lập quan hệ ngoại giao trong tương lai gần.274
GHI CHÚ
198 Bruno Torpigliani, Forming our Future Priests…, ibid., tr. 39.
199 Phaolô VI, Summi Dei Verbum: Address on Seminaries and Vocations (Rome, November 4, 1963).
200 Domingo Moraleda, “Lectures on Theology of the Forms of Christian Life in the Church”
201 HĐGMVN, Thư Mục Vụ 2003, số 2-9.
202 “Today’s Seminarians Need Missionary and Real-Life Formation” (Bangkok, November 11, 2003), Ucanews.com/archives, truy cập ngày 25-12-2004.
203 Gioan Phaolô II, Pastores Dabo Vobis…, ibid., số 82.
204 Ibid., số 70.
205 Orlando B. Quevedo, Gathered Around Jesus…, ibid., tr. 41.
206 Domingo Moraleda, “Lectures on An Introduction to Missiology of Consecrated Life”…, ibid., tr. 11.
207 Xem “Đối thoại với người Cộng sản.” Cuộc đối thoại cũng có thể thực hiện ở Trung Hoa, Bắc Triều Tiên và Cuba.
208 HĐGMVN, Thư Mục Vụ 2003, số 7.
209 Domingo Moraleda, “Lectures on Fundamental Ecclesiology: A Historical and Theological Reflection” tr. 4-37.
210 Domingo Moraleda, “Lectures Theology of the Forms of Christian Life in the Church” tr. 41-73.
211 Donna M. Hanson, “I invite you to Accompaniment,” in Donald J. Goergen, ed., Being A Priest Today (Collegeville, Minnesota: The Liturgical Press, 1992), tr. 193-195.
212 Ren T. Lagaya, “Sharing Our Spirituality and Charisms with the Laity,” Religious Life Asia 2 (January-March, 2000): 56-68.
213 Domingo Moraleda “Lectures on “Fundamental Ecclesiology: A Historical and Theological Reflection”…, ibid.
214 Vaticanô, Lumen Gentium, chương 5; Presbyterorum Ordinis…, số 9; Synod of Bishops 1971, The Ministerial Priesthood, 3: Relations between priests and laity; Congregation for the Doctrine of the Faith, Letter to the Bishops of the Catholic Church on the Collaboration of Men and Women in the Church and in the World (Rome, May 31, 2004) Zenit.org/english, truy cập ngày 29-9-2004.
215 Fabiano Choi Hong-jun, “The Expectations of the Laity on Priestly Formation,” trong Linh Mục Thiên Niên Kỷ Mới, Đại Chủng Viện Huế (2000), tr. 245-262.
216 Sung-Hae Kim, “The Threefold Dialogue and the Image of Woman: A Little Hope for the Priestly Formation from a Woman’s Perspective,” trong Linh Mục Thiên Niên Kỷ Mới, Đại Chủng Viện Huế (2000), tr. 263-279.
217 Percy Bacani, “Lectures on Missionary Spirituality”
218 “The Church in Asia in Solidarity with Women” Ucanews.com/html/fabc-papers/workshop_reports/ws03.html, truy cập ngày 19-3-2005.
219 “Jesus Christ, the Measure of True Humanism…”, ibid.
220 “A Church That Has No Fear of the Future…”, ibid.
221 “Do Not Be Afraid of Christ! ...”, ibid.
222 Bruno Torpigliani, Forming our Future Priests…, ibid., tr. 54.
223 Gioan Phaolô II, Ecclesia in Asia…, ibid., số 21.
224 “Evangelization in Vietnam must stress ‘Triple’ Dialogue” (Ho Chi Minh City, May 31, 2002), Ucanews.com/archives, truy cập ngày 25-1-2004.
225 “Ancestor Veneration helps link Catholics with Vietnamese Mainstream” (November 9, 1999), Ucanews.com/archives, truy cập ngày 25-12-2004.
226 Gioan Phaolô II, Ecclesia in Asia…, ibid., số 20.
227 Ibid., số 31.
228 Gioan Phaolô II, Ecclesia in Asia…
229 “Christian missioners must explicitly proclaim Jesus Christ in Asia” (Thailand, January 18, 2000), Ucanews.com/archives, truy cập ngày 25-1-2004).
230 “Evangelization in Vietnam must stress ‘Triple’ Dialogue”… ibid.
231 Đức Gioan Phaolô II, Ecclesia in Asia…, ibid., số 34.
232 Ibid.
233 “Synod of Bishops-Special Assembly for Asia: Orientations on Priestly Formation,” trong Linh Mục Thiên Niên Kỷ Mới … ibid., tr. 45-46.
234 Gioan Phaolô II, Ecclesia in Asia…, ibid., số 34.
235 Ibid.
236 “Vietnam Church has Matured under Communist Rule” (Ho Chi Minh City, May 10, 2002), Ucanews.com/archives, truy cập ngày 3-11-2004.
237 Domingo Moraleda, “Lecture on An Introduction to Missiology of Consecrated Life”…, ibid., tr. 10.
238 Vaticanô II, Optatam Totius…, ibid., số 8.
239 Gioan Phaolô II, Redemptoris Missio…, ibid., số 44.
240 “Grassroots Exchange Will Lead to Useful Dialogue” (Hue, May 22, 2003, Ucanews.com/archives, truy cập ngày 29-9-2004.
241 “The Church is Waiting for the Total Respect of its Autonomy”…, ibid.
242 Gioan Phaolô II, “Message for First Easter of the Millennium” (Vatican City, April 15, 2001), Zenit.org/english, truy cập ngày 3-11-2004.
243 Gioan Phaolô II, Le dialogue entre les cultures pour une civilisation de l'amour et de la paix (Vatican, December 14, 2000), Zenit.org/english, truy cập ngày 25-1-2005.
244 “Statement of the seventh Bishops’ Institute for Interreligious Affairs on the Theology of Dialogue,” in For All The People of Asia 1 (Quezon City: Claretian Publications 1997), tr. 311.
245 Pius XI, Divini Redemptoris: On Atheistic Communism (March 19, 1937).
246 Pastoral Letter of Indochinese Bishops 1951, Lavang.co.uk/TTMVLondon/GiaoHoiVietNam, truy cập ngày 25-12-2004.
247 HĐGMNVN, Thư Mục Vụ Mùa Chay 1960.
248 Jay Rogers, “The Downfall of Communism,” in forerunner.com/forerunner/X0658 Downfall of Communis.htm, truy cập ngày 25-1-2005.
249 “Historical Visit at Vatican of Vietnamese Vice-First Minister” (Vatican City, November 29, 2002), Zenit.org/english, truy cậpo ngày 25-1-2005.
250 Gioan Phaolô II, Ecclesia in Asia…, ibid., số 25.
251 Gioan Phaolô II, Speech to VBC, Vatican.va/holy_father/john_paul_ii/ speeches/1980/june (Vatican, June 17, 1980), truy cập ngày 7-10-2004.
252 Gioan Phaolô, Speech to VBC, Vatican.va/holy_father/ john_paul_ii/speeches/1980/december (Vatican, December 11, 1980), truy cập ngày 7-10-2004.
253 “The Church is waiting for the Total Respect of its Autonomy” (Vatican, January 22, 2002), Zenit.org/english, truy cập ngày 25-12-2004.
254 Vaticanô II, Gaudium et Spes…, ibid., số 76, được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trích dẫn tron Bài Nói Chuyện với HĐGMVN (22-1-2002).
255 Vaticanô II, Dignitatis Humanae: Declaration on Religious Freedom (December 7, 1965) in Welcome to the Catholic Church. CD-ROM. (Philippines: Harmony Media Inc.), số 4.
256 Gioan Phaolô II, “Hội Thánh chờ đợi sự tôn trọng hoàn toàn quyền Tự Quản của mình”…, ibid: “Đối với con người, tự do tôn giáo bảo đảm quyền tuyên xưng và thực hành tôn giáo của mình mà không bị cưỡng ép, quyền đón nhận một nền giáo dục như là điểm khởi đầu các nguyên tắc đức tin của mình, quyền đi theo ơn gọi tôn giáo và quyền đưa ra những hành vi riêng tư và công khai nhằm diễn tả mối liên hệ nội tâm nối kết họ với Thiên Chúa và anh em mình. Đối với các cộng đoàn tôn giáo, tự do tôn giáo bảo đảm những quyền căn bản như quyền tự điều hành theo lối tự trị; quyền cử hành mà không bị giới hạn việc thờ phượng công khai; quyền công khai dạy dỗ đức tin của mình và biểu lộ bằng lời và bằng chữ viết; quyền nâng đỡ các thành viên trong việc thực hành đời sống tôn giáo; quyền lựa chọn, giáo dục, bổ nhiệm và thuyên chuyển các chức sắc của mình; quyền bày tỏ sức mạnh đặc biệt về học thuyết xã hội của mình; quyền xúc tiến những sáng kiến trong các lãnh vực giáo dục, văn hoá, bác ái xã hội.”
257 Gioan Phaolô II, Ecclesia in Asia…, ibid., số 45.
258 HĐGMNVN, Thư Mục Vụ 1976, số 13.
259 Gioan Phaolô II, Opening Address at the Puebla Conference (January 28, 1979), III: Defender and Promotor of Human Dignity, in Welcome to the Catholic Church CD-ROM. Philippines: Harmony Media Inc.
260 HĐGMVN, “Open Letter to Legislative Leaders of Vietnam” (Hanoi, October 7-12, 2002), Vietcatholic.net, truy cậpngày 25-12-2004.
261 Paul Nguyen van Hoa, in Communion and Solidarity, (Washington DC, November 2003), tr. 3.
262 John Baptist Pham Minh Man, “Ecclesia Zenit: Vietnam,” in France Catholique 2978 (Mai 27, 2005), tr. 19.
263 “Statement of the Seventh Bishops’ Institute for Interreligious Affairs on the Theology of Dialogue,” in For All the People of Asia 1…, ibid., tr. 311.
264 Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Hiến Pháp (Việt Nam 1992) điều 70.
265 Vaticanô II, Gaudium et Spes…, ibid., số 76, được Đức Gioan Phaolô II trích dẫn trong Bài Nói Chuyện với HĐGMVN (22-1- 2002).
266 “Dialogue between Faith and Cultures in Asia,” in For All the Peoples of Asia 2 (Quezon City: The Claretian Publications, 1997), tr.25.
267 Gioan Phaolô II, Ecclesia in Asia…, ibid., số1.
268 HĐGMVN, Thư Mục Vụ 1980, số 9.
269 HĐGMVN, Thư Mục Vụ 2001, số 9.
270 Antonio B. Lambino, “The Faith Dimension in Social-Political Involvement,” in For Faith and Service (Philippines, 1973-1982), tr. 103.
271 The Episcopal Conference of Vietnam, Communion and Solidarity…, ibid., tr. 5-6.
272 “New Ordinance on Religion Shows Government Changing to More Open Stance” (Ho Chi Minh City, September 7, 2004), Ucanews.com/archives/english, truy cập ngày 19-3-2005.
273 “The Church is waiting for the Total Respect of its Autonomy”…, ibid.
274 “Government, Church Leaders Recognize Pope's Contributions to Vatican-Vietnam Relations” (Hanoi, April 8, 2005), Ucanews.com/archives/english, truy cập ngày 27-7-2005.


CHƯƠNG VIII
GIAI ĐOẠN TIỀN CHỦNG VIỆN THĂNG TIẾN, THẨM TRA VÀ ĐÓN NHẬN

A. Cộng Tác Hữu Hiệu Ở Cấp Giáo Phận
1. Giai Đoạn Chuẩn Bị Các Ứng Sinh Gia Nhập Chủng viện
Việc đào tạo linh mục, đặc biệt là đào tạo về mặt thiêng liêng, là điều kiện thiết yếu để các ứng sinh có thể được chấp nhận vào chủng viện. Đào tạo toàn diện đòi hỏi chủng sinh trưởng thành về nhân cách, tri thức và hiểu biết, cũng như trưởng thành về đời sống thiêng liêng nữa. Vì thế, Thánh bộ Giáo dục Công giáo đề nghị: “Trong giai đoạn chuẩn bị gia nhập Chủng viện, cần lưu tâm trước nhất đến đào tạo về mặt thiêng liêng.”275
Giai đoạn chuẩn bị này có thể thực hiện trước và ở một nơi nào đó ngoài chủng viện. Do đó, Uỷ Ban Ơn gọi Giáo phận cần phải năng động và tiên phong. Uỷ Ban này không những thông báo cho các thanh niên thích hợp cho chức linh mục biết điều này, mà còn khuyến khích các linh mục Giáo phận quan tâm hơn tới các thanh niên được kể là những ứng sinh thích hợp.
Uỷ Ban Ơn gọi cần đón nhận, nuôi dưỡng và vun trồng ơn gọi khả dĩ của các thanh niên này. Ủy ban phải cung cấp cho họ các chương trình giúp họ phân định ơn gọi của mình. Uỷ Ban này cũng phải nhận định, đánh giá và tuyển chọn các thanh niên xem ra xứng đáng là ứng viên cho chức linh mục.
Việc nhận định và đánh giá bao gồm: đời sống cầu nguyện, thực hành đức tin, thái độ của ứng sinh đối với giới tính và sự độc thân,276 trình độ văn hoá và phát triển nhân cách nữa. Cũng cần tìm hiểu xem ứng sinh có bị mắc ngăn trở giáo luật nào không.
a. Cam Kết Khởi Đầu Của Ứng Sinh
Lai lịch của từng ứng sinh là cần thiết và hữu ích để biết rõ hơn mối quan tâm duy nhất của anh. Ứng sinh sẽ được yêu cầu viết một bản tự thuật và trả lời cho bản câu hỏi “Tự Vấn để tiến tới chức linh mục”277 liên quan tới những điều kiện bên ngoài, những điều kiện tự nhiên, và những điều kiện thiêng liêng. Hai dữ liệu (bản tự thuật và bản trả lời) trên sẽ là những thông tin rất quan trọng giúp ích cho Uỷ Ban Ơn Gọi và cho các nhà đào tạo. Bởi vì trong xã hội ngày nay có nhiều thứ lừa lọc và gian lận,278 nên thật là thận trọng khi yêu cầu người thanh niên cam đoan những điều anh ta nói ra là đúng với sự thật. Anh ta cũng nên biết rằng việc xuyên tạc sự thật sẽ thành cớ bị từ chối hoặc sa thải.279 Điều này nhấn mạnh rằng việc anh cam kết là một trong bốn yếu tố cần thiết cấu thành ơn kêu gọi của anh (ơn gọi, ước muốn, cam kết và sứ vụ).
b. Dữ Kiện Cá Nhân Của Ứng Sinh
Các ứng sinh sẽ được phỏng vấn về các lãnh vực: quá trình gia đình và cá nhân, trình độ văn hoá, sức khoẻ, đời sống đức tin, cách sống, tính dục và các mối liên hệ, quan niệm xã hội, kinh nghiệm về lãnh đạo và quyền lực, phân định ơn gọi và quá trình làm việc. Họ cũng sẽ được yêu cầu trải qua một cuộc kiểm tra sức khoẻ tổng quát và trắc nghiệm tâm lý. Đối với một số người, một thời gian để chữa khỏi bệnh và tham vấn tâm lý là cần thiết, trước khi được nhận vào Chủng viện.280 Lãnh vực đời sống tình cảm cũng cần được khảo sát và chữa lành, vì nó có thể là nguyên nhân tạo nên những quanh co tâm lý, có khi kéo dài suốt cả cuộc đời. Những gánh nặng nội tâm cũng cần được quan tâm để ứng sinh có thể tháo gỡ và giải quyết chúng, nhờ sự giúp đỡ của vị linh hướng.281
Những vị cố vấn khác có thể giúp đạt được một hiểu biết tốt hơn về các ứng sinh, trong bối cảnh văn hoá và nhân cách của họ. Người được trao trách nhiệm nhận định ơn gọi cũng nên tới gia đình ứng sinh thăm hỏi để qua đó nắm bắt được một khía cạnh khác trong chính hoàn cảnh riêng của họ. Vị này cũng có thể đến thăm nơi ở, nơi làm việc, hay tại giáo xứ mà ứng sinh đang giúp để xem các hoạt động, thái độ ứng xử, các mối liên hệ và sự tương tác… của họ thế nào. Nếu ứng sinh đã gia nhập vào một dòng tu hay chủng viện nào đó, thì Uỷ Ban Ơn Gọi nên viết thư tới các cơ sở đó xin họ cho biết thêm thông tin lượng định về ứng sinh ấy. Một cuộc viếng thăm như thế thường rất hiệu quả.
c. Sự Dấn Thân Không Thể Thiếu Của Giám Mục Giáo Phận
Vị đại diện thứ nhất của Chúa Kitô trong việc đào tạo linh mục chính là Giám Mục giáo phận. Việc Ngài gọi một ứng sinh được coi là dấu chỉ đích thực tiếng gọi bên trong của Chúa Thánh Thần. Ngài cống hiến một đóng góp nền tảng trong việc đào tạo linh mục: giúp đỡ cộng đồng chủng viện, thẩm tra và khích lệ các ứng sinh.282
Thật vậy, khi một thanh niên nam liên hệ với một Giáo phận về ơn gọi của mình, thì cả ứng sinh lẫn vị đại diện Giáo phận cùng tìm kiếm một điều duy nhất, đó là: phân định ý Chúa và thực thi ý Ngài. Từ đây, một mối tương quan tín nhiệm giữa hai bên sẽ được thiết lập: mỗi người tin cậy nhau cách tự do và chân thật. Để phân định được thật tốt, cả hai đều cần những thông tin thích đáng mà hai bên có được .
Nhưng chỉ Giám Mục mới nên tiệm tiến thẩm vấn ứng viên khả dĩ để anh vén mở cho biết những nỗi thầm kín của anh. Ngài sẽ thường xuyên gặp từng ứng viên để biết thêm những thông tin liên quan tới ứng viên đó. Như thế, ngài sẽ hợp tác chặt chẽ với từng ứng sinh bằng cách giúp anh chu toàn trách nhiệm để mình được đào tạo tốt cho tác vụ linh mục trước khi được thụ phong. Thật vậy, “Chủng viện là con ngươi trong mắt Giám Mục, bởi vì qua chủng viện Giám Mục thấy được tương lai của Giáo Hội.”283
Ngay từ đầu, vị đại diện Giáo phận nên giải thích cho ứng sinh khả dĩ đó biết rằng có ơn gọi nghĩa là được kêu gọi bởi chính Thiên Chúa. Ứng sinh sẽ được khích lệ chấp nhận tất cả những gì Chúa muốn, và chưa được để lòng mình nghĩ tới việc chịu chức, cho đến khi rõ ràng rằng Chúa quả thật kêu gọi anh lên chức linh mục. Việc này cần một cộng tác cởi mở và mạnh mẻ giữa từng Giáo phận với Đại Chủng Viện, ngõ hầu các linh mục tương lai được đào tạo cách hữu hiệu.

B. Đánh Giá Và Thanh Lọc Để Nhận Vào Chủng Viện
a. Hoàn Cảnh Gia Đình284
“Bổn phận nuôi dưỡng ơn gọi thuộc về toàn thể cộng đồng kitô hữu…. Nhưng đóng góp lớn nhất thuộc về gia đình, được kích hoạt nhờ tinh thần đức tin, đức ái và lòng đạo đức… Gia đình được kể như chủng viện đầu tiên.”285
Tại Việt Nam, gia đình có ảnh hưởng rất lớn tới nhân cách của mỗi con người, ảnh hưởng tới việc đi theo và thực hành một tôn giáo hay một ơn gọi. Người Việt Nam rất đề cao giá trị của gia đình, vì gia đình như một thế giới thu nhỏ bao gồm 3 thế hệ: ông bà, cha mẹ và con cái. Mặc dù có những cách biệt giữa các thế hệ nhưng các thành viên trong cùng một gia đình vẫn luôn có một tình cảm sâu sắc gắn bó với nhau.
Gia đình đóng vai trò trợ lực rất quan trọng giúp cho ứng viên ngày một trưởng thành hơn. Có nhiều nhân tố giúp anh lớn lên: Mối liên hệ mật thiết với cha mẹ nâng cao căn tính nhân vị của anh. Mối tương quan lành mạnh với những người khác phái trong gia đình và những người họ hàng sẽ giúp ứng viên ý thức hơn về tính dục của mình, hầu phát triển các mối tương quan xã hội của chính anh. Điều đó cung ứng cho anh một sự ổn định tình cảm cần phải có cho đời sống linh mục. Những hoạt động trong và ngoài gia đình thách thức ứng sinh vượt qua những cái mình thích hay không thích, và làm cho đời sống tông đồ tương lai của anh trở thành một thực tế, chứ không chỉ là một mơ mộng của tuổi trẻ.
Việc cầu nguyện và chia sẻ niềm tin trong gia đình giúp ứng sinh đâm rễ sâu trong đời sống thiêng liêng. Là chủng viện đầu tiên, gia đình giữ vai trò sinh tử trong việc đào tạo chủng sinh. Cuộc họp hàng năm của đại diện các gia đình chủng sinh nhấn mạnh đến tầm quan trọng và sự đóng góp tích cực của gia đình đối với chủng viện.286
b. Sức Khoẻ Thể Lý Và Tâm Lý
Nhiều yếu tố liên quan tới ứng sinh cần được xem xét: đó là sức khỏe thể lý và tâm lý. Sức khoẻ là một vấn đề phức tạp trong nhiều phương diện của một con người. Đó có thể là một tương tác giữa những yếu tố thể lý, tâm lý và tình cảm của con người, kể cả “những khiếm khuyết di truyền có thể.”287 Những bệnh tâm lý có thể cho thấy những xung đột mãnh liệt bên trong con người. Căn bệnh cần được đánh giá và chữa trị. Xung đột tâm lý cần được lượng giá và giải quyết nhờ các phương tiện tâm lý và phân định thiêng liêng.
Ứng sinh phải có khả năng tri thức thích đáng, có thói quen học hỏi tốt và một động lực mạnh mẻ đối với các môn học trong chủng viện, vì nếu lúc nào cũng phải đối phó với việc học thì việc đào tạo thiêng liêng sẽ bị giới hạn và không hiệu qủa.288 Vì lẽ đó, tất cả mọi ứng sinh đều phải kiểm tra sức khoẻ và những ai bị phát hiện mang bệnh siêu vi gan B, bệnh phổi hay bệnh hen suyễn thì không được nhận vào chủng viện, vì các chủng sinh đó sẽ sớm bỏ bê việc học do bệnh hoạn.289 Khả năng tri thức cũng có thể bị ảnh hưởng do hoàn cảnh sống của gia đình, những mối quan hệ xã hội, sự ổn định tình cảm, trạng thái buồn rầu, vv…
c. Đời Sống Thiêng Liêng Và Luân Lý
Căn bản đời sống Kitô giáo là trách nhiệm và mối quan tâm của cả ứng sinh lẫn vị đại diện Giáo phận. Cụm từ “căn bản đời sống Kitô giáo” nhắc ta đến nhu cầu của đời sống cầu nguyện, sự quen thuộc với Kinh Thánh, đời sống bí tích năng động và ít ra lòng mong muốn hoạt động tông đồ. Các nhân đức luân lý như thành thật, trung tín, chân thành và trách nhiệm là nền tảng cần thiết đối với đời sống ân sủng. Ngày nay, người ta khuyên nên cảnh giác đối với việc sử dụng ma túy và rượu…, đời sống tính dục và tình trạng tâm lý của con người. Sự trưởng thành không tùy thuộc tuổi tác và địa vị. Trưởng thành tình cảm được biểu lộ qua khả năng vận dụng các dữ kiện và cảm xúc đến cả từ con tim và khối óc, đồng thời khả năng hòa nhập chúng.
d. Việc Linh Hướng Và Tham Vấn Tâm Lý
Trong thời gian học đại học, ứng viên có thể đối mặt với nhiều vấn đề và thách đố. Vì thế, anh cần được hướng dẫn về đời sống thiêng liêng, và đôi khi cần cả tham vấn tâm lý. Việc linh hướng cần thiết vì nhiều lý do. Nó mang lại cho chủng sinh sự trợ giúp tâm lý và thiêng liêng. Nó là nguồn trợ lực giúp anh thăng tiến đời sống thiêng liêng và mối tương quan thân mật hơn với Chúa. Nó còn có thể giúp anh học biết làm sao phân định các hoạt động của Chúa Thánh Thần đang ở trong anh.
Để biết chắc ứng sinh đang tiếp tục tăng trưởng nhân cách và có động lực tốt, vị đại diện Giáo phận nên lưu ý đến nhiều yếu tố cá nhân của ứng sinh. Ngài nên quan sát để thấy rõ mối tương quan giữa ứng sinh và ngài thế nào: cởi mở hơn hay là phòng vệ? Ứng sinh có kiểm soát được những phản ứng, nhu cầu và tình cảm của mình cách linh động không? Cách ứng xử và những cam kết cá nhân của ứng sinh thế nào?
Vị đại diện giáo phận cũng nên tìm hiểu ứng sinh liên hệ với tha nhân thế nào: khả năng yêu thương chân thành; cách liên hệ với bạn đồng môn và người khác phái; thái độ lành mạnh đối với quyền bính và khả năng lãnh đạo? Vị đại diện Giáo phận cũng nên xem xét ứng sinh chấp nhận, đối phó và liên hệ với thực tế thế nào.290 Liệu ứng sinh có phán đoán tốt, có lương tri, để hết tâm trí vào công việc và óc hài hước không ?
Vì việc linh hướng là vấn đề thuộc tòa trong, cha linh hướng không được yêu cầu đánh giá hay đề bạt ứng sinh. Việc nhận định ơn gọi trong giai đoạn này là một yếu tố quan trọng để đi tới quyết định cho ứng sinh vào chủng viện hay không. Nhưng việc quyết định còn dựa trên nhiều yếu tố khác nữa. Tuy nhiên, vị đại diện Giáo phận cần tiếp tục hợp tác với ban giám đốc chủng viện cho đến khi đạt tới một quyết định thích hợp.

C. Phân Định Ơn Gọi
a. Hai Yếu Tố Giúp Nhận Định Ơn Gọi
1) Ý ngay lành
Trước hết là “ý ngay lành” và ý ngay lành này phải qui chiếu vào lịch sử ơn kêu gọi của Chúa trong cuộc đời của mỗi người. Ý ngay lành này có thể được rõ nét dần dần qua cấu trúc:
* Khởi đầu là lời kêu gọi của Chúa;
* Lời đáp trả tiếng Chúa;
* Cam kết đi theo chính Đức Kitô;
* Sự biến đổi nhân cách của ứng sinh cho đời sống siêu việt được thực hiện nhờ Chúa Thánh Thần;
* Cuối cùng là thi hành sứ vụ: hiến thân phục vụ tha nhân.
2) Động Lực Thúc Đẩy Ý Hướng
Thứ đến là “động lực thúc đẩy ứng sinh thăng tiến để trở thành linh mục phục vụ Dân Chúa.” Xem xét động lực thúc đẩy ý hướng này giúp chúng ta nắm rõ nội dung và sức năng động trong ý hướng của ứng sinh muốn tiến lên chức linh mục:
* Ý hướng cam kết, động lực lý tưởng khiến ứng sinh có khả năng đáp lại tiếng Chúa gọi, nhờ hoa quả của Chúa Thánh Thần trong cuộc đời anh;
* Ý hướng phận vụ cần một sự phân định cẩn thận giữa sự sẵn sàng bỏ mình và sự chỉ tìm kiện toàn chính mình;
* Ý hướng địa vị tìm thăng tiến bản thân để che lấp sự bất ổn căn bản trong đời sống hoặc Ý hướng trốn thóat nhằm tìm kiếm sự che chở từ cuộc sống tu trì. Những ứng sinh có những ý hướng thế này thường không có ơn gọi đích thực, bởi vì họ thiếu trưởng thành nhân cách và sẽ dễ dàng từ bỏ hoặc phản bội sứ vụ căn bản của mình. Chúng ta nên khéo léo khuyên họ tìm một đường sống ở nơi nào khác thì tốt hơn.
b. Cam Kết Tự Biến Đổi Và Cam Kết Cho Sứ Vụ
Chúng ta cần phải ý thức về nhiều nhân tố trong động lực ơn gọi của ứng sinh và phân tích những đường lối anh dấn thân phục vụ tha nhân, bao gồm cả việc anh trung thành với lời cam kết, nghĩa là trách nhiệm của anh. Một nhà phân định bén nhạy có thể trực giác ngay được ý muốn phục vụ tha nhân của ứng sinh như thế nào. Nếu ứng sinh có ý hướng địa vị (linh mục là người luôn được tôn phục, kính trọng và có địa vị quan trọng trong xã hội) là động cơ ưu tiên trong việc tìm kiếm chức Linh mục, thì hãy khéo léo khuyên anh nên tìm một lối sống khác.
Nhiệm vụ của vị đại diện Giáo phận về đời sống ơn gọi của ứng sinh thật là rộng lớn và quan trọng. Ngài cần giúp ứng sinh ý thức rõ nhiều động lực đang có mặt nơi anh, đồng thời giúp anh thấy được sự xung khắc nhau giữa các động lực ấy. Động lực nào phù hợp với chức linh mục sẽ được dùng để thăng tiến đương sự. Động lực nào không phù hợp với chức linh mục phải loại bỏ hay biến đổi. Nếu không làm được như vậy, đương sự sẽ được mời ra đi.
GHI CHÚ
275 CCE, Spiritual Formation in Seminaries …, ibid., p. 24
276 CCE, A guide to Formation in Priestly Celibacy (Rome, 1974), pp.7-75
277 Xem phụ lục A : Bản Câu Hỏi Tự Vấn.
278 “Honesty in Seminary Admission Exams despite Government Restriction on Numbers” … ibid.
279 Ibid.
280 Kathy Bryant, “The Screening Process for the Archdiocese of Los Angeles,” Zenit.org/english, truy cập ngày 7.10.2004.
281 FABC– Paper No. 92d-7th Plenary Assembly, Workshop Discussion, Appendix II : Spiritual Direction, Emphasis on an Asian Approach, Ucanews.com/archives, truy cập ngày 7.10.2004.
282 John Paul II, Pastores Dabo Vobis ….., no. 65
283 “Vocation Crisis: Often the Result of the Weakening of Faith” (Vatican City, March 4, 2002), Zenit. Org/english, truy cập ngày 7.10.2004.
284 FABC – Paper No. 92d, 7 th Plenary Assembly, Workshop Discussion, Appendix I. 1 : Pre-Seminary Preparation, , Ucanews.com/archives, truy cập ngày 7.10.2004.
285 Vatican II, Optatam Totius …, ibid., no. 2
286 Orlando B. Quevedo, Gathered Around Jesus … ibid., tr. 181
287 Vatican II, Optatam Totius …, ibid., no.6.
288 Venancio S. Calpotura, “Discernment of Motives: the Foundation of Seminary Formation,” in the Road to Emmaus: A Journal on the Formation Ministry, tr. 9-10
289 “Government Allows Record Recruitment for Ha Noi Seminary” (Ha Noi, July 14, 2004), Ucanews.com/english/archives, truy cập ngày 29.7.2005.
290 Edward Carter, Spirituality for Modern Man (Notre Dame, Indiana: Fides Publishers, Inc., 1971), p. 182
CHƯƠNG IX
GIAI ĐOẠN CHỦNG VIỆN ĐÀO TẠO VÀ TỰ ĐÀO TẠO THIÊNG LIÊNG

A. Chương Trình Tổng Quát Trong Tiến Trình Đào Tạo Của Chủng Viện.
Hầu hết các Đại Chủng Viện tại Việt Nam đều chia chương trình đào tạo chủng viện làm hai giai đoạn. Trước tiên là giai đoạn triết học, giai đoạn này kéo dài 2 năm hoặc 3 năm tuỳ theo mỗi chủng viện. Cuối giai đoạn triết học, chủng sinh được đánh giá để có thể được gửi đi thực tập mục vụ tại mỗi giáo phận.
Tiếp theo là giai đoạn thần học, giai đoạn này cũng được chia làm hai nữa. Sau hai năm đầu giai đoạn thần học, chủng sinh có thể được gửi tới một giáo xứ trong vòng một năm để có được nhiều kinh nghiệm mục vụ của Linh mục. Việc phân chia thời gian như thế này thuận tiện cho ba cuộc nhận định quan trọng về chủng sinh. Nhận định thứ nhất xảy ra sau hai năm đầu giai đoạn thần học. Nhận định thứ hai xảy ra sau khi đã đi thực tập mục vụ (năm giúp xứ) trở về. Và nhận định thứ ba sẽ xảy ra trong hai năm tiếp theo của giai đoạn thần học để chuẩn bị lãnh chức linh mục.291
Việc đào tạo thiêng liêng nhằm đến con người toàn diện và làm cho người linh mục tương lai có thể đạt tới sự trưởng thành nhân bản, trưởng thành trong đời sống kitô giáo và trưởng thành trong đời sống linh mục. Vì thế, chủng sinh phải được đào luyện với đời sống thần học kiên vững, tinh thần cầu nguyện, tinh thần khổ chế, đức vâng lời đích thực và trưởng thành, tinh thần khó nghèo Phúc âm và khiết tịnh vì Nước Trời. Chủng sinh cũng phải học và thực hành những nhân đức nhân bản và xã hội vốn được dân chúng ngưỡng vọng và đức ái đòi hỏi, chẳng hạn: lòng thành thật, ý niệm về đức công bằng, trung thành giữ lời hứa, lịch thiệp và tín cẩn, tinh thần phục vụ và dấn thân, khả năng làm việc chung, có trách nhiệm, v.v…
Người ta nhấn mạnh đến sự tương tác giữa việc đào tạo nhân bản và đào tạo thiêng liêng. Việc đào tạo nhân bản cho ứng sinh được bắt đầu với sự trợ giúp của gia đình và xứ đạo trước khi anh vào Chủng viện. Việc đào tạo nhân bản không chỉ đem lại lợi ích cho ứng sinh trong thời gian học tại chủng viện mà còn có một ảnh hưởng sâu xa đến sứ vụ tương lai của anh nữa. Nó tùy thuộc phần lớn vào sự trưởng thành, sự quân bình tâm lý và sức mạnh của ý chí của ứng sinh. Vì thế, việc đào tạo nhân bản luôn phải hòa quyện với đào tạo thiêng liêng.

B. Đào Tạo Thiêng Liêng
1. Chuẩn Mực Của Đào Tạo Thiêng Liêng.
Việc đào tạo thiêng liêng thích hợp nhằm giúp các linh mục tương lai tái khám phá căn tính của mình, từ “bệ thờ” đến tham gia, từ người rao giảng cổ điển đến người mang trong mình các mầu nhiệm, từ kiểu cách đơn độc đến sứ vụ hợp tác, từ linh đạo đan viện đến linh đạo sống thánh giữa trần thế, từ việc cứu giúp các linh hồn đến việc giải thoát con người,292 ở tất cả mọi cấp độ.
a. Cấp Độ Cá Nhân
Linh đạo của chủng sinh triều mang chiều kích Chúa Ba Ngôi và lấy Chúa Kitô làm trung tâm, gắn bó cá nhân với Ngài, vừa hoạt động vừa chiêm niệm, cam kết sống đời cầu nguyện mà Thánh Thể là trung tâm điểm, noi gương Đức Maria, canh tân đời sống nội tâm và biến đổi mình, sống kỷ luật, sống đơn sơ, sống quân bình nhân cách (thiêng liêng, tâm lý và giới tính).
b. Cấp Độ Giáo Hội Và Truyền Giáo
Linh đạo của linh mục triều mang đặc tính: giáo hội, mục vụ và tông đồ, tinh thần hiệp thông, tập thể tính linh mục, ăn khớp với giáo huấn của Hội Thánh, sẵn sàng đáp ứng các dấu chỉ thời đại dưới tác động của ơn Chúa, lãnh đạo như tôi tớ phục vụ, thấm nhuần đức tin và truyền giáo, liên đới với người nghèo hèn bé nhỏ, đối thoại với các nền văn hoá, với những niềm tin khác, với những người không tin, cả với người vô thần và cộng sản, thăng tiến công bằng xã hội, hoà bình, quyền con người, văn minh tình thương và sự sống, mở ra với thế giới nhưng không thuộc về thế gian. 293

C. Việc Linh Hướng
1. Định Nghĩa
Linh hướng là một công tác mục vụ đặc biệt nhằm giúp chủng sinh lớn lên trong tương quan với Chúa Cha, cởi mở đáp lại Chúa Kitô và sẵn sàng để Chúa Thánh Thần hướng dẫn, ngõ hầu biết phân định ơn gọi của mình và chuẩn bị cho sứ vụ linh mục trong Giáo Hội.294
* Linh hướng là một tiến trình trưởng thành liên nhân vị, qua đó tiếng gọi của Chúa được lắng nghe và đáp lại trong đức tin.
* Linh hướng nhằm nuôi dưỡng một con tim phân định can đảm đang tìm khám phá để đạt được ý Chúa.
* Linh hướng trước hết liên hệ với sự trưởng thành toàn diện trong đức tin, trong khi đối mặt kịp thời với các vấn đề và khủng hoảng. Nói cách khác, việc linh hướng kích thích đức tin phát triển.
* Việc linh hướng sẽ hữu hiệu khi sự trưởng thành được biểu lộ rõ nét trong sự gia tăng tình thương, lòng trung thành và sự chăm sóc đầy trách nhiệm.
* Việc linh hướng cung cấp một bầu khí yêu thương vô điều kiện. Môi trường này rập khuôn với bầu khí cầu nguyện. Tiên vàn đó là công việc của Chúa Thánh Thần, và vị linh hướng phải học biết làm cho dễ dàng, chứ không cản trở hoạt động của ơn thánh.
* Dù có tính cách liên nhân vị, việc linh hướng mang chiều kích cộng đồng và Giáo Hội rất cao. Nó nuôi dưỡng viễn ảnh toàn cầu và cánh chung, nội tại lẫn siêu việt.
2. Những Nguyên Tắc Chung
Việc linh hướng thường nhắm đến những mục đích sau:
* Giúp chủng sinh biết sống tương quan mật thiết với Chúa;
* Giúp chủng sinh biết trực tiếp thưa chuyện với Chúa và lắng nghe những gì Ngài chỉ dạy;
* Giúp chủng sinh sống thân mật với Chúa và biết đối thoại với Ngài;
* Giúp chủng sinh bi?t nh?n ra và biết sống những kinh nghiệm thực tế trong tương quan với Thiên Chúa: kinh nghiệm sống đạo đối với việc linh hướng cũng giống như thực phẩm đối với việc nấu nướng;
* Giúp chủng sinh biết lưu tâm mà đáp lại tiếng Chúa mời gọi để càng ngày càng sống thân mật với Ngài hơn, và sống những hậu quả của mối tương quan ấy;
* Giúp chủng sinh biết luôn đặt mình trước mặt Chúa bằng cả con người và suốt cuộc đời mình;
* Giúp chủng sinh ý thức trách nhiệm của mình để duy trì và phát huy trong ánh sáng của Chúa Thánh Thần, vốn là vị linh hướng đích thực;
* Giúp chủng sinh tìm được con đường mà Chúa mời gọi, để chọn lựa phù hợp ý Chúa, với ý thức và tự do nội tâm.295
Người ta nhấn mạnh rằng người thụ hướng phải đi bước trước trong mối tương quan. Những đề tài thảo luận phải đáp ứng được các nhu cầu của người thụ hướng. Một chương trình đào tạo được thiết lập để giúp ứng sinh thực hiện một quyết định đặc biệt, trong sự tôn trọng sứ vụ linh mục trong Giáo Hội. Vì thế, một bản câu hỏi gợi ý296 được đề nghị như một chỉ dẫn để thảo luận trong các lần gặp linh hướng.
3. Ba Vấn Đề Cơ Bản Và Quyết Định
Trong giai đoạn đầu tiên ở Đại Chủng Viện, ứng sinh phải được giúp ý thức và làm thế nào để trực diện với ba vấn đề cơ bản mang tính quyết định ngõ hầu đạt được một đường hướng dứt khoát hơn cho cuộc đời anh. Nếu ba vấn đề này không được “giải quyết,” chúng sẽ ảnh hưởng mạnh trên cách ứng xử của anh, mà hậu quả sẽ là một khủng hoảng ơn gọi:
* Biết Mình
Tự biết mình là yếu tố rất quan trọng để ứng sinh đạt được trưởng thành. Sau những năm học đại học, có lẽ ứng sinh đã hiểu được mình là ai, với tất cả những điểm mạnh và những điểm yếu. Nếu không có nhận thức rõ ràng về mình này, ứng sinh dễ có khuynh hướng tự đề cao về mình bằng sự phòng vệ. Sự kiện hầu hết chủng sinh không thể trực diện chính mình để biết mình là ai giải thích tại sao có quá nhiều sự không trưởng thành hay tự đánh giá thấp nơi các thầy thần học, ngay cả nơi các linh mục mới chịu chức nữa.
* Vấn Đề Sự Thân Mật Và Tính Dục
Là sinh viên tốt nghiệp đại học, nhiều chủng sinh có thể đã có người yêu trong thời gian học đại học; vấn đề sự thân mật và tính dục trở nên có thật. Chủng viện sẽ xây dựng một lối sống khả dĩ ngăn ngừa cách hữu hiệu các lối giải quyết cho những chiến đấu của họ. Chọn sống độc thân là một chọn lựa tự do. Họ phải đương đầu và làm việc để vừa thắng vượt các chiến đấu này, lại vừa thăng tiến chọn lựa của mình. Nếu địa hạt này không được trực diện và giải quyết, những vật lộn này sẽ trở lại với họ, ngay cả sau khi đã thụ phong linh mục. Giáo Hội muốn tránh điều đó, nhưng tiến trình khó khăn ấy cần có thời gian và những cố gắng chân thành. Trong “Truyện Kiều,”297 Nguyễn Du diễn tả “dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng,” nghĩa là “tuy đã chia tay, sự gắn bó dịu dàng vẫn còn.”
* Quyền Bính
Quyền bính quả là một cơn cám dỗ, đặc biệt trong bối cảnh văn hoá tập trung quyền bính của Việt Nam, do ảnh hưởng của Khổng Giáo và quyền bính phẩm trật của Đạo Công giáo. Thật là ích lợi cho các chủng sinh khi được đối mặt với những gương mặt quyền bính khác nhau, nhờ đó họ có cơ hội xác định và điều khiển tự do của mình, hầu làm phát triển một thái độ lành mạnh đối với quyền bính. Khả năng tạo thế quân bình giữa phục tùng và tự lập nằm ở chính đức vâng lời. Việc linh hướng phải giúp chủng sinh biết nhận ra, đối diện và giải quyết các vấn đề này, hầu tránh được các vấn đề về quyền bính có thể nổ ra sau này, gây nên các mối liên hệ căng thẳng với Giám mục và giáo dân. Ngoài ra, người ta cũng muốn vượt thắng ba loại tùng phục (quyền phục, lý phục và tâm phục). Sự kính trọng thái quá đối với các linh mục và chủng sinh của giáo dân Việt Nam có thể gây cớ cho họ trở nên độc tài và quan liêu, hách dịch.
4. Đánh Giá Động Lực Nội Tâm
Vị linh hướng sẽ giúp chủng sinh phân tích và đánh giá hai yếu tố này:
a. Tính Hấp Dẫn Của Ơn Gọi
Thiên Chúa có thể nói gián tiếp với chủng sinh qua Kinh Thánh, qua Giáo Hội, qua gia đình và qua những nhu cầu của cuộc sống con người. Ngài cũng có thể trực tiếp đánh động con tim và làm cho sự lôi cuốn lớn lên thành cốt lõi của ơn kêu gọi. Nhưng tính hấp dẫn này phải được phân định qua việc linh hướng để nắm chắc rằng chủng sinh đáp ứng được các khía cạnh thiêng liêng và tông đồ của một cam kết dấn thân phục vụ Giáo Hội;
b. Biểu Lộ Cụ Thể Của Ý Hướng Ngay Lành
Tự do lương tâm là điều cần thiết cho quyết định làm linh mục. Vị linh hướng phải giúp chủng sinh khám phá ra những gì Thiên Chúa thực sự kêu gọi anh trở thành và thực hiện. Đáp trả tự do của anh sẽ là cốt lõi sự cam kết của anh và động lực xứng hợp sẽ đóng một vai trò quan trọng trong sự bền đỗ, khi anh cụ thể bày tỏ ý hướng ngay lành muốn làm linh mục.
Trong năm thực tập mục vụ và hai năm thần học cuối, chủng sinh phải tìm cho được lời khẳng định rằng Chúa muốn anh quyết định trở thành linh mục. Theo Thánh Ignatio, chủng sinh phải hiểu rõ sâu xa những điểm mạnh cũng như những điểm yếu của mình. Anh phải được giúp tìm biết cách ý thức chính mình, cũng như động lực vô thức của anh, ngõ hầu anh thấy được anh phải biến đổi trong cái gì. Chủng sinh phải đánh giá lại lời mời gọi của Chúa và sự đáp trả của anh để có được một cam kết sâu xa hơn. Anh cũng phải nội tâm hóa dấn thân của anh, cũng như cụ thể hóa đời sống sứ vụ của một linh mục triều, qua việc anh gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô, Đấng là nguyên thuỷ và cùng đích của mọi ơn gọi (x. Ga 15, 16).
Sau khi đã chú ý lắng nghe với biện phân và khiêm tốn, vị linh hướng có thể khám phá được người thụ hướng được Chúa gọi hay không. Nếu có, ngài xác định cho anh tiếp tục đi tới với niềm vui tươi, hy vọng và hạnh phúc, mặc dù anh sẽ gặp thấy những khó khăn và đen tối trong cuộc sống lữ hành của anh. Nếu không, ngài nên gợi ý cho anh đổi hướng sống trong bình an, đồng thời bước theo con đường Chúa mời gọi anh đi với can đảm và hạnh phúc.

D. Đời Sống Cầu Nguyện Và Đời Sống Nội Tâm
1. Định Hướng Căn Bản Cho Đời Sống Thiêng Liêng Sâu Xa:
Yếu tố quan trọng nhất trong việc đào tạo thiêng liêng là cầu nguyện, vì việc cầu nguyện nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng.
Trước khi vào Chủng viện, các chủng sinh đã từng kinh nghiệmvề kinh nguyện Kitô giáo: cầu nguyện cá nhân, cầu nguyện cùng cộng đoàn và cầu nguyện trong phụng vụ. Họ đã được khai tâm bởi nhiều người và nhiều cách khác nhau, tùy theo sự khác biệt trong hành trình và sự đa dạng của các trào lưu đạo đức trong Giáo Hội Công giáo.298 Như thế, ít nhiều chi họ cũng đã nếm trải được niềm vui và sự khô khan trong việc cầu nguyện (x. Rm 8, 26). Do đó, việc huấn luyện cầu nguyện, vốn là cách biểu lộ đặc biệt đức tin và đức cậy của chúng ta nơi Chúa, sẽ không bao giờ kết thúc. Cầu nguyện sẽ giúp mỗi người sống tiếp thông với Chúa. Việc đổi mới đời sống nội tâm này là điều kiện không thể thiếu của mọi cuộc canh tân hiệu quả của Hội Thánh.299
Theo truyền thống, việc huấn luyện cầu nguyện là đối tượng được quan tâm đặc biệt, dựa trên hai bàn tiệc Lời Chúa và Thánh Thể.300 Việc đào tạo này lưu ý đến tâm thức đương thời, tâm lý đạo đức của chủng sinh, cách thức họ sống đời tín hữu và ước muốn trở thành linh mục. Việc đào tạo này nhằm giúp chủng sinh thanh luyện và sửa chữa cách thức cầu nguyện của họ, đồng thời học lời cầu nguyện tông đồ và mục vụ cho sứ vụ mai ngày của họ.
Một quan niệm tiên quyết và đích thực phải có là cách cầu nguyện của linh mục triều khác với cách cầu nguyện của linh mục dòng. Linh mục triều cầu nguyện bằng sứ vụ của mình bất cứ giờ nào và bất cứ ở đâu. Gương mẫu của họ là chính Chúa Giêsu, Đấng luôn sống thân mật với Chúa Cha: Chúa Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha, lúc ở nơi hoang vắng hay khi ở giữa đám đông dân chúng, lúc ban ngày hay suốt đêm khuya, sáng sớm tinh sương hay muộn màng lúc đêm về, lúc vui mừng vì phép lạ hay khi đau khổ nơi vườn Giêtsimani, hoặc trên thập giá trong giờ tử nạn. Linh mục triều cầu nguyện theo đường lối đó và trong sự hiện diện của Chúa.
Vì thế, chủng sinh phải học thiết lập một kỷ luật cho mình, trong cả hai chiều kích của đời sống cầu nguyện, cá nhân cũng như cộng đoàn. Anh nắm giữ kỷ luật ấy, cả trong thời gian đang học ở chủng viện, và suốt cuộc đời linh mục của anh trong tương lai. Hầu hết các linh mục rời bỏ chức linh mục là vì đã sao lãng hay bỏ bê không cầu nguyện nữa. Họ thi hành sứ vụ như là công chức vậy.
Việc huấn luyện cầu nguyện phải được thực hiện tương tác với việc đào tạo thần học, trong các khía cạnh đa dạng của nó, đời sống cộng đoàn, phụng vụ, khai tâm tiệm tiến vào sứ vụ và đời sống linh mục, bằng khoa sư phạm phù hợp với những con người, nơi chốn, thời gian và thực hành khác nhau.301
Vì thế, Đức Gioan Phaolô II đã nhắc nhở các linh mục phải lấy Chúa Giêsu làm trung tâm đời sống và luôn kết hợp mật thiết với Chúa bằng cầu nguyện, suy niệm cá nhân hàng ngày, Phụng vụ các Giờ Kinh và Thánh Thể. Rồi Ngài kết luận : “Nếu anh em đầy Chúa, anh em sẽ là những tông đồ đích thực của công cuộc truyền giáo mới, vì không ai có thể cho cái mà họ không có trong tâm hồn.” 302
2. Ba Đặc Tính của Cầu Nguyện:
a. Lời Cầu Nguyện Kitô Giáo303
Lời cầu nguyện Kitô giáo giúp chúng ta khám phá và gặp gỡ Thiên Chúa, Đấng làm cho ý hướng phàm nhân được siêu thoát. Đó là một dấn thân cá nhân của con người đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa trong mỗi phút giây, nhờ Chúa Thánh Thần trợ giúp (x. Rm 8,26). Lời cầu nguyện Kitô giáo được đồng hóa với lời cầu nguyện của Đức Kitô, Đấng mang lấy cả loài người và dâng chính mình lên Chúa Cha.
Trong hiệp thông với Hội Thánh, mỗi người được mời gọi ca ngợi Thiên Chúa nơi các thánh, chiêm ngắm mầu nhiệm thánh ý Chúa, nài xin thoát khỏi những lo âu phiền muộn, giữ vững niềm tin, biết rằng mọi người trên thế gian đều phải gánh chịu cùng một nỗi thống khổ; cầu xin ơn cứu độ, xác tín rằng Thiên Chúa muốn mọi người được rỗi; hiến dâng chính mình và tất cả nhân loại, nhờ công việc của Chúa Thánh Thần; ăn năn thống hối (x. 1 Ga 1, 9); và cùng với mọi loài thụ tạo, tôn thờ Đấng Tạo Hóa.
Sau Chúa Kitô, Đức Maria là mẫu gương về đời sống cầu nguyện của mọi tín hữu. Mẹ đã ca ngợi những kỳ công của Chúa, đón nhận mầu nhiệm cứu độ và giữ vững đức tin sống động, cả dưới chân Thập Giá. Mẹ hằng cầu bầu cho các tín hữu và trở thành gương mẫu cho các linh mục trong đời sống cầu nguyện. Thật vậy, Tông Huấn Pastores Dabo Vobis dạy: “Mọi chiều kích của việc đào tạo linh mục đều có thể qui chiếu về Đức Maria … Nhờ gương mẫu và lời chuyển cầu của Người, Đức Trinh Nữ luôn tĩnh thức dõi theo sự phát triển các ơn gọi và đời sống linh mục trong Hội Thánh.” 304
b. Lời Cầu Nguyện Tông Đồ305
Nhờ hoạt động, người môn đệ Đức Kitô loan báo Tin Mừng và khai mạc Nước Thiên Chúa. Nhờ cầu nguyện, người môn đệ nhận ra và làm chứng rằng Nước Trời là một quà tặng của Thiên Chúa, và ân huệ ấy phải được khẩn khoản nài xin bằng lời cầu nguyện. Chính Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ của Ngài phải cầu nguyện cho Nước Thiên Chúa ngự đến (x. Mt 6, 9-10).
Công Đồng Vaticanô II khuyên dạy người Kitô hữu chúng ta cần để ý sâu xa hơn tới những khía cạnh tông đồ. Mục đích của việc tông đồ là làm cho người khác nhận biết và yêu mến Thiên Chúa, Đấng không ngừng qui tụ mọi người từ khắp muôn phương. Như thế, chiều kích tông đồ thuộc về kinh nguyện kitô giáo. Không thể có đối nghịch và phân rẽ giữa cầu nguyện và hành động. Hành động là nơi người ta hao tốn nhiều sức lực, có khi đến cạn kiệt; còn cầu nguyện là nơi con người tái nạp lại năng lượng. Lời cầu nguyện tông đồ bảo đảm và ghi nhận xác tín rằng Nước Thiên Chúa đến không tùy thuộc hành động của con người, nhưng lệ thuộc vào hành động của Thiên Chúa.
Vì thế, việc đào tạo sống đời tông đồ và đào tạo cầu nguyện không thể tách rời nhau được. Khi linh mục xác tín hơn rằng mình phải ký thác cho Chúa Thánh Thần để trở thành dụng cụ mềm mại trong tay Thiên Chúa cho hoạt động tông đồ, lúc ấy ngài sẽ xác tín hơn về nhu cầu của lời cầu nguyện. Ngài sẽ hiểu rằng cầu nguyện không phải là một bổn phận phải chu toàn, nhưng là mối tương quan cần thiết với chính Thiên Chúa, Tác Nhân Chính Yếu của việc Nước Trời đến. Ngài sẽ giao phó chính mình cho hoạt động của Chúa Thánh Thần, ý thức rõ ràng hơn các dấu hiệu cụ thể của Nước Trời đang đến và làm cho các dấu hiệu đó dễ dàng trở nên chất liệu để chiêm ngắm.
c. Lời Cầu Nguyện Mục Vụ306
Lời cầu nguyện mục vụ là một trong những bổn phận của người mục tử, cả khi giáo dân tham gia vào các trách nhiệm mục vụ này. Những ai lãnh nhận trách nhiệm phục vụ cộng đoàn sẽ mang lấy cộng đoàn ấy vào trong lời cầu nguyện của mình.
Hoa trái của công tác mục vụ không phải là kết quả của sức con người, của tổ chức đẹp và linh hoạt tốt, nhưng là do công việc của Chúa Thánh Thần, Đấng hoạt động cách nhiệm mầu trong cộng đoàn và trong từng thành viên của cộng đoàn ấy.
Các mục tử phải để Chúa Thánh Thần hướng dẫn chính họ, có thế thì các hoạt động của họ mới là của Ngài. Họ cũng phải xin Chúa làm công việc của Ngài ở trong cộng đoàn: mở lòng họ cho hoạt động của Ngài với tinh thần tông đồ.
Loại cầu nguyện này liên quan đến sứ vụ của toàn thể Hội Thánh, nhưng đặc biệt cho những ai, do nhiệm vụ, có trách nhiệm đối với cộng đồng Giáo Hội. Trách nhiệm này xuất hiện rõ nét nơi sứ vụ chủ tọa Bí tích Thánh Thể và cử hành Phụng Vụ các Giờ Kinh. Đối với vị mục tử, việc cầu nguyện cho dân chúng là một phần trong toàn bộ trách nhiệm mục vụ của ngài, một nghĩa vụ thường xuyên đích thực, “một mối nợ trong sứ vụ.”307
Lời cầu nguyện mục vụ là một hình thức của việc thực thi đức ái mục tử và của tình yêu Đức Kitô dành cho Hội Thánh và hết thảy mọi người. Vì thế, lời cầu nguyện mục vụ nhắm đến toàn thể nhân loại mà Chúa Kitô đã hiến mình chịu chết, chứ không chỉ giới hạn vào cộng đoàn đã được tập họp.
3. Phương Tiện Sư Phạm Trong Việc Huấn Luyện Cầu Nguyện
a. Các Trách Nhiệm
Trách nhiệm đầu tiên của việc cầu nguyện thuộc về Hội Thánh. Các nhà huấn luyện nhận lãnh trách nhiệm hướng dẫn việc cầu nguyện của cộng đoàn, quan tâm đến sự tham dự của cả cộng đoàn và của từng người. Các ngài cũng phải ý thức giúp đỡ cộng đoàn Chủng viện và mỗi chủng sinh đi vào tinh thần của kinh nguyện phụng vụ, ngõ hầu ai nấy đều có tâm thức Giáo Hội, hơn là coi đó như những thực hành hay những ưa thích cá nhân.
Dầu vậy, không có đối nghịch giữa cầu nguyện cá nhân và cầu nguyện cộng đồng, bởi vì bất cứ buổi cầu nguyện cộng đồng nào cũng đòi hỏi mọi thành phần tham dự, và bất cứ lời cầu nguyện cá nhân nào cũng đều là sự kéo dài của kinh nguyện phụng vụ và đều hướng tới kinh nguyện phụng vụ. Nhưng cầu nguyện cộng đồng không chỉ đơn giản là tổng số những lời cầu nguyện cá nhân. Mỗi người đều có trách nhiệm về phẩm chất kitô và Giáo Hội của lời cầu nguyện cá nhân cũng như của lời cầu nguyện của cộng đoàn mình: sự hiệp nhất của các con tim đang cầu nguyện (x. Cv 2, 46). Và lời cầu nguyện cộng đồng nâng đỡ lời cầu nguyện cá nhân: sự khích lệ nhận được từ lời cầu nguyện cộng đồng sẽ giúp mỗi người vượt qua những thử thách và những khó khăn mà mỗi người không thể tránh khỏi trong cuộc sống, chủng sinh cũng như linh mục.
b. Những Nơi Chốn
Việc linh hướng là một chỗ đặc ân, nơi đó, với tin tưởng và tự do, mỗi chủng sinh có thể nói về đời sống cầu nguyện của anh, về phẩm chất kitô và Giáo Hội của lời cầu nguyện đó, kiểm chứng tính kiên trì của việc anh cam kết cầu nguyện cộng đồng cũng như cầu nguyện cá nhân, đặc biệt trong việc nguyện gẫm.
Việc linh hướng cũng là nơi huấn luyện cầu nguyện, vì nơi đây chủng sinh có thể bày tỏ những khó khăn, những tiến bộ hay thụt lùi, chiến đấu và niềm vui của mình khi cầu nguyện. Trong chiều hướng này, vị linh hướng có thể giúp người chủng sinh, bị xô đẩy chán nãn, tìm ra hay tìm lại được con đường cầu nguyện, bằng cách khám phá ra và thử nghiệm những phương pháp thích hợp nhất sẵn sàng nâng đỡ anh và làm cho anh tiến bộ thực sự trong việc cầu nguyện cá nhân.
Vị linh hướng cũng phải làm cho đời sống cầu nguyện hội nhập hoàn toàn vào đời sống thiêng liêng, nhờ đó mỗi chủng sinh càng ngày càng học được làm sao đọc ra ý nghĩa thiêng liêng của các biến cố trong cuộc sống, chẳng hạn như lời mời gọi cá nhân phải hoán cải, việc loan báo Tin Mừng và tình hiệp thông huynh đệ …
c. Các Thời Khắc
Đây là điều rất quan trọng: giúp chủng sinh ý thức sâu xa rằng đời sống thiêng liêng không thể chỉ đơn giản giản lược vào những thời khắc đặc biệt dành cho việc đọc kinh cầu nguyện, nhưng thời giờ cầu nguyện phải mở rộng ra trong toàn bộ cuộc sống. Người ta phân biệt cầu nguyện độc hữu và cầu nguyện liên lĩ. Giờ cầu nguyện độc hữu là chỉ dành cho việc cầu nguyện mà thôi, không làm chi khác. Còn cầu nguyện liên lĩ là cầu nguyện trong khi làm bất cứ việc gì.
Như thế, cầu nguyện góp phần vào sự thống nhất đời sống ơn gọi của chủng sinh, dù đôi khi cuộc sống ơn gọi đó gặp phải những khó khăn và thử thách. Các phương diện khác nhau của công cuộc đào tạo phải được tập hợp nhắm tới việc thống nhất đời sống, được kích hoạt bởi đức ái mục tử của Đấng Chăn Chiên Lành. Tất cả mọi người đều được mời gọi giúp đỡ lẫn nhau để đón nhận từ Chúa Cứu Thế sự phong phú nhiệm mầu của cuộc sống hiến dâng cho Chúa Kitô và cho tha nhân.
4. Sự Thinh Lặng: Điều Kiện Thiết Yếu Cho Đời Sống Nội Tâm
a. Ý Nghĩa và Mục Đích của Thinh Lặng
Sự thing lặng không thể bị chia tách bên ngoài và bên trong được.308 Thinh lặng bên ngoài vừa là hy sinh hãm mình vừa là phương tiện bảo đảm sự yên tĩnh của tâm hồn, để hồi tâm và sống thân mật với Thiên Chúa.
Thinh lặng nội tâm là sự bình an của linh hồn, nghĩa là nỗ lực kiểm soát các đam mê, kiềm chế những tưởng tượng viển vông, lo âu, kích động thái quá hay những suy sụp chán nãn. Những tâm hồn tìm kiếm sự thánh thiện phải luyện tập để có sự bình an ấy: nếu không có thói quen tập luyện như vậy, thì cũng chẳng có thói quen tập nghĩ đến sự hiện diện của Chúa.309 Thinh lặng nội tâm là thái độ sâu xa của linh hồn tìm kiếm mọi sự từ Thiên Chúa và hoàn toàn qui hướng về Ngài.
Thinh lặng nội tâm cần đến và nuôi dưỡng thinh lặng bên ngoài, trong khi thinh lặng bề ngoài phục vụ cho mục tiêu của thinh lặng nội tâm. Vì thế, luật sống của Chủng viện phải coi thinh lặng bên ngoài như là ưu tiên, vì ở đâu thinh lặng bên ngoài không hiện hữu thì thinh lặng nội tâm cũng vắng mặt.310
b. Giá Trị của Thinh Lặng311
“Trong bối cảnh ồn ào và máy động như của xã hội chúng ta, thinh lặng là bầu khí thiêng liêng và sống còn để cảm nhận sự hiện diện của Thiên Chúa.”312 Do đó, việc đào tạo thiêng liêng đòi hỏi sự thinh lặng của mỗi người trong cuộc sống hằng ngày, trong đời sống phụng vụ, và trong những dịp đặc biệt của những ngày tĩnh tâm hay cấm phòng. Nhờ sự thinh lặng, người chủng sinh biết chỗ của mình trước mặt Chúa, đồng thời tỏ lộ lòng khiêm tốn và khả năng lắng nghe của anh khi Chúa nói.
Nhờ sự thinh lặng của thân xác, của trí óc và con tim, anh mới có thể đạt tới sự hiệp nhất và hiệp thông với Chúa: “Hãy lặng thinh và hãy biết rằng Ta là Thiên Chúa” (Tv 46, 10). Như thế, “việc tìm kiếm thân mật với Chúa thực sự bao hàm nhu cầu sinh tử về thinh lặng của toàn thể con người.”313 Sự thinh lặng này không phải là một không gian trống rỗng, bởi vì Thiên Chúa luôn có đó để lấp đầy. Nhiệm vụ quan trọng nhất là phải ý thức rằng ta luôn ở trong sự hiện diện của Chúa và không thể tách khỏi Ngài.
c. Những Thách Đố của Thinh Lặng314
Thinh lặng là một trong những thách đố lớn nhất trong đời sống con người. Một số người tìm kiếm sự thinh lặng, nhưng nhiều người khác lại làm mọi cách để tránh nó. Nhưng thinh lặng hổ trợ lời nói, chuẩn bị lời nói và làm cho lời nói nên phong phú. Nếu không có thinh lặng thì có lẽ chẳng có ngôn ngữ. Lời nói cần thiết vì là phương tiện thông tin. Ngôi Lời, chìm sâu trong mầu nhiệm lặng thinh của Thiên Chúa để rồi giải thích và thông truyền Thiên Chúa cho con người. Đòi hỏi của thinh lặng và lời nói phải được cân bằng.
Vì thế, văn kiện Đào Tạo Thiêng Liêng Trong Chủng Viện mô tả rõ “thinh lặng nội tâm” - “thinh lặng bên ngoài”, và đòi hỏi thinh lặng nội tâm như là bầu khí đúng đắn của việc giáo dục tổng quát.315 Đức Gioan Phaolô II ước mong rằng “chủng viện phải là nơi của thinh lặng, là nhà cầu nguyện, nơi đó Chúa tiếp tục qui tụ các môn đệ riêng ra, để họ sống cái kinh nghiệm mạnh mẻ của sự gặp gỡ và chiêm niệm.”316 Thinh lặng là một thách đố cho bất cứ ai muốn sống thật đầy ý thức, chăm chú, cảnh giác và hoàn toàn hướng về Thiên Chúa. Mỗi người cần nhìn thấy và tìm ra được những cơ hội khả dĩ cho thinh lặng và đem chúng vào trong cuộc sống mình.
d. Những Phương Tiện Thuận Lợi Cho Việc Giữ Thinh Lặng317
+ Thinh Lặng trong Phụng Vụ
Thinh lặng luôn là một phần của việc thờ phượng. Ta nên dùng kinh nguyện cộng đồng để dạy về thinh lặng. Phụng vụ cung cấp nhiều cơ hội để thinh lặng: Ngưng nghỉ một khoảng thời gian thích hợp sau mỗi bài đọc; nghỉ chốc lát để suy niệm sau bài giảng, hay sau lời kêu mời “chúng ta dâng lời cầu nguyện.” Sau hiệp lễ, nên dành một thời gian thinh lặng.
Trong Phụng vụ các Giờ Kinh cũng có nhiều dịp để thinh lặng: Sau vinh tụng ca và trước điệp ca của thánh vịnh kế tiếp, một chút ngưng nghỉ để cộng đoàn suy niệm về thánh vị đó; sau bài đọc Lời Chúa và trước xướng đáp, một lúc thinh lặng hợp lý để suy niệm.
Chúng ta chỉ chậm rải đi vào thinh lặng sâu lắng khi chúng ta ý thức sự hiện diện bí ẩn của Thiên Chúa. Cầu nguyện trở thành sự kết hợp những lúc thinh lặng và lời nói trong một thái độ chiêm niệm, và đời sống thiêng liêng được ẩn giấu với Chúa Kitô trong Thiên Chúa.318
+ Thinh Lặng Trong Nhà
Thật là quan trọng khi nhận ra rằng có nhiều môi trường khác nhau trong nhà: Tầng trệt, sân chơi, phòng ăn và phòng khách của chủng sinh là những nơi thích hợp để chuyện vãn. Tuy nhiên, ở các hành lang trên lầu và các phòng của chủng sinh thì nên kiềm chế việc nói chuyện. Mọi người đều phải cẩn trọng để khỏi làm xáo trộn sự thinh lặng của người khác. Radio, máy nghe băng, Tivi, âm lượng trao đổi… phải được điều chỉnh để bảo vệ bầu khí chiêm niệm, vốn phù hợp cho đời sống cầu nguyện và học tập. Không đòi phải thinh lặng tuyệt đối, nhưng cuộc trao đổi phải được giữ ở mức tối thiểu.
+ Thinh Lặng trong Những Ngày Cấm Phòng hay Tĩnh Tâm
Đời sống thiêng liêng và sự trưởng thành thiêng liêng được triển nở khi thinh lặng trở thành một phần của đời sống con người. Các cuộc tĩnh tâm dành cho việc đào tạo và bồi dưỡng thiêng liêng là những cơ hội khả dĩ để trải nghiệm sự thinh lặng.
Những ngày cấm phòng và tĩnh tâm là những kinh nghiệm căn bản trong việc tìm lại nguồn năng lượng cho đời sống cầu nguyện và đức tin. Chủng sinh sẽ dần dần khám phá ra những điều kiện của đời sống cầu nguyện đích thực trong ơn gọi và đời sống thiêng liêng của mình.
Những ngày cấm phòng và tĩnh tâm còn là dịp để lấy lại sức lực cho thể xác, cho trí khôn và linh hồn. Càng cảm thấy dễ chịu khi sống thinh lặng trong nhà, người ta càng dễ đi vào những giai đoạn thinh lặng dài lâu hơn. Thinh lặng không có nghĩa đơn giản là không nói. Do đó, người tĩnh tâm nên được khuyến khích loại bỏ những mối bận tâm bên ngoài. Những thứ làm cho mình mất sự thinh lặng bề ngoài như báo chí, truyền thanh, truyền hình … Tuy những biến cố xảy ra trên thế giới là một phần của đời sống cầu nguyện, chúng ta không cần phải quá chuyên môn để đem vào hết mọi biến cố. Càng đi vào thinh lặng và càng thăng tiến đời sống chiêm niệm, chúng ta càng có thể nghe tiếng Chúa với những âm thanh khác nhau và mới lạ.
Thật là quan trọng khi nhận ra rằng tĩnh tâm là thời gian để nâng cao ý thức. Người tĩnh tâm cần ở vị trí “là” hơn là “làm.” Sự chú tâm sẽ đạt được bằng cách học cho biết thụ động lắng nghe. Merton nói rằng mức độ truyền thông cao nhất không phải là truyền thông nhưng là hiệp thông. Vì thế, trong thinh lặng, trong không gian vắng lời nói, người tĩnh tâm có thể trở nên một với Chúa. Nhiệm vụ thiết thực là phải thuyết phục rằng ngay cả giữa cuộc sống bận rộn và xôn xao, chúng ta vẫn có thể kết hợp nên một với Chúa. Thái độ chiêm niệm này là thích hợp, không những trong chủng viện, mà còn trải dài trong suốt cuộc sống sứ vụ. Thái độ cầu nguyện này có thể còn sinh hoa kết quả dồi dào hơn nữa.
5. Những Hình Thức Cầu Nguyện
a. Liên Quan Đến Lời Chúa
1) Lời Chúa
Trong sắc lệnh Chức Vụ và Đời Sống Linh Mục, Công đồng Vaticanô II nêu rõ: “Nhiệm vụ đầu tiên của linh mục là rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa cho mọi người,”319 Kitô hữu cũng như không phải là kitô hữu; và Tông Huấn Pastores Dabo Vobis (Những mục tử như lòng mong ước) khẳng định “Linh mục trước tiên phải là thừa tác viên của Lời Chúa.”320 Lương thực đầu tiên nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng của linh mục là Lời Chúa (x. Mt 4,4). Ai giữ Lời Chúa thì sống trong Chúa và tình yêu của Chúa được trọn hảo nơi người ấy (x 1Ga 2,5-6); và người ấy sẽ an toàn đi trên chính lộ đến cùng Chúa Cha (x. Ga 14,6). Lời Chúa ban sự sống đời đời (x. Ga 6, 68).
Suy niệm, sống và rao truyền Lời Chúa là bổn phận và sứ vụ của mọi người kitô hữu, nhưng còn hơn thế, đó là sứ vụ tiên quyết của linh mục (x. 1 Cr 9, 16). Chính Lời Chúa làm cho đời sống và sứ vụ của linh mục được triển nở và sinh hoa kết trái dồi dào trong chương trình cứu độ của thánh ý Chúa (x. Is 55,10-11, vì Lời Chúa khám phá ra điều bí ẩn trong linh hồn, chất vấn, sửa chữa, hoán cải, đổi mới và thánh hoá con người, với “một tâm hồn mới và một tinh thần mới” (x. Ezk 18,31), bằng cách làm cho đời sống và hành động của con người được thấm nhuần những giá trị Phúc Âm.
2) Lectio Divina
Ngày nay người ta tái khám phá ra giá trị và hiệu quả của việc đều đặn đọc và cầu nguyện Thánh Kinh, quen gọi là Lectio Divina. Nhiều linh mục và giáo dân làm chứng rằng họ đã tìm được nguồn lương thực nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng trong việc đọc và suy gẫm Lời Chúa hàng ngày hay hàng tuần. Bằng cách đặt cuộc sống mình dưới sức mạnh của Lời Chúa, người ta bộc lộ thái độ của người môn đệ lắng nghe, của người tôi tớ vâng lời, của Người Con đến để thi hành thánh ý của Cha. Lời Chúa đổi mới cái nhìn của chúng ta về mọi sự. Lời Chúa soi sáng trí khôn, mời gọi tới đức tin, mở lớn niềm hy vọng, thức tỉnh và đổi mới tình yêu.
Trong chủng viện, Lectio Divina được để cho sáng kiến của chủng sinh, với sự giúp đỡ của vị linh hướng. Khoa chú giải Thánh Kinh và Lectio Divina là hai bước biệt lập: qua việc chú giải Thánh Kinh, người ta học làm sao để thực sự đọc một bản văn với sự chú ý và khách quan, trong khi Lectio Divina gợi lên lòng khao khát học toàn bộ Kinh Thánh để khám phá và sống mỗi ngày một hơn sự phong phú bất tận của Lời Chúa.
3) Phụng Vụ Các Giờ Kinh
Phụng Vụ Các Giờ Kinh là lời cầu nguyện của Hội Thánh. Nhịp điệu và cấu trúc của nó không ngừng hướng con tim và ý tưởng chúng ta về Chúa, Đấng là nguồn mọi thiện hảo. Đối với một số người, nguy cơ của việc cử hành cộng đồng Phụng vụ các Giờ Kinh là để cho mình bị lôi đi cách máy móc hời hợt, thiếu nội tâm hóa đầy đủ sự phong phú của lời kinh này. Nhưng việc đọc riêng Thần vụ này còn khó khăn hơn, song đây lại là cái thông thường trong đời sống của đa số các linh mục triều sau khi chịu chức.
Vì thế, trong các buổi gặp linh hướng, người ta phải lưu ý “trắc nghiệm” các chủng sinh trong những kỳ nghỉ và thời gian thực tập mục vụ: Sống xa chủng viện, lại nhiều ít ở một mình, đâu là chỗ họ dành cho Kinh Nhật Tụng? Khuyến khích các linh mục tương lai trung thành với Phụng vụ các Giờ Kinh được nhìn nhận như là một bổn phận, hoặc đề nghị họ thực hành cộng đồng thì chưa đủ. Cần làm cho họ có thể hiểu rõ sự phong phú và ý nghĩa của việc thực hành này, ngõ hầu họ đảm nhận nó như một bổn phận quan trọng của sứ vụ tương lai của họ, trong sự hiểu biết và xác tín.
4) Nguyện Gẫm
Nguyện gẫm cá nhân hằng ngày là một thực hành cổ điển trong các chủng viện. Các chủng sinh được khuyến khích và giúp đỡ do được dạy cho biết nhiều phương pháp nguyện gẫm của nhiều trường phái linh đạo khác nhau. Họ có thể đi sâu vào một phương pháp thích hợp và khám phá ra cách thức riêng của mình để nguyện gẫm, vượt quá các phương pháp trên.
Hình thức cầu nguyện bằng trí khôn này là một cuộc tìm kiếm đầy đủ và sâu xa sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa, như được mạc khải nơi các bản văn họ đọc. Họ đem hết trí tưởng tượng, tình cảm, trí khôn và ý muốn để chiêm ngắm những lời nói và việc làm của Chúa Giêsu trong Tin Mừng. Những khám phá như thế dẫn tới những biến đổi trong thái độ nội tâm và các động lực, ảnh hưởng đến cách ứng xử và làm phong phú mối tương quan của họ với Chúa (x. Lc 24,32).
Việc nguyện gẫm được hướng dẫn bởi các nhà đào tạo có thể giúp những người bắt đầu đi vào thực hành nguyện gẫm và làm cho họ có thể tự do chấp nhận một cách thức cụ thể để vượt qua các giai đoạn của thời gian cầu nguyện này. Thời gian tĩnh tâm và cấm phòng là những thời khắc đặc ân để tập luyện thực hành nguyện gẫm. Nhờ vào bầu khí lắng nghe, trao đổi và khích lệ của các buổi gặp linh hướng, chủng sinh có thể nói và đánh giá những niềm vui và những khó khăn họ gặp phải, nhịp độ và những khám phá đã thực hiện. Đời sống nhóm cũng là nơi để trao đổi và chia sẻ hữu ích.
Nguyện gẫm phải là thời gian và nơi chốn không gì có thể thay thế. Nó là một niềm vui và một trắc nghiệm lòng trung thành với Chúa, trong sự hiện diện đầy yêu thương của Ngài. Sự khô khan không thể tránh khỏi và sa mạc là những cuộc tập luyện tốt để khỏi dính bén các ảo tưởng cho rằng mình trực tiếp nắm bắt được Chúa.
Sau cùng, nguyện gẫm là nơi tiếp nhận và tái khám phá Thiên Chúa, Đấng không ngừng tự hiến mình cho những ai hằng tìm kiếm Ngài. Nhờ việc nguyện gẫm hằng ngày, người ta hiệp thông với Chúa và kín múc được nghị lực phục vụ tha nhân.
5) Đọc Sách Thiêng Liêng
Cùng với Lectio Divina, phải kể đến thực hành đọc đều đặn sách thiêng liêng của các Giáo phụ, để có thể làm quen trong đức tin sứ điệp Tin Mừng được các chứng nhân sống động chuyển tải và phiên dịch. Việc đọc sách thiêng liêng được coi là suối nguồn rất giá trị giúp chủng sinh lớn lên trong tương quan với Thiên Chúa và vận dụng cho các cuộc gặp linh hướng. Đọc sách thiêng liêng là một con đường đức tin được chia sẻ trong kinh nghiệm của người khác.
Điều quan trọng là sống làm sao. Tốt hơn là đọc ít đoạn rồi dừng lại để suy gẫm, thay vì đọc nhiều trang mà không để cho những điều đã đọc giúp mình tương quan thân mật với Chúa. Các sách thiêng liêng cổ thời hay hiện đại đều có thể giúp chúng ta lớn lên trong đời sống thiêng liêng mỗi ngày. Điều quan trọng không phải là đọc một bản văn, nhưng là tìm ra từ bản văn ấy cái giúp phát triển mối tương quan của một con người với Thiên Chúa.
b. Biểu Tượng và Nghi Thức
1) Bí Tích Thánh Thể
Thánh Thể là “nguồn suối và chóp đỉnh của đời sống Kitô hữu, đồng thời là trung tâm của tất cả đời sống chủng viện.”321 Nhờ Thánh Lễ, tất cả và từng người tham dự vào lời cầu nguyện của Chúa Kitô. Thánh Lễ không phải là một lời đáp trả cá nhân đối với tình yêu của Chúa Cha, nhưng là đại dương vô tận của những lời cầu khẩn, ca khen và dâng hiến của Chúa Kitô. “Thánh Thể nối kết trời với đất, ôm lấy và thấm nhuần tất cả tạo thành.”322 Điều thiết yếu là học cho biết làm sao để được Chúa Kitô “bắt lấy”, nên một với Ngài, nhờ đó trọn vẹn đời sống chúng ta là một lễ vật.
Do đó, cử hành cách xứng đáng theo đúng luật phụng vụ thôi chưa đủ, cần phải có mối hiệp thông tâm hồn, nghĩa là sự tham dự sống động của tất cả mọi người. Trong chủng viện, đề nghị nhiều hình thức khác nhau là điều tốt: từ việc “viếng Mình Thánh Chúa” ngắn ngủi đến việc “thờ phượng” thường xuyên, như “đêm thờ phượng”, “Giờ Thánh”, “chầu Thánh Thể liên tục”… Chúa Kitô được tôn thờ dưới dấu chỉ khiêm tốn của miếng bánh là Đấng đã tự hiến chính mình vĩnh cửu cho Chúa Cha và đã trở nên lương thực cho tín hữu. Việc tôn thờ Thánh Thể thường xuyên giúp canh tân và xây dựng các cộng đoàn Giáo Hội trên khắp thế giới. Việc tôn thờ này mang lại nhiều nghị lực và hăng say cho các nhà truyền giáo, vì Thánh Thể là dấu chỉ thường xuyên của tình yêu Thiên Chúa.323
2) Bí Tích Sám Hối
Việc cử hành Bí Tích Hối Sám luôn là một cử hành phụng vụ, ngay cả với hình thức riêng tư của nó. Quả thế, thực hành bí tích sám hối là một yếu tố trong đời sống cầu nguyện của cả hai người, người xưng thú lẫn người nghe xưng thú. Trong chủng viện, các vị linh hướng luôn là thừa tác viên thường xuyên của bí tích này. Các ngài không chỉ khuyến khích các chủng sinh đều đặn thực hành bí tích này, mà còn giúp họ hiểu biết tốt hơn và cử hành nghiêm túc, vì bí tích này cũng là “một tập luyện tuyệt vời về nhân đức, đền tội… là trường tu đức không thể thay thế, là một sự trợ giúp thực sự trên con đường thánh hóa và linh hướng.324
3) Lòng Sùng Kính Đức Maria
Đa số chủng sinh đều tự phát có lòng sùng kính Đức Maria với con tim chân thành. Trách nhiệm của các nhà huấn luyện là giúp họ biết sống lòng tôn sùng ấy một cách sâu xa. Lòng tôn sùng đích thực Đức Trinh Nữ Maria được đặc trưng qua thái độ sống đơn sơ và khiêm tốn theo gương của Ngài. Lòng sùng kính này được phát sinh từ việc chiêm ngắm mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể. Lòng sùng kính này hướng dẫn sống đời nội tâm và việc dâng hiến đời mình theo gương mẫu của Đức Maria, trong lễ Mẹ Dâng Mình. Người ta sẽ không thể quên đặt lên hàng đầu chiều kích truyền giáo của lòng sùng kính Đức Mẹ.
Cách đơn giản, vô số tín hữu đã ưa thích việc lần hạt mân côi như là phương thế kết hiệp với Chúa qua kinh nguyện. Chuỗi mân côi là bản tóm lược của Phúc Âm. Cầu nguyện chuỗi mân côi là tham dự vào đời sống và sứ vụ của Chúa Cứu Thế và Mẹ Người, Đấng đã trở nên mẹ của hàng linh mục cách đặc biệt. Mẹ dẫn dắt mọi người đến với Chúa Giêsu và Chúa Giêsu sẽ đưa họ tới Chúa Cha. Đây hẳn là hành trình đức tin chắc chắn theo gương Đức Trinh Nữ Maria.
6. Những Cách Cầu Nguyện Của Người Á Châu Và Việt Nam
a. Từ Những Kinh Nghiệm Cầu Nguyện Trong Quá Khứ
Người ta cố gắng tập trung vào cả hai cách, cầu nguyện cộng đồng và cầu nguyện cá nhân. Vì thể xác có thể trở nên căng thẳng, sự chú tâm bị phân tán và dao động, người ta có thể dùng Kinh Thánh, các bài hát, đọc kinh, lần chuỗi để cầu nguyện và suy gẫm. Người ta cảm nhận được mối tương quan tốt với Chúa, nhưng đôi khi cũng bị chia trí, đôi khi rất căng thẳng và mệt mỏi, và thường làm theo thói quen như bổn phận phải làm. Với cầu nguyện cá nhân, đặc biệt là cầu nguyện thinh lặng và suy gẫm trong tâm trí, nhiều sự chia trí chiếm lấy đầu óc và cản trở cầu nguyện. Nhiều lúc người ta kết thúc giờ cầu nguyện với khô khan trống rỗng, quên đi rằng nếu tinh thần có đi đâu đâu thì thân xác vẫn luôn có đó ở trước mặt Chúa.
b. Đến Cầu Nguyện Trong Bối Cảnh Của Á Châu325
Khám phá ra sự hiện diện của Thiên Chúa hằng sống: Cách thức tín đồ Lão giáo, Khổng giáo và Phật giáo tọa tĩnh tòa sen tụng niệm có thể giúp chúng ta tái khám phá các hình thức chiêm niệm của cầu nguyện trong truyền thống kitô giáo và hội nhập chúng, bằng cách hướng chúng ta chú ý hơn nữa tới tư thế thân xác khi chúng ta cầu nguyện.326 Các thực hành Zen hay Yoga có thể được dùng để giúp chủng sinh làm quen với ý thức sự hiện diện của Chúa. Đó là một cảm nhận chính mình như một toàn thể tinh-thần-thân-xác trong tương quan với Chúa. Dần dần người ta sẽ đắc thủ được thói quen ý thức, bằng cách tập sống sự hiện diện của Chúa, nghĩa là thường xuyên hướng chú ý của mình về sự hiện diện đầy yêu thương và sống động của Chúa ở trong và quanh mình. Thời gian thinh lặng của những ngày tĩnh tâm hay cấm phòng cống hiến những cơ hội thuận lợi để phát triển sự ý thức này ở một mức độ sâu hơn.
Một cách tốt để các chủng sinh khởi đầu là họ bỏ ra 15 hoặc 20 phút, hay lâu hơn nếu họ muốn, để tạo một tư thế thư giản bằng cách kiểm soát hơi thở (hít vào và thở ra thật sâu); đồng thời tẩy bỏ khỏi đầu óc bất cứ bận rộn hay suy nghĩ nào, và để chìm sâu trong sự hiện diện của Chúa ở trong và ở quanh họ.
Sau một lúc, họ được nhắc nhở đi vào một cuộc đàm thoại đơn sơ, sâu lắng với Chúa đang hiện diện, về bất cứ cái gì đang chất chứa trong tâm hồn họ lúc đó. Có lẽ họ chẳng có gì để nói mà chỉ thích ngồi lắng nghe Chúa. Giây phút thinh lặng này thật bình an và thoải mái. Nếu cứ tập luyện mỗi ngày, họ sẽ khám phá được rằng dần dần họ trở nên càng ngày càng chú tâm vào Chúa hơn, và rằng họ đang lớn lên trong hiểu biết, nhẫn nại và yêu thương đối với những người xung quanh.327
c. Ích Lợi của Cách Cầu Nguyện Á Châu
Các tôn giáo Á Châu giới thiệu nhiều cách thức cầu nguyện đưa dẫn và thúc đẩy trọn vẹn con người vào cầu nguyện: thể xác, trí khôn, con tim, trí nhớ, trí tưởng tượng, hơi thở, tư thế thân xác và ngay cả môi trường bên ngoài đều được sử dụng cho việc cầu nguyện, và người ta gọi đó là “thân xác cầu nguyện.” Phương pháp này nâng cao phẩm chất của cầu nguyện, cũng như phẩm chất của người cầu nguyện.
* Việc thực tập lắng nghe này làm chủng sinh dễ dàng đi vào tiếp xúc và hiệp thông với Chúa. Sự ý thức thụ động này giúp họ mở rộng lòng và “phó mặc” cho ơn Chúa hoạt động. Thái độ đón nhận thụ động này mang lại sự thinh lặng nội tâm cần thiết cho việc cầu nguyện, nhờ đó họ được Lời Chúa Kitô và ơn Chúa Thánh Thần đánh động và biến đổi.
* Thực hành thư giãn tạo nên bình an nội tâm và sự hài hòa làm cho tiến trình cầu nguyện được dễ dàng, trong khi thực hành tập trung cao độ lại rất hữu ích cho đời sống cầu nguyện. Nhịp thở có thể giúp gia tăng sự chú ý, tập trung và ý thức, là những cái làm cho tiến trình cầu nguyện của con người được dễ dàng.328
d. Cầu Nguyện Tập Trung Và Niềm Vui Thiêng Liêng
Các bậc thầy Zen hay Yoga có thể cầu nguyện (suy niệm và chiêm niệm) liên tục nhiều giờ. Họ cầu nguyện bằng tâm trí hay chính xác hơn là bằng cách tập trung tư tưởng.329 Đây là một hình thức cầu nguyện rất đơn giản, thường không dùng lời nói (cầu nguyện bằng lời). Để đi vào cầu nguyện tập trung, ta phải để mình hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa và để cho tình yêu của Chúa Thánh Thần chi phối. Hãy lặn xuống trong sâu thẳm cõi lòng, nơi đó Thiên Chúa đang thực hiện những điều kỳ diệu; và hãy mở lòng cho Chúa Thánh Thần đang cư ngụ trong ta.
Phương pháp của cầu nguyện tập trung là:
* Ngồi yên lặng, tư thế thoải mái và thư giãn;
* Nghỉ ngơi trong lòng khao khát Chúa;
* Hướng vào trung tâm bản ngã của mình;
* Trong yên lặng, ý thức sự hiện diện của Chúa và bình an hấp thụ tình yêu của Ngài.330
Ngày nay, nhiều người công giáo học theo phương pháp cầu nguyện này. Các nhà đào tạo có thể thực hành và dạy chủng sinh áp dụng phương pháp này trong đời sống cầu nguyện của họ. Nếu kiên trì tập luyện thì ngày qua ngày, cầu nguyện tập trung sẽ giúp họ đi vào hiệp thông với Chúa ở mức độ sâu thẳm nhất của chính họ. Họ sẽ cảm thấy bình an hơn và càng ao ước mối tương quan yêu thương này với Chúa. Họ sẽ được thúc đẩy tìm kiếm sự kết hiệp chiêm niệm sâu xa hơn nữa, mà bất cứ người sống đời dâng hiến nào cũng đều được mời gọi.
Nếu nguyện gẫm được mô tả như lời cầu nguyện của tâm trí tìm biến đổi con tim, thì chiêm niệm là lời cầu nguyện của con tim sẽ biến đổi tâm trí. Cầu nguyện tập trung có thể giúp những người tìm kiếm Chúa kinh nghiệm được lợi ích tuyệt vời này. Thay vì dùng nhiều lời, ta có thể bắt đầu cầu nguyện tập trung bằng cách chọn một lời thôi: một lời thánh thiêng mang một ý nghĩa đặc biệt, có thể là một danh hiệu của Chúa, hay một lời rút ra từ Thánh Kinh.
Sau khi đã ổn định được tư thế thoải mái và thư giãn để cầu nguyện, hãy để nhịp thở nhẹ nhàng và đều đặn, hãy nhắm mắt lại và nói lên trong thinh lặng lời thánh thiêng đó, chú tâm vào sự hiện diện của Chúa và biểu lộ lòng ưng thuận của mình cho hoạt động của Ngài nơi bản thân mình. Khi những tư tưởng hay cảm nhận, những hình ảnh và kỷ niệm nổi lên làm chia trí, hãy nhẹ nhàng quay trở lại với lời thánh thiêng đó và để nó chiếm lĩnh hiện trường của ý thức. Không cần phải làm gì nhiều hơn thế. Không có gì đặc biệt để phấn đấu hay bất cứ kết quả rõ ràng nào để đạt cho được. Khi thời giờ cầu nguyện đã hết, từ sâu thẳm cuộc đối thoại thinh lặng với Chúa, hãy từ từ trở về cùng thế giới bên ngoài và những hoạt động thường nhật của mình.331
e. Vượt Qua Những Khó Khăn và Kiên Trì Trong Đời Sống Cầu Nguyện332
Người ta phải nhắc các chủng sinh nhớ những thực tế này: Họ có thể gặp nhiều khó khăn trong suốt hành trình cầu nguyện của mình. Cầu nguyện không chỉ gồm toàn những kinh nghiệm vui mừng và thích thú. Khô khan và tăm tối cũng là một phần thiết yếu trong quá trình trưởng thành và biến đổi. Tự biết mình không phải luôn luôn là một kinh nghiệm vui thích, nhưng thông thường là một quá trình đau đớn của sự chấp nhận chính mình để được chữa lành. Họ phải học sống khiêm nhường, siêu thoát, từ bỏ và quên mình để chiến đấu chống lại tính kiêu căng tự mãn với tất cả những sức kháng cự tiềm ẩn của nó. Chỉ với lòng khiêm tốn và sự cởi mở với ơn Chúa, họ mới có thể đương đầu trong cuộc chiến đấu này.
Cách cầu nguyện Á Châu này thúc đẩy trọn vẹn con người vào trong mối tương quan với Chúa và làm biến đổi con người cách lớn lao trong mọi chiều kích (thể lý, tâm lý và thiêng liêng): Siêu nhiên không phá hủy tự nhiên, nhưng thăng tiến tự nhiên. Vậy, một khi áp dụng cách thực hành lắng nghe, thư giản và tập trung, người ta càng trở nên ý thức hơn mình là ai và phải làm gì, không chỉ trong lời cầu nguyện mà còn trong đời sống hằng ngày của mình nữa.
7. Để Thành Người Lãnh Đạo Cầu Nguyện
a. Học Làm Sao Chủ Sự Cầu Nguyện
“Linh mục chỉ có thể huấn luyện người khác trong trường cầu nguyện của Chúa Giêsu, nếu chính Ngài đã được huấn luyện trong trường đó và tiếp tục nhận được sự đào luyện này.”333 Một khía cạnh căn bản trong chiều kích mục vụ của cầu nguyện là việc chủ sự cầu nguyện, phụng vụ và các bí tích, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể.
Các chủng sinh luân phiên với các nhà đào tạo trong việc hướng dẫn giờ Kinh Sáng và giờ Kinh Chiều. Những cơ hội này cung cấp cho họ kinh nghiệm hướng dẫn cầu nguyện, là một trách nhiệm hàng đầu của linh mục. Một trong những vai trò của việc cử hành là giúp cộng đoàn cầu nguyện, bằng cách làm cho cộng đoàn có thể đi vào trong chính mầu nhiệm đang cử hành. Tất cả những tác viên khác của cử hành phụng vụ đều có vai trò của họ, nhưng vai trò của linh mục có tầm quan trọng hàng đầu. Sự hiện diện, những lời suy niệm và phẩm chất các bài giảng của ngài đều mang tính thúc giục quyết tâm.
Tuy nhiên, linh mục chủ sự đôi khi có cảm giác mình không thể cầu nguyện sốt sắng được. Ngài thường bị chi phối bởi tiến trình cử hành, bởi những chi tiết của việc tổ chức và bởi những phản ứng của cộng đoàn. Đôi khi ngài cảm thấy không hài lòng.
Vì thế, các linh mục tương lai cần phải được chuẩn bị cho lời kinh phụng vụ mà họ sẽ chủ sự, về phương diện kỹ thuật cũng như phương diện thiêng liêng, để họ sống những gì họ nói và thấy. Nếu được chuẩn bị thực sự, vị chủ sự sẽ cảm thấy tự do hơn để cầu nguyện và qui tụ lời cầu nguyện của cộng đoàn lên Chúa. Vị chủ sự luôn nói “chúng ta:” ngài không thể cầu nguyện giống hệt như các thành viên khác của cộng đoàn cầu nguyện, họ vốn không có một trách nhiệm đặc biệt gì. Ngài phải hướng dẫn cộng đoàn cầu nguyện, bằng cử chỉ và lời nói, và ngài cầu nguyện nhân danh toàn thể cộng đoàn. Vị chủ sự phải chú tâm đến những lúc suy niệm trong phụng vụ, đúng theo nghi thức. Như thế, khi vị chủ sự cầu nguyện trong vai trò của mình và đúng theo vai trò của mình, ngài sẽ cầu nguyện cách cá nhân.
Trong thời gian ở chủng viện, việc huấn luyện phụng vụ phải cung ứng cho chủng sinh một sự chuẩn bị tốt cho việc cử hành, không chỉ về mặt kỹ thuật, mà nhất là về mặt thiêng liêng. Phải quan tâm cho các chủng sinh có cơ hội lên tiếng trong cử hành phụng vụ (chẳng hạn vào lúc bắt đầu Thánh Lễ). Việc đó khiến họ cố gắng giúp cộng đoàn đi vào cầu nguyện. Trong việc thực thi sứ vụ của mình, các phó tế được chủ sự bí tích Thánh Tẩy, bí tích Hôn Phối và nghi thức An Táng. Đừng quên tiếp tục đồng hành giúp họ khám phá ra phận vụ của họ.
b. Học Hướng Dẫn Dân Chúa Trong Hành Trình Thiêng Liêng của Họ
Các ứng sinh linh mục phải chuẩn bị chính họ để trở thành Thày dạy Lời Chúa, Thừa tác viên Bí tích, và Người Lãnh Đạo Cộng đoàn. Nói cách khác, họ phải học làm sao hướng dẫn cộng đoàn Dân Chúa trong đời sống thiêng liêng, đặc biệt trong việc linh hướng. Trong lãnh vực này, ta phải điều chỉnh lại quan niệm cho rằng mọi linh mục đều có thể trở thành vị linh hướng, vì ngày nay việc linh hướng và xưng tội có thể tách biệt nhau. Những ai muốn và được cắt cử làm linh hướng phải được Chúa Thánh Thần kêu gọi và phải được đào tạo kỹ lưỡng. Do đó, tất cả các chủng sinh, nhất là các thày trong năm phó tế, phải học nghệ thuật và kỹ năng làm linh hướng.334

E. Cơ Cấu Của Việc Đào Tạo Thiêng Liêng
1. Việc Đào Tạo và Toà Trong/Toà Ngoài335
a. Định Nghĩa Từ Ngữ
“Toà” là một từ gốc Latinh và là một thuật ngữ luật pháp, có nghĩa là một nơi công cộng mà ở đó sự công bằng được xác lập. Trong quá khứ, người ta phân biệt toà trong như nơi phán xử lương tâm của một người và toà ngoài như toà án của người đời, chẳng hạn như chính quyền hay công an. Trong việc biện phân ơn gọi, toà được quan niệm như “quyền” phê phán ơn gọi của một chủng sinh hướng tới chức linh mục. Ở đây cũng có hai mức độ, toà ngoài và toà trong, nhưng đối tượng của phê phán không hoàn toàn như nhau, tùy theo từng toà.
b. Toà Trong
Khi nói về toà trong, người ta có ý nói về việc phán xét trong lương tâm của chủng sinh. Anh quyết định tự trình diện với Hội Thánh để trở thành một linh mục, vì anh cảm thấy được Chúa gọi. Chính anh phân định ơn gọi của anh, dưới sự hướng dẫn của vị linh hướng. Việc này theo sau một thời gian suy nghĩ chín chắn, từ đó, theo sự phán đoán của chính mình, anh đánh giá rằng anh có khả năng phục vụ Hội Thánh như linh mục. Việc suy nghĩ này được tiến hành dưới hình thức một phân định thiêng liêng về thực tại khách quan của tác vụ linh mục và thực tại chủ quan của lời mời gọi cá nhân và duy nhất của anh, qua đối thoại với một vị linh hướng. Chính với vị linh hướng mà việc phân định ơn gọi được hoàn tất.
Mặc dù toà trong là lương tâm của chủng sinh, nhưng không có nghĩa là vị linh hướng không có vai trò gì trong tiến trình này. Thường thường vị linh hướng đi vào trong tiến trình này bằng cách cống hiến ý kiến riêng làm sao ngài kinh nghiệm rằng chủng sinh ấy được Chúa gọi. Vị linh hướng có lý mạnh để can thiệp, nếu ngài cảm thấy người thụ hướng đang làm một lầm lỗi nghiêm trọng. Nhưng trong mọi trường hợp, chủng sinh không thể được bảo phải làm gì, ngoại trừ khẳng định rằng đó là đánh giá, phán đoán, và quyết định của anh. Sự hiện hữu của tòa trong vẫn cần thiết trong nhiều con đường Chúa gọi một con người. Quả vậy, tòa trong là nơi một chủng sinh nắm lấy tiếng gọi, một cách nội tâm và tự do, qua bất cứ con đường nào mà lời mời gọi ấy đạt tới anh.
c. Toà Ngoài
Toà ngoài là quyết định và phê phán của người khác hơn là của chủng sinh. Trong trường hợp đánh giá một thanh niên có thích hợp với chức linh mục hay không, trách nhiệm cao nhất thuộc về Giám Mục. Trách nhiệm này thường được ngài uỷ cho những người thích hợp. Tại Việt Nam, đó là những thành viên thuộc hội đồng chủng viện. Hội đồng này phải phán quyết một thanh niên có thích hợp hay không để trở thành linh mục. Trong tiến trình đánh giá cuối cùng, hội đồng sẽ giới thiệu ứng viên lên Giám Mục xin ngài phong chức.
2. Tiến Trình và Sự Tương Tác Giữa Hai Tòa
a. Khác Biệt Nhưng Bổ Túc Cho Nhau
Toà trong đóng vai trò bổ túc, nhưng lại hoàn toàn khác biệt với toà ngoài. Thật vậy, điều mà vị linh hướng khám phá về chủng sinh ở toà trong sẽ không được tiết lộ ra ở toà ngoài. Dữ kiện này có cùng một qui chế như của toà giải tội.336 Điều này không chỉ để bảo vệ chủng sinh, mà còn cống hiến cho anh sự tín nhiệm và tin tưởng rằng điều gì anh đã bộc lộ ở tòa trong vẫn được giữ kín.
Trong quá trình phân định ơn gọi, mối quan tâm của cả hai người, chủng sinh và vị linh hướng, là lợi ích của Hội Thánh. Chủng sinh không tìm phân định ý riêng hay ước vọng cá nhân của mình. Đúng hơn, anh tìm khám phá ý muốn của Chúa cho anh, bằng cách phân tích các khả năng và động lực của anh đối với những kỳ vọng và nhu cầu của Hội Thánh. Do đó, ở toà trong, vị linh hướng không chỉ là người thụ động lắng nghe, song ngài phải sẵn lòng và có khả năng thách đố và đối đầu, khi sự việc đòi hỏi, để giúp chủng sinh trải qua một tiến trình phân định ơn gọi đích thực.
Thông thường ở toà ngoài, vị Giám đốc chủng viện có trách nhiệm hàng đầu trong việc đánh giá tính thích hợp hay không của chủng sinh với chức linh mục. Vì thế, ngài không thể đóng một vai trò nào ở toà trong. Sự hiểu biết có được về chủng sinh ở toà ngoài đều do nhận xét của nhiều nhà đào tạo. Vì toà ngoài không trực tiếp nghiên cứu sâu vào nội tâm của chủng sinh, nên sự hiểu biết có được thường có một mức độ chắc chắn khác và ít hơn sự chắc chắn có được ở tòa trong.
Một câu hỏi căn bản là: Người này có được Chúa kêu gọi không? Tất cả các nhận xét đều nhằm trả lời câu hỏi này. Trong khi tìm trả lời câu hỏi này, các nhà đào tạo sẽ thừa nhận với tất cả khiêm tốn rằng Chúa kêu gọi người yếu đuối để làm xấu hổ kẻ hùng mạnh! (x. 1Cr 1, 26-29). Không phải Giáo Hội kêu gọi ứng sinh, nhưng là chính Thiên Chúa. Vai trò của Giáo Hội là đánh giá lời kêu gọi ấy và rồi chấp nhận ứng sinh với vui mừng và tạ ơn Thiên Chúa.
b. Thực Hành Chuyên Biệt
Vị linh hướng không bao giờ được nói về những người ngài tháp tùng, không nói với hội đồng và cũng chẳng nói riêng với ai ngoài hội đồng, không được lên tiếng để kết án mà cũng chẳng được lên tiếng để bảo vệ: ngài phải im lặng khi hội đồng nói về người thụ hướng của mình. Chỉ vị Bề Trên nói lại cho chủng sinh ý kiến của hội đồng và đại diện cho hội đồng chủng viện bên cạnh Giám Mục. Một cách rõ ràng, sự bảo mật này là bảo đảm cho tự do nội tâm của chủng sinh. Nhưng vị linh hướng có thể nghe trong hội đồng những quan điểm khác quan điểm của ngài về người thụ hướng của ngài. Như thế, vị linh hướng có thể được thông tin về những yếu tố khác, nhờ đó ngài sẽ phân định tốt hơn phán đoán của ngài và chọn lựa sự giúp đỡ thích hợp mà ngài có thể mang lại cho người thụ hướng của ngài.
Toà ngoài sẽ hình thành phán quyết của mình về các chủng sinh từ sự hiểu biết trong việc tháp tùng hằng ngày của tiến trình đào tạo, bởi vì cuộc sống hàng ngày mạc khải trọn vẹn tất cả con người. Như thế, cả hai toà trong và toà ngoài không đối nghịch nhau, nhưng bổ túc cho nhau để phục vụ một công việc của Hội Thánh.
c. Khác Biệt
Rõ ràng vì có hai toà cùng trong một tiến trình phân định ơn gọi, nên luôn có khả năng là kết quả không đồng ý được với nhau.
Một đàng, có thể xảy ra là một người đã tự trình diện với Giáo Hội như một người đã được kêu gọi, nhưng anh lại nhận thấy rằng cảm thức được gọi của anh là sai lầm. Thế mà, vị giám đốc và hội đồng có thể đã đi tới quyết định rằng người này rất xứng đáng và có khả năng theo đuổi việc chuẩn bị chịu chức linh mục. Trong trường hợp này, vị giám đốc và hội đồng chỉ có thể chấp nhận sự chân thành trong nhận định mới của người đó, tin tưởng rằng Chúa sẽ sử dụng anh cách tốt lành cho lợi ích của Giáo Hội.
Trường hợp khác biệt thứ hai không dễ giải quyết. Đó là trường hợp khi vị giám đốc và hội đồng đều đồng ý rằng, trong thời gian này, không nên cho chủng sinh này tiếp tục ở trong chủng viện nữa, trong khi đó anh ta lại xác tín rằng anh được Chúa kêu gọi làm linh mục. Tiến trình phân định ơn gọi và những quyết định của chủng sinh này không thể phủ nhận. Tuy nhiên, căn bản của quyết định tòa ngoài phải được giải thích cho ứng sinh, để anh có thể cố gắng hiểu và chấp nhận quyết định đã được đưa ra ở tòa ngoài.
Tòa ngoài có thể đồng ý rằng chủng sinh này có một đặc tính, hay một thái độ có thể làm thiệt hại việc anh thực thi phận vụ với tư cách linh mục, nhưng có thể sửa chữa được. Trong trường hợp này, nên yêu cầu ứng sinh rời khỏi chủng viện và ra sống ở ngoài chủng viện cho tới khi vấn đề đã được sửa chữa. Như thế, cánh cửa chủng viện không hoàn toàn đóng lại đối với anh. Anh được khuyến khích tiếp tục tương quan linh hướng, ngõ hầu khám phá ra Chúa kêu gọi anh thế nào để phục vụ Hội Thánh Chúa và Dân Người.
Thông thường hơn, toà ngoài đạt tới một quyết định rằng người nọ quả thực không thích hợp để được chấp nhận là ứng sinh linh mục. Chắc chắn điều đó phải được giải thích cho anh cách tế nhị và tình cảm. Ở Việt Nam, quyết định rời khỏi chủng viện chịu ảnh hưởng sâu xa bởi gia đình và áp lực của xã hội, cũng như bởi cảm thức xấu hổ, ân nghĩa và tình bạn bè. Chủng viện nên hướng dẫn anh làm một chọn lựa đúng đắn và giúp họ vượt qua các khó khăn. Trong việc này, Giám Mục nên ủng hộ quyết định của chủng viện.337
F. Những Tác Nhân Đào Tạo
1. Cộng Đoàn Giáo Dục
“Việc đào tạo linh mục được hiệu quả nhất ở trong cộng đoàn, được hiểu như một mạng lưới hữu cơ của mối tương quan liên nhân vị.”338 Vì thế, chủng viện phải được quan niệm như một cộng đoàn giáo dục,339 nơi mà chủng sinh được hướng dẫn “không chỉ tới chức linh mục, song còn khám phá và sống đời sống của Chúa Giêsu.”340
Cộng đoàn giáo dục này gắn liền với việc thực thi tập thể trách nhiệm của các nhà đào tạo trước tiên. Nó cũng mời gọi các chủng sinh đảm nhận trách nhiệm hàng đầu của việc đào tạo chính họ, và cộng tác vào việc đào tạo các bạn của họ, nhờ đời sống chung của chủng viện.341 Yếu tố căn bản của việc đào tạo linh mục là kiến tạo bầu khí kiên định, trước sau như một, thích hợp cho việc phát triển tâm lý và thiêng liêng. Sự thật và tính đơn sơ trong mối tương quan dẫn đến việc chỉ bảo lẫn nhau, chấp nhận lẫn nhau, ý thức chung về lợi ích chung và niềm vui chung trong việc tìm kiếm và phục vụ Chúa.
Những nhóm nhỏ cống hiến nhiều cơ hội chia sẻ đức tin, kiểm điểm đời sống và kinh nghiệm cầu nguyện sẽ góp phần làm phát triển cộng đoàn giáo dục ấy. Cộng đoàn giáo dục này cũng mở ra với các cơ chế cộng đoàn của Giáo Hội địa phương, nơi mà các ứng sinh sẽ lãnh nhận được kinh nghiệm mục vụ phục vụ đoàn chiên Chúa. Những kinh nghiệm về Giáo Hội này lớn hơn kinh nghiệm mà cộng đoàn chủng viện cống hiến cho họ. Các kinh nghiệm ấy sẽ đào tạo ý thức mục vụ và tinh thần tông đồ của chủng sinh, đồng thời giúp họ khám phá ra cách cụ thể tính cấp bách của việc loan báo Tin Mừng, ý nghĩa và những đòi hỏi của cuộc đời họ, được trọn vẹn hiến dâng cho việc phục vụ Dân Chúa. Nhưng những kinh nghiệm ấy chỉ sinh hoa kết quả nhờ một suy tư thần học và tu đức được các nhà đào tạo tốt gợi lên và hướng dẫn.342
2. Chính Ứng Sinh343
Việc đào tạo sẽ mất đi hiệu quả của nó, nếu nó không bao hàm sự tham gia cá nhân của ứng sinh, nghĩa là sự tự đào tạo của anh. Chính vì thế, Đức Gioan Phaolo II đã nhắc nhở rằng chính ứng sinh là nhân tố cần thiết và không thể thay thế được trong việc đào tạo của chính anh: “Tự đào tạo là tối quan trọng trong tất cả mọi công cuộc đào tạo, kể cả đào tạo linh mục. Không ai có thể thay thế chúng ta trong sự tự do có trách nhiệm mà chúng ta có được như là những nhân vị độc đáo.”344
Vâng, tự đào tạo là yếu tố quyết định đưa tới thành công trong việc đào tạo thiêng liêng. Mặc dù Chúa Thánh Thần là tác nhân tuyệt hảo trong việc đào tạo này, ứng sinh phải hoàn toàn tự do đón nhận tác động định hình Ngài. Cũng thế, hoạt động của các nhà đào tạo khác nhau sẽ chỉ “trở nên thực sự và đầy đủ hiệu quả, nếu ứng sinh này cống hiến sự cộng tác chân thành và xác tín của chính anh vào công cuộc đào tạo này.”345
Quan niệm Á Châu “không thầy đố mầy làm nên” ngày này đã được thay đổi: nếu không có sự thực hành của trò thì những giáo điều và lý thuyết của thầy chỉ là những lời hoa mỹ thôi. Điều rất quan trọng là việc đào tạo phải cung cấp cho ứng sinh cách suy nghĩ mới, cách sống mới, cách hành động mới, cách yêu thương mới và cách làm chứng mới cho Tin Mừng. Nhưng điều còn quan trọng hơn nữa là việc tự đào tạo này phải đem sự hiểu biết hữu ích đó ra thực hiện. Sự cộng tác chặt chẽ giữa hai phía, đào tạo và tự đào tạo, là điều kiện tiên quyết cho mọi thành công, và dĩ nhiên với ơn Chúa nữa. Vì thế, Pastores Dabo Vobis đòi hỏi: “Các ứng sinh linh mục phải hết sức ý thức chuẩn bị chính mình để đón nhận ơn Chúa và đem ra thực hành, biết rằng Giáo Hội và thế giới đang rất cần đến họ.346
3. Các Nhà Đào Tạo347
a. Chúa Giêsu, Gương Mẫu Của Nhà Đào Tạo
Để đồng hành với chủng sinh và giúp họ trở nên linh mục đích thực, các nhà đào tạo phải là những người đầu tiên bước theo mẫu gương hoàn hảo là Chúa Giêsu, Đấng đã dạy dỗ với ví dụ cụ thể bằng cách rửa chân cho các môn đệ (x. Ga 13,12-15). Ngài yêu thương họ và đối xử với họ như bạn hữu. Ngài sống với họ và đồng hành với họ trên hành trình trưởng thành đức tin và thiêng liêng bằng tình yêu thương, kiên nhẫn, săn sóc, và sự tận tâm của Ngài. Ngài biết rõ họ từng người một: tính tình, phẩm chất và những điểm yếu của họ. Ngài bao dung trước sự yếu đuối, khuyết điểm, những tham vọng trần thế, cứng đầu cứng cổ, yếu lòng tin và chậm hiểu mầu nhiệm Nước Trời của họ, và Ngài kiên nhẫn chờ đợi sự giáo dục bổ túc của Chúa Thánh Thần cho họ (x. Ga 16,12). Ngài cầu nguyện cho họ và trao họ cho Cha trên trời gìn giữ và bảo vệ (x. Ga 17,15).
Vâng, không ai có thể cho điều mình không có. Để đào tạo chủng sinh trở thành linh mục, các nhà đào tạo phải luôn qui chiếu về Chúa Giêsu và trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu là mẫu gương vĩnh cửu của mọi linh mục, hôm qua, hôm nay và mãi mãi.348 Họ phải trở nên những chứng nhân đích thực của Chúa Giêsu, đôi khi cả chứng tá câm nín bằng cuộc sống. Những ai dấn thân vào công cuộc đào tạo, nhất là đào tạo thiêng liêng, phải được liên tục cập nhật và đào tạo. Sự hiện diện đồng hành và chứng tá của các nhà đào tạo phải được gia tăng vì lợi ích của chủng sinh. Các ngài nên tỏ lòng yêu thương hơn đối với họ, như các bậc cha mẹ vốn làm khi nuôi lớn con cái, trong vai trò cố vấn hay hướng dẫn vì sự phát triển toàn diện của họ.
b. Vai Trò và Sự Hiệp Nhất của Đội Ngũ Đào Tạo
Đội ngũ đào tạo phải thực hiện thực hành trách nhiệm tập thể, cùng với sự cộng tác của các ứng sinh, của hàng giáo sĩ giáo phận, và của các thành viên khác của cộng đoàn Kitô, vì sự phát triển toàn diện của các ứng sinh linh mục. Những Chỉ Dẫn Liên Quan Việc Chuẩn Bị Các Nhà Đào Tạo Chủng Viện quả quyết rằng việc chọn lựa và đào tạo các nhà giáo dục, ngay cả khi họ rất giỏi, là “không đủ, nếu họ không có khả năng thiết lập ‘đội ngũ giảng dạy’ thực sự và thích hợp, mà mọi thành viên đều hợp nhất tinh thần và cộng tác huynh đệ.”349 Họ phải cùng với các ứng sinh xây dựng một cộng đoàn giáo dục bằng việc chia sẻ đời sống và đối thoại chân thành.
Cộng đoàn giáo dục này cho phép sự đồng trách nhiệm, đối chất khi cần thiết, phân định và đánh giá tốt hơn các ơn gọi, qua việc tiếp xúc cá nhân, gương sáng và linh hướng đều đặn. Việc tham dự các cuộc họp của hội đồng chủng viện biểu lộ rõ nét trách nhiệm tập thể này.350 Tất cả các nhà đào tạo làm việc chung với nhau dưới sự lãnh đạo của vị giám đốc, bắt nhịp với những thực tại của Giáo Hội và của thế giới.
Các ngài phải đào sâu các nguyên tắc của đời sống thiêng liêng và sự hiểu biết tâm lý cần thiết cho vai trò hướng dẫn và cố vấn. Tự do thiêng liêng của ứng sinh là một mối quan tâm lớn hơn, được nhấn mạnh bởi một sự phân biệt rõ ràng về trách nhiệm giữa toà trong và toà ngoài. Sự hiệp nhất với Chúa Kitô là khuôn mẫu của việc thống nhất đời sống của các ngài và những khía cạnh đào tạo khác nhau (nhân bản, thiêng liêng, tri thức, cộng đoàn và mục vụ). Các ngài nên làm cho chính mình trở nên dễ dàng cho những ai đến với các ngài để xưng tội và linh hướng. Vai trò quan trọng nhất của các ngài là đào tạo nơi chủng sinh lòng quí trọng và yêu thích sự thật, óc phê bình thực sự với sự sáng suốt, quân bình và khiêm tốn.
Các ngài phải phát huy khả năng giảng dạy và cập nhật hoá kiến thức của mình bằng việc cải tiến phương pháp, cùng thực hiện những cập nhật cần thiết đối với những nhu cầu hiện tại của Giáo Hội, giữa một thế giới đang đổi thay nhanh chóng, trong sự trung thành với Mạc Khải và Huấn Quyền.
c. Cần Những Nhà Đào Tạo Có Phẩm Chất
Phẩm chất và đức tính của các nhà đạo tạo là hết sức quan trọng. Họ phải là những con người của đời sống cầu nguyện sâu xa, khiêm tốn và khôn ngoan. Họ cần “được tuyển chọn giữa những người ưu tú, được chuẩn bị kỹ lưỡng bởi một nền giáo lý vững chắc, một kinh nghiệm mục vụ thích hợp, được huấn luyện đặc biệt về thiêng liêng và sư phạm.”351
Đức Gioan Phaolô II đã ký thác cho các Giám Mục “trách nhiệm nặng nề đào tạo những người sẽ được giao phó nhiệm vụ giáo dục các linh mục tương lai.”352 Ngài còn căn dặn rằng “họ cần nhận được một đào tạo chuyên biệt chú trọng về linh đạo linh mục, nghệ thuật linh hướng, và những khía cạnh khác của nhiệm vụ khó khăn và tế nhị đang chờ đợi họ trong việc giáo dục các linh mục tương lai.”353
4. Vị Linh Hướng
a. Vai Trò Thiết Yếu của Chúa Thánh Thần
Chúa Thánh Thần luôn hoạt động trong Hội Thánh, trong thế giới và trong từng con người. Mỗi người phải để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn và nắn đúc con tim, tình cảm và đời sống nội tâm của mình ngõ hầu sống giống như Đức Giêsu Nagiaret đã sống: là sự kéo dài của Đức Giêsu trong lịch sử và hoàn toàn hiến mình cho Thiên Chúa như của lễ toàn thiêu.354 Sức mạnh của Chúa Thánh Thần luôn luôn “có đó để soi sáng, tăng sức và hoàn thiện sứ vụ của chúng ta.” 355
Đào tạo thiêng liêng là công việc của Chúa Thánh Thần và Ngài là vị linh hướng đích thực. Vị linh hướng chỉ là dụng cụ của Chúa Thánh Thần: vị linh hướng hướng dẫn chủng sinh, nhưng chính ngài cũng được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần và vị đồng hành thiêng liêng của ngài. Chỉ có Chúa Thánh Thần mới biết đầy đủ và có thể biến đổi một con người: “Bất cứ sự thay đổi đích thực và bền lâu nào cũng đều chỉ đến từ Chúa Thánh Thần, Đấng hoạt động trực tiếp trên dân chúng và trong mọi hoàn cảnh.”356 Ngài sẽ soi sáng cho chúng ta vào lúc thích hợp những gì phải nói và nói thế nào (x. Mt 10,19-20). Nhưng, “một thừa tác viên được hướng dẫn tốt của Chúa (họ có thể là giáo sĩ, tu sĩ hoặc giáo dân), sẽ hướng dẫn người khác cách hữu hiệu trong hành trình thiêng liêng.”357 Nếu vị linh hướng luôn luôn “ngoan ngoãn vâng theo những linh hứng của Chúa Thánh Thần,”358 người có thể làm việc cùng với Ngài: “Thánh Thần và chúng tôi” (Cv 15,28).
b. Vai Trò Quan Trọng của Vị Linh Hướng
Các vị linh hướng phải là những người có khả năng hiểu được hoạt động của Thánh Thần Thiên Chúa nơi những người thụ hướng và giúp họ “phân định các đường lối Chúa.”359 Họ phải là những chứng nhân bằng chính con người và toàn bộ đời sống đức tin - nhân bản của họ để người được đào tạo lắng nghe và tuân giữ.360 Họ phải khơi dậy lòng tín nhiệm nơi người thụ hướng bởi thái độ đón tiếp niềm nở và chân thành, đồng thời nuôi dưỡng một tinh thần tin cậy nhờ sự cẩn mật của họ, có thế thì những người thụ hướng mới có thể tự do nói lên những trăn trở riêng tư, đặc biệt trong lãnh vực giới tính.
Các vị linh hướng phải cập nhật các kỹ năng linh hướng, những hiểu biết về tâm sinh lý, khả năng tư vấn và các đề tài thích hợp khác để có thể nâng cao chuyên môn của mình: “những khám phá của khoa tâm lý học, những gợi ý từ y học hiện đại và những điều tra về xã hội học, được áp dụng vào bối cảnh nền tảng của con người, đều rất hữu ích.”361 Họ có thể rút ra được một chương trình linh hướng có hệ thống và dễ hiểu qua con đường trao đổi với các đồng nghiệp. Họ nên tham dự các khoá bồi dưỡng định kỳ dành cho các vị linh hướng, cả hai hạng, vừa huấn luyện các vị linh hướng mới, vừa cập nhật hoá cho các vị linh hướng cũ, nhờ đó khả năng của họ có thể tiến bộ liên tục hầu đáp ứng nhu cầu của người thụ hướng. Thật là lợi ích khi thỉnh thoảng có cuộc tĩnh tâm dành riêng cho các vị linh hướng thuộc các chủng viện khác nhau.362
c. Nguyên Tắc Khi Cần Thay Đổi Vị Linh Hướng
Có thể xảy ra trường hợp thiếu hoặc mất tín nhiệm, thì “việc đổi linh hướng là luôn có thể và đôi khi đáng ao ước nữa.”363 Chủng sinh có thể đề nghị trước. Đôi khi, vị linh hướng sẽ yêu cầu chủng sinh đi linh hướng với người khác, bởi vì ngài nghĩ rằng ngài sẽ không thể tiếp tục trách nhiệm nữa.”364
Vì lợi ích của người thụ hướng, những nguyên tắc sau đây giúp anh phân định xem có nên hay không tiếp tục gặp một vị linh hướng cá biệt. Anh thẳng thắn xem xét các động lực khiến anh muốn thay đổi vị linh hướng của anh: Có phải do mâu thuẫn cá nhân không? Có phải anh muốn thoát khỏi bị thách đố? Có phải anh đang phóng chiếu những đức tính tiêu cực như hách dịch, vô cảm, thiếu thông cảm và hiểu biết lên vị linh hướng của anh ? Có những mong đợi không thực tiễn chăng? Có phải vì vị linh hướng từ chối cung cấp thêm ảo tưởng của anh ? Anh cần tranh luận với vị linh hướng về những khó khăn mà anh đang trải nghiệm trong giao tế? Anh có tiếp tục nhận được ích lợi thiêng liêng từ việc hướng dẫn này không? Có vị linh hướng khác mà anh bị lôi cuốn chăng? Đâu là những lý do?
Người thụ hướng cần phải có đủ thời gian để suy nghĩ về toàn bộ vấn đề trước khi đưa ra một quyết định. Anh không nên vội vả, nhưng nên bàn hỏi vấn đề này với một người trung lập. Có phải đó là sự chấm dứt tự nhiên, vì sự hướng dẫn tìm kiếm đã được thực hiện? Liệu đây có phải là thời gian để thay đổi vì hoàn cảnh của người thụ hướng hay của vị linh hướng, hoặc của cả hai?: thay đổi sự bổ nhiệm, chuyển sang giai đoạn huấn luyện khác? Hay còn những việc khác xem ra gặp phải trên đường tương quan linh hướng như: thời gian, lòng tín nhiệm, hấp dẫn giới tính, đổ vở giá trị?365
5. Vị Giám Đốc và Hội Đồng
Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis khuyên Giám Mục bổ nhiệm vị giám đốc “sau khi tham khảo cẩn thận.”366 Như là trung tâm của chủng viện, vị giám đốc phải là mẫu mực đức tin và bác ái trong sứ vụ và đời sống linh mục, với một viễn ảnh rõ ràng về Giáo Hội của tương lai. Ngài phải được cập nhật cách triệt để và quen thuộc với những văn kiện của Giáo Hội liên quan tới việc đào tạo linh mục. Ngài cũng phải rõ ràng về khoa Giáo hội học của Giáo Hội và có khả năng xây dựng một đội ngũ đào tạo hiệp nhất và làm việc cho một viễn ảnh chung của chủng viện. Ngài phải vô tư, không thiên vị và có thể đưa ra những quyết định đúng đắn và công bằng.
Ngài cũng nên liên kêt với các vị giám đốc và các nhà đào tạo thuộc các chủng viện khác ở Việt Nam cũng như ở các nước Á châu, trong tinh thần của một cuộc trao đổi huynh đệ và hiệu quả. Ngài cần can đảm và thận trọng trong việc tuyển chọn các ứng sinh, lúc chiêu sinh cũng như trong thời gian đào tạo, nhấn mạnh đến chất lượng hơn số lượng. Ngài nên có một sự hiện diện hữu hiệu trong chủng viện. Sự chia sẻ đời sống hằng ngày trong chủng viện, tính đều đặn và gương sáng của ngài là hết sức quan trọng đối với chủng sinh. Ngài nên soạn thảo một chương trình cho các linh mục mới chịu chức trong vòng năm năm đầu tiên sau khi thụ phong, với sự chấp thuận và giúp đỡ của Giám Mục.367
6. Nhóm Nhỏ Các Bạn Đồng Môn
Ngày nay người ta nhấn mạnh nhiều đến tính năng động của nhóm đào tạo. Dưới Ban Giám Đốc, một Ban Đại Diện, được anh em bạn bầu lên, tham gia vào việc điều hành chủng viện. Cộng đoàn chủng viện được phân chia thành nhiều nhóm nhỏ, nhằm thăng tiến việc làm việc nhóm và đời sống cộng đoàn.368
Các nhóm nhỏ chủng sinh được hình thành theo các trình độ khác nhau hoặc theo năm đào tạo. Một người trong ban đào tạo được chỉ định làm linh hoạt viên của nhóm, để duy trì thế quân bình giữa đời sống cấp nhóm và đời sống cấp chủng viện. Phải nhắm đến cả hai, các cá nhân và nhóm, như một toàn thể, ngõ hầu bảo đảm được sự trưởng thành của cả hai, cá nhân và tập thể.
Đời sống trong nhóm gồm có những lúc cầu nguyện, gặp gỡ hàng tuần về một đề tài thuộc đời sống thiêng liêng (chia sẻ đức tin), những giờ giải trí, các hoạt động mục vụ, trách nhiệm phụng vụ và các dịch vụ hàng ngày.369 “Sự tương tác trong những nhóm như thế giúp phát triển sự tin tưởng lẫn nhau, truyền thông và chia sẻ, góp phần xây dựng một cộng đoàn đúng nghĩa.”370
Nhóm nhỏ này có thể trở thành một nhóm bạn thân có thể dễ dàng thực hành việc “chỉ bảo huynh đệ.”371 Thường người ta không dám sửa lỗi người khác, phần vì con người ai cũng yếu đuối và bất toàn, phần vì tế nhị hay sợ phản ứng tiêu cực từ phía người kia, hay ít nhất để tránh hiểu lầm nhau, mâu thuẫn và xung đột có thể có. Vậy, cách tốt hơn và dễ hơn là mọi người đồng ý thỏa thuận với nhau rằng “nếu một người trong nhóm thấy người khác có lỗi, thì người này sẽ nói với người đó về lỗi ấy.”
Trong bối cảnh cuộc gặp gỡ hàng tuần chia sẻ Phúc Âm và kiểm điểm đời sống, mỗi người có thể góp ý phản hồi cho người khác và giúp nhau tiến bộ hơn trong tiến trình đào tạo chủng viện và tự đào tạo, hy vọng tiến tới “tình huynh đệ bí tích” của chức linh mục (x.Tv 133, 1). Tiến trình này đòi hỏi phải có ý ngay lành, sự sẵn sàng để thay đổi, lòng can đảm, tình bác ái, và nhất là ơn Chúa.
Trong cấp độ đời sống nhóm này, mỗi người phải học biết chăm chú lắng nghe và cho người khác ý kiến phản hồi cách thích hợp. Mỗi người cũng phải học biết chấp nhận chính mình và chấp nhận người khác: càng biết nhìn nhận lỗi lầm, thiếu sót, giới hạn, yếu đuối và bất lực của mình, ta càng trở nên khiêm tốn hơn; càng biết chấp nhận những bất lợi đó của người khác, ta càng trở nên độ lượng và cảm thông hơn.
Đời sống nhóm giúp mỗi thành viên khám phá và phát triển những tài năng, tài năng tự nhiên và tài năng đạt được từ kinh nghiệm cuộc sống. Mọi người đều được Thiên Chúa kêu gọi và trao cho một số ân huệ để mở rộng Nước Thiên Chúa. Mỗi người có trách nhiệm tìm biết và phát triển những ân huệ ấy. Chẳng ai sở hữu được mọi ân huệ của Thiên Chúa, nhưng những ân huệ cần thiết cho sứ mạng luôn hiện diện trong cộng đoàn, và cộng đoàn là nơi cần thiết để nhận ra các ân huệ của mỗi thành viên (x. 1Cr 12-14).
Tuy nhiên, nhiều khi người ta phải chịu đựng những khó khăn và xung đột do ý niệm sai lầm hoặc đặt không đúng chỗ đức khiêm nhường, sợ hãi, ghen tị hay thèm muốn ân huệ của người khác (x. Gal 5,26). Nếu biết chú ý tới những khác biệt của tha nhân, đánh giá sự độc đáo của người khác với sự hiểu biết tích cực, coi những xung đột chỉ là một phần cần thiết trong tiến trình sáng tạo, chứ không phải là vấn đề, thì mọi sự sẽ được giải quyết, cộng đoàn sẽ tiến triển tốt đẹp,372 và sứ mạng loan báo Tin Mừng của Hội Thánh sẽ được hiệu quả hơn (Gal 6,2).
7. Môi Trường Thực Tập Mục Vụ
“Bổn phận nuôi dưỡng các ơn gọi thuộc về toàn thể cộng đồng kitô.”373 Do đó, “toàn thể Dân Chúa phải cầu nguyện và làm việc không mệt mõi cho các ơn gọi linh mục.”374 Giáo xứ nhà quê của chủng sinh hay giáo xứ mà chủng sinh được gửi tới giúp theo chương trình kỳ hè hoặc thực tập mục vụ là môi trường cần thiết và lý tưởng để mở rộng việc tự đào tạo của chủng sinh, cũng như việc đào tạo linh mục của Hội Thánh.
Trong suốt thời gian nghỉ ở môi trường này, chủng sinh tham gia vào đời sống và sứ vụ của các linh mục, được bao nhiêu tốt bấy nhiêu. Các ngài có cơ hội để biết, làm việc với và trở nên một phần trong việc đào tạo chủng sinh, mà một ngày kia họ sẽ hội nhập với các ngài trong sứ vụ linh mục. Môi trường này sẽ cung ứng cho chủng sinh nhiều cơ hội thuận lợi:
* Anh được kinh nghiệm và tham dự vào sứ vụ giáo xứ;
* Anh sẽ phát triển đời sống cầu nguyện của anh ngay trong bối cảnh đời sống giáo xứ, vì đó sẽ là cuộc sống thực sự của anh sau này;
* Anh sẽ học hỏi với cha xứ mà anh đang sống với ngài như người tập sự;
* Anh được làm quen với nhiều giáo xứ khác nhau trong Giáo phận;
* Anh đem những gì đã học và kinh nghiệm trong chủng viện vào hành động, trong những hoàn cảnh thực tế;
* Anh kinh nghiệm được cuộc sống nhà xứ.375
Chương trình đào tạo linh mục tại các chủng viện Việt Nam bao gồm một hoặc hai năm thực tập mục vụ tại giáo xứ. Việc thực tập mục vụ này tùy theo yêu cầu của chủng viện và nhu cầu của giáo phận.376 Ngoài ra, việc thực tập mục vụ này mang lại những lợi ích sau:
* Sự hiện diện hữu hình của các chủng sinh ở trong giáo xứ sẽ thăng tiến việc phát triển các ơn gọi;
* Qua việc phục vụ và cộng tác với giáo dân, chủng sinh có thể học được nơi họ rất nhiều điều: “học biết giáo dân chiến đấu và sống thế nào là một chuẩn bị tuyệt vời cho sứ vụ của anh sau này.”377
Sau sáu mươi sáu năm tuổi đời và ba mươi bốn năm làm linh mục, người viết nhận thấy rằng có sự tương tác rất hữu ích giữa giáo sĩ và giáo dân, và người được trợ giúp, nâng đỡ và đào luyện rất nhiều bởi các giáo dân được trao phó cho người chăm sóc mục vụ. Thật vậy, nếu chúng ta hỏi ý kiến giáo dân và lắng nghe ý kiến phản hồi của họ, chúng ta sẽ biết thực hiện làm sao các thay đổi cần thiết trong đời sống và sứ vụ của mình, đồng thời biết làm sao đáp ứng thực sự nhu cầu của giáo dân.” 378
Cha xứ (hoặc Văn phòng Ơn gọi của Giáo phận) sẽ gửi về chủng viện một bản nhận xét góp thêm vào hồ sơ đào tạo của chủng sinh. Đôi khi nếu các ngài chia sẽ với chủng sinh sự đánh giá của các ngài trước khi gửi về chủng viện sẽ có ích hơn. Vì nếu có gì sai hoặc hiểu lầm, chủng sinh có thể bàn cải hoặc giải thích để vấn đề được giải quyết, thỏa mãn ích lợi đào tạo trong chân lý và tình thương: “cây lau bị dập, Người không nỡ bẻ gãy, tim đèn leo lét khói, Người không nỡ tắt đi. Ngài sẽ làm cho công lý xuất hiện trong chân lý” (Is 42, 3).
G. Đánh Giá và Giới Thiệu Chịu Chức
Việc đào tạo linh mục là một tiến trình chuẩn bị chủng sinh tiến tới chức linh mục trong Hội Thánh Công giáo theo bốn chiều kích căn bản: nhân bản, thiêng liêng, tri thức và mục vụ. Việc đào tạo này nhằm giúp chủng sinh trưởng thành và cung cấp một đánh giá xác thực và hữu ích cho việc Giám Mục gọi chủng sinh ấy: “Tiếng gọi nội tâm của Chúa Thánh Thần cần được nhìn nhận như tiếng gọi đích thực bởi việc Giám Mục gọi.”379 Mục đích của việc nhận xét hàng năm là để giúp chủng sinh tự suy nghĩ và đánh giá, nhờ đó, trong cái nhìn xác thực về đời mình, anh có thể thấy những gì cần phải thay đổi và lên kế hoạch cụ thể để việc thay đổi ấy được hiệu quả.380
Đức Gioan Phaolô II đề cao: “Tính thích hợp của ứng sinh, trên hết, nhắm đến tinh thần cầu nguyện, sự thấm nhuần sâu xa giáo lý đức tin, khả năng sống tình huynh đệ và đặc sủng độc thân.”381 Vì thế, bên cạnh các cuộc họp thường xuyên của hội đồng chủng viện để nhận xét chủng sinh, Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu mong muốn rằng việc nhận xét này cũng bao gồm việc đánh giá của đương sự, các bạn đồng môn, các nhân viên và những người chủng sinh thi hành sứ vụ cho.382 Ở đây nhấn mạnh đến đánh giá hàng năm của hội đồng chủng viện và tự đánh giá hàng năm của chính chủng sinh.
1. Tiến Trình Đánh Giá Hàng Năm của Hội Đồng Chủng Viện
Thỉnh thoảng, Giám Mục hay đại diện của Ngài và các linh mục giáo phận khác dấn thân vào công cuộc đào tạo cũng được mời tham dự buổi họp nhận xét của hội đồng chủng viện. Mọi người phải tôn trọng chặt chẻ phận vụ của toà trong và toà ngoài. Các giá trị và kỹ năng được đánh giá dựa trên giáo huấn của Hội Thánh và nền đào tạo của chủng viện. Các lãnh vực khác nhau của việc đánh giá là:
* Trưởng thành nhân bản;
* Đời sống xã hội (cộng đoàn) và những kỹ năng tương tác liên nhân vị;
* Trưởng thành thiêng liêng được diễn tả bởi cam kết dấn thân cầu nguyện và sống thân phận môn đồ (discipleship);
* Sự sẵn sàng mục tử cho sứ vụ công cộng phục vụ Hội Thánh, hiệp thông với Đức Thánh Cha, Giám Mục Giáo phận, linh mục đoàn giáo phận, các thừa tác viên giáo dân trong Giáo hội và với các tín hữu Kitô;
* Hiểu biết sâu xa thần học và chấp nhận giáo huấn của Hội Thánh về đức tin và luân lý;
* Lòng yêu mến Lời Chúa và những dấu chỉ khả năng rao giảng Lời Chúa cho người khác;
* Lòng sùng kính Bí tích Thánh Thể và Đức Maria;
* Sẵn sàng nắm giữ đời sống độc thân, tính đơn sơ Tin Mừng, và đức ái mục tử;
* Sẵn sàng thi hành sứ vụ trong cuộc sống đang thay đổi của Giáo Hội và Thế Giới tại giáo phận mình, nhất là cảm thức liên đới với người nghèo, với nạn nhân của bất công và tôn trọng sự sống;
* Mối quan tâm tới Đại kết và Liên lạc liên tôn;
* Kỹ năng lãnh đạo, bao gồm sự sẵn sàng và các kỹ năng cần thiết cho hợp tác sứ vụ;
* Sẵn sàng chấp nhận trách nhiệm tiếp tục đào tạo linh mục.383
Như “những thừa tác viên hợp luật của Hội Thánh được trao trách nhiệm phán đoán tính thích hợp của các ứng sinh,”384 Hội đồng chủng viện bỏ phiếu trong buổi đánh giá cuối cùng. Phiếu bầu có nhiều loại: khẳng định, khẳng định có ghi chú, tiêu cực và loại. Loại “khẳng định có ghi chú” có nghĩa là còn có khiếm khuyết cần phải sửa chữa và trau dồi thêm. Nếu là phiếu loại thì nên giải thích.385 Nên nhắm giáo dục hơn là loại bỏ. Giáo dục nhắm biến đổi người xấu thành người tốt và người tốt thành người tốt hơn, phó thác cho quyền năng của ơn Chúa: Đối với con người thì không thể, nhưng với Thiên Chúa thì mọi sự đều có thể.
2. Tự Đánh Giá Hàng Năm của Chủng Sinh
Để đẩy xa hơn việc tự đào tạo, mỗi chủng sinh được yêu cầu trình bày một dự-án-một-năm-đời-sống-cá-nhân của mình, dưới sự hướng dẫn của người cố vấn/linh hướng. Dự án này xem xét các tiềm năng cụ thể của mỗi ứng sinh, cũng như những khuyến cáo của hội đồng đánh giá định kỳ của chủng viện. Đánh giá của hội đồng sẽ trở nên rõ ràng hơn, khi hội đồng có thể đánh giá nỗ lực đặc biệt và sự tiến bộ chủng sinh so với dự án sống này.
Căn cứ vào dự án sống liên quan đến việc đào tạo của chủng viện này, cuối mỗi năm học hàn lâm của thời kỳ đào tạo, chủng sinh sẽ viết có chọn lọc, chính xác, thực tế và ngắn gọn bản tự đánh giá của mình về thái độ ứng xử, về những điểm mạnh và về những lãnh vực đặc biệt có tiến bộ trong năm học vừa qua. Chủng sinh sẽ viết ít nhất ba lần bản tự đánh giá này vào ba thời điểm quan trọng trong tiến trình đào tạo:386
* Cuối phân khoa triết học;
* Sau năm thực tập mục vụ, còn được gọi là năm giúp xứ hay “năm thử”;
* Năm thần học cuối chuẩn bị thụ phong linh mục.387
3. Đánh Giá Chung Cuộc và Giới Thiệu Chịu Chức
Hội đồng chủng viện và tất cả các nhà đào tạo cố gắng hiểu biết đầy đủ về từng chủng sinh để giáo dục anh và giúp anh phát huy nỗ lực tự đào tạo của anh. Các ngài góp phần vào công việc chung của Giáo Hội, bằng việc đánh giá cuối cùng và giới thiệu ứng sinh lên chịu chức linh mục.
Bản đánh giá này nhấn mạnh những lãnh vực chủ yếu: trưởng thành thiêng liêng, kết quả các môn học, tiến bộ trong lãnh vực giáo dục và tương tác xã hội vối các bạn đồng môn, các nhà đào tạo và những người khác. “Khoa tâm lý giáo dục đương thời cung cấp nhiều kỹ thuật để đánh giá cách thích hợp hơn sự phát triển thực sự của sinh viên.”388
Vì Ấn toà Giải Tội và bí mật của việc linh hướng, vị linh hướng bị ràng buộc bởi toà trong và do đó, không được bàn cải khi đánh giá và nhận xét về tính thích hợp của chủng sinh trong việc chịu chức linh mục. Còn các vị khác đã tương tác làm việc với chủng sinh cách công cộng và ở toà ngoài nên bị đòi buộc tham dự tiến trình đánh giá này, vì đó là trách nhiệm đã được trao phó cho các ngài.389
Ngay từ đầu, chủng viện cần sự cộng tác của Giáo phận trong việc chuẩn bị chủng sinh đi vào tiến trình đào tạo chủng viện. Bây giờ, hội đồng chủng viện được chờ đợi, không những báo cáo cho Giám Mục biết thái độ ứng xử bên ngoài của chủng sinh (những gì anh nói và làm, và anh đạt được những đòi hỏi hàn lâm như thế nào), mà còn đánh giá anh xét như một ứng sinh và nộp cho Giám Mục đề nghị phong chức cho anh.
Nhưng trong cảm thức Giáo Hội, người ta không dừng lại ở đó. Chủng viện có thể báo cáo cho Giám Mục về các khuynh hướng đặc biệt, những khả năng và đức tính của ứng sinh nữa, ngõ hầu giúp Giám Mục “dùng” và bổ nhiệm anh phù hợp với các ân huệ Chúa ban cho anh và các nhu cầu của Hội Thánh.390
Chủng viện cũng có thể gợi ý và đề nghị Giám Mục cho phép một số ứng sinh đẩy xa việc học hơn nữa “hầu có thể cống hiến cho Giáo Hội những mục tử bén nhạy với các nhu cầu thiêng liêng hiện nay,”391 bởi vì không phải bất cứ linh mục nào cũng có thể trở thành nhà đào tạo, nhất là linh hướng. Đây là sự chuẩn bị các người kế vị thích hợp của Giáo Hội.392 Nếu việc đào tạo chủng sinh là ưu tiên hàng đầu của Hội Thánh, thì các Giám Mục nên chọn những linh mục ưu tú để được huấn luyện thành các nhà đào tạo tương lai trong chủng viện của các ngài.
4. Ứng Sinh Không Thích Hợp với Chức Linh Mục
Trong ơn kêu gọi tới chức linh mục của một ứng sinh, ta phải phân biệt hai yếu tố: Ước muốn và sự thích hợp. Lòng ước muốn thuộc bình diện tình cảm, trong khi sự thích hợp đòi hỏi phẩm chất và khả năng. Một thanh niên có thể rất muốn trở thành linh mục, nhưng anh lại không đủ phẩm chất và khả năng khiến anh có thể làm một linh mục xứng đáng. Vì thế, toà ngoài phải phán đoán tính thích hợp này, ngõ hầu đón nhận hay từ chối một ứng sinh. Còn ở toà trong, lòng ước muốn phải được xét xem có phù hợp với ước muốn của Chúa Thánh Thần không. Việc này giao phó ứng sinh cho hoạt động của Chúa Thánh Thần và sự tiếp nhận lắng nghe những gì được nói với anh ở toà ngoài. Toà ngoài cũng phải tìm biết những dấu chỉ của hoạt động của Chúa Thánh Thần trong đời sống của ứng sinh.
Ứng sinh nào bị phát hiện là không thích hợp, vì khiếm khuyết thể lý, quân bình tâm lý hay luân lý, thì nên nhanh chóng đưa anh ra khỏi con đường theo đuổi ơn gọi linh mục. Cả hai phía, các nhà đào tạo và ứng sinh, không được phép nuôi dưỡng những hy vọng hảo huyền và những ảo tưởng nguy hiểm. Cũng không ai được tự phụ rằng ơn thánh sẽ thay thế cho những khiếm khuyết tự nhiên.393
Tuy nhiên, người ta sẽ cho ứng sinh không thích hợp ra đi một cách tôn trọng, bằng cách nhấn mạnh về sự không thích hợp với chức linh mục hơn là những khiếm khuyết hay lỗi lầm. Không phải tất cả những ai vào chủng viện đều nhất thiết trở thành linh mục: “Nhiều người được gọi, nhưng ít người được chọn thôi.”394
Người ta phải gợi ý cho anh một thực hiện mới, trong niềm tin tưởng rằng Chúa sẽ dùng anh cách tốt đẹp cho lợi ích của Giáo Hội, đền đáp những gì anh đã lãnh nhận từ Chúa và Giáo Hội của Ngài, qua những năm tháng được đào tạo trong chủng viện. Các cựu chủng sinh nầy cũng là kho tàng của Giáo Hội, họ sẽ cộng tác vào công cuộc đào tạo các bạn đồng môn của họ cách này hay cách khác. Họ cũng góp phần cách tích cực và hữu hiệu vào đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội.395
GHI CHÚ
291 Xem Phụ lục A: Đánh Giá và Tự Đánh Giá.
292 Donald B. Cozzens, The Changing Face of the Priesthood : A Reflection on the Priest’ Crisis of Soul (Collêgville, Minnesota: The Liturgical Press, 2000), pp. 6-8
293 Orlando B. Quevedo, Gathered Around Jesus …, ibid.,pp. 197-198
294 St. Patrick’s Seminary, Program of Spiritual Formation (Menlo Park, California: St. Patrick’s Seminary, 1996) ,p.13
295 Judette A. Gallares, “Lectures on Perspectives for Spiritual Direction and Discernment”
296 Xem Phụ lục A: Bản Câu Hỏi Gây Ý Thức.
297 Cả tác giả và tác phẩm đều rất danh tiếng ở Việt Nam, và dân chúng nhớ thuộc lòng rất nhiều.
298 Jose Cristo Rey Paredes, “Lectures on Holy Spirit in Life and Mission of the Church and Consecrated Life”
299 “No effective Reform without Interior Renewal” (Vatican City, April 2, 2004), Zenith.org/english, truy cập ngày 3.11. 2004.
300 Vatican II, Dei Verbum: Dogmatic Constitution on Divine Revelation (November 18, 1965), số 21.
301 Compagnie des Prêtre de Saint-Sulpice, La Formation des futurs Prêtre à la Prière (Paris, Janvier 2003), p. 8
302 John Paull II, “Jesus Must Always Be the Center of Your Life” (Vatican, May 2, 2004), Zenit.org/english, truy cập ngày 25.0.2005.
303 La Formation des Futurs Prêtres à la Prière …, ibid., pp.9-10
304 Vatican II, Pastores Dabo Vobis … ibid., no. 82
305 La Formation des Furturs Prêtre à la Prière …, ibid.,pp.11-12
306 La Formation des Furturs Prêtre à la Prière …, ibid.,pp.13
307 Mgr E. Marcus, “La prière des prêtre: une dette de ministère,” in Bulletin de Saint-Sulpice 8 (1982), quoted by La Formation des Futurs Prêtres à la Prière p. 13
308 CCE, Spiritual Formation in Seminaries …, ibid., pp.10-12
309 Donald Attwater, A Catholic Dictionary (New York : The Macmillan Company, 1958), p. 462
310 CCE, Spiritual Formation in Seminaries …, ibid., p.13
311 St. Patrick’s Seminary, Program of Spiritual Formation … ibid., pp.21-22
312 John Paull II, Pastores Dabo Vobis … ibid., n.47
313 Paul VI, Evangelica Testification: Apostolic Exhortation on the Renewal of Religious Life, (June 29, 1971) số 46.
314 St. Patrick’s Seminary, Program of Spiritual Formation … ibid., pp.20-21
315 CCE, Spiritual Formation in Seminaries …, ibid., p.14
316 John Paull II, “Future Priests should be devoted to Silence and Prayer”(Vatican, March 18, 2002), Zenit.org/english, truy cập ngày 3.11. 2004
317 Spiritual Formation in Seminaries …, ibid., pp. 23-24
318 Gordon S. Wakefield, The Westminter Dictionary of Christian Spirituality (Quezon City: The Claretian Publications 1980), pp. 354-355
319 Vatican II, Presbyterorum Ordinis …, ibid., no. 4.
320 John Paull II, Pastores Dabo Vobis … ibid., n.26
321 CCE, Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis…,ibid..,no.52.
322 John Paul II, Ecclesia de Eucharistia, n.8 in Celebrating the Eucharist with Mary : A Guidebook (Metro Manila, Philippines: Assisi Development Foundation, Inc.,2005) p.56
323 “Eucharist is the Permanent Sign of God’s Love (Vatican City, April 12, 2001), Zenit.org/english, truy cập ngày 25.12.2004)
324 John Paul II, “Future Priests Should Be Devoted to Silence and Prayer” (Vatican, March 18, 2002), Zenit.org/english, truy cập ngày 3.11.2004)
325 Marcelino Fonts, “Lectures on Prayer in Asian Context”
326 Sung-Hae Kim, “The Threefold Dialogue and the Image of Woman: A Little Hope for the Priestly Formation from a Woman’s Perspective”, trong Linh Mục Thiên Niên Kỷ Mới, Đại Chủng Viện Huế (2000), trang 274.
327 St. Patrick’s Seminary, Program of Spiritual Formation …. Ibid., p.26
328 Marcelino Fonts, “Lectures on Prayer in Asian Context” …, ibid. “Tập thư giản bằng cách: Hít dưỡng khí vào thật sâu qua mũi cho căng đầy bụng, rồi chuyển qua huyệt đan điền, đẩy ra toàn thân tới tận chân tơ kẻ tóc / đường gân thớ thịt. Xong lại rút thán khí về qua huyệt đan điền để đẩy ra ngoài qua miệng. Trong khi đó để tâm trí kiểm soát đường đi của hơi thở. Còn ý nghĩ thì nghĩ rằng Chúa Thánh Thần đi vào để thánh hóa và rút bỏ những xấu xa quỉ quái khỏi lòng trí và thân xác ta. Khi hít vào, ta cũng có thể nghĩ là mình đón nhận tất cả những gì là tích cực; còn thở ra là loại bỏ tất cả những gì là tiêu cực từ bất cứ đâu mà đến. Với cách này, ta tập giữ tâm hồn ở trạng thái thanh thản, như kinh Yataka dạy ‘Con hãy giữ tâm như đất: trên đất, người ta đổ ra dầu ngọt dầu chua, dầu cay dầu đắng, dầu sạch dầu dơ, đất vẫn một mực thản nhiên, đất không giận, đất không thương’.” (Tác giả mới thêm vào).
329 Malen Java, “Lectures on Retreat Direction Seminar”
330 Cenacle Team, “Lectures on Group Spiritual Accompaniment”
331 Malen Java, “Lectures on Retreat Direction Seminar”…, ibid.
332 Marcelino Fonts, “Lectures on Prayer in Asian Context” …, ibid.
333 John Paul II, Pastores Dabo Vobis …. Ibid.,no. 47
334 Xem Phụ lục “Ứng sinh học trở thành vị linh hướng tốt.”
335 Bernard Pitaud, “L’Ecole Francaise et La Protection du Sujet: For Interne et For Externe dans les Seminaries”, Le Supplément, (Septembre 2002), no. 222.
336 St. Patrick’s Seminary, The Mentoring and Advising of Seminarians (Menlo Park, California: St.Patrick’s Seminary, 2001), pp.37-38
337 CBCP, The Philippine Program of Priestly Formation 1972 … ibid., p.48
338 National Conference of Catholic Bishops United States of America (NCCB), The Program of Priestly Formation (Washington DC: United States Catholic Conference, Third Edition, 1982), p.31
339 John Paul II, Pastores Dabo Vobis …. Ibid.,no.60,66
340 Honorato C. Castigador, “We’ve only Just Begun”, in Gathered around Jesus (Manila Philippines : University of Santo Tomas Central Seminary 2004), p.254.
341 Society of Priests of Saint-Sulpice, The Constitutions 1982 (Paris: The Society of Priests of Saint-Sulpice, 2003), art.14
342 Hội Xuân Bích, Đào Tạo Linh Mục: Nguồn Canh Tân Giáo Hội, Đại Chủng Viện Huế (1995), trang 198-199
343 CCE, Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis,…ibid, no. 39-43
344 John Paul II, Pastores Dabo Vobis …. Ibid.,no.69
345 Ibid.
346 John Paul II, Pastores Dabo Vobis …. Ibid.,no.82
347 CCE, RFIS,…ibid, no. 32-38
348 FABC, 7th Plenary Assembly, Workshop Discussion : Spiritual Direction, Emphasis on an Asian Approach, Paper No. 92d, Appendix II
349 CCE, Directives Concerning the Preparation of Seminary Educators (Rome, 1993), no. 11
350 Society of Priests of Saint-Sulpice, The Constitutions 1982…, ibid., arts. 10-26
351 Vatican II, Optatam Totius …, ibid.,no.4
352 John Paul II, Pastores Dabo Vobis …., ibid., no.66; CCE, Directives Concerning the Preparation of Seminary Educators …ibid.., no. 1
353 John Paul II, Ecclesia in Asia … ibid., no. 43
354 Domingo Moraleda, “Lectures on Theology of the Forms of Christian Life in The Church”
355 Synod of Bishop 1971, the Ministerial Priesthood (November 30, 1971).
356 Amelia Vasquez, “Fidelity in Vowed Life: Religious Life,” Religious Life Asia 5 (1-3,2003): 52
357 FABC, Seventh Plenary Assembly, Workshop Discussion : Spiritual Direction, Emphasis on an Asian Approach … ibid. no.2
358 “A Church That Has No Fear of the Future”…,ibid.no.2
359 CCE, Spiritual Formation in Seminaries … ibid., p.20
360 FABC, Seventh Plenary Assembly, Workshop Discussion : Spiritual Direction, Emphasis on an Asian Approach … ibid.
361 FABC, Seventh Plenary Assembly, Workshop Discussion : Spiritual Direction, Emphasis on an Asian Approach … ibid.
362 FABC, “Seminar for Rectors and Spiritual Directors of Asian Seminaries at Seoul, Korea 1999”, in For all Peoples of Asia 3 (Quezon : The Claretian Publiction, 2003), p. 25
363 Compagnie des Prêtres de Saint-Sulpice, Former des Prêtres Aujourd’hui (France: Compagnie des Prêtres de Saint-Sulpice, 1992
364 Ibid., p.33
365 Judette A. Gallares, “Lectures on Perspectives for Spiritual Direction and Discerment”
366 CCE, Spiritual Formation in Seminaries … ibid., no.28-30
367 Seminar for Rectors and Spiritual Directors of Asian Seminaries at Seoul, Korea 1999”, in For all Peoples of Asia 3 …,ibid.pp.24-25
368 “Seminary Formation Program should meet Needs of Churh, Society” (Nha Trang, October 19, 1999), Ucanews. Com/archives, truy cập ngày 3.11. 2004.
369 Đây là một sư phạm thực hành của hầu hết các Chủng viện Việt Nam.
370 NCCB, the Program of Priestly Formation … ibid., p.33
371 Matthew 18, 15-17; Luke 17,3; John 8,17; 1 Timothy 5,19; 2 Corinthians 13,1
372 Marites Maranan, “Lectures on Theology of Communion and the Religious Community”
373 Vatican II, Optatam Totius …, ibid., no.2
374 John Paul II, Pastores Dabo Vobis …., ibid., no.82
375 Charlotte Diocese, Norms for Seminarians : Program for Priesrly Formation (North Carolina, USA: Charlotte Diocese, 2004),pp.7-8
376 “Defficient Spiritual Formation among Seminarians Tackled at Fomators’ Meeting” …, ibid.
377 NCCB, the Program of Priestly Formation … ibid., p.60
378 “Seminary Formation Program should Meet Needs of Church and Society” … ibid.
379 John Paul II, Pastores Dabo Vobis …., ibid., no.65
380 St. Patrick Seminary, The Mentoring and Advising of Seminarians… ibid.,p.1
381 John Paul II, Pastores Dabo Vobis …., ibid., no.66
382 FABC, Seminary Formation for Priesthood in Asia : Workshop 4, Ucanews.com/fabc-papers/workshop-report, truy cập ngày 7.10. 2004
383 St. Patrick Seminary, The Mentoring and Advising of Seminarians… ibid.,p.1
384 Vatican II, Optatam Totius … ibid., no.2
385 NCCB, Program of Priestly Formation (Washington DC: United States Catholic Conference, 1982), p.101
386 Xem Phụ lục A: Tự đánh giá của chủng sinh.
387 St. Patrick’s Seminary, The Mentoring and advising of Seminarians…, ibid., pp. 25-35
388 NCCB, The Program of Priesrly Formation … ibid.,p.52
389 NCCB, The Program of Priesrly Formation … ibid.,, pp.37-38
390 CBCP, The Philippine Program of Priestly Formation 1972 … ibid.,p.88
391 CCE, Directives Concerning the Preparation of Seminary Educators … ibid., p.37
392 Vatican II, Presbyterum Ordinis … ibid.., no. 19
393 Paul VI, Sacerdotalis Caelibatus: Priestly Celibacy (June 24, 1967), no. 64.
394 Matthew 22: 14.395 “Ex-Seminarians Find Active Roles in Church Life” (Ho Chi Minh City, March 16, 1999), Ucanews.com/archives, truy cập ngày 7.10. 2004.
CHƯƠNG X
GIAI ĐOẠN HẬU CHỦNG VIỆN -
NĂM NĂM ĐẦU TIÊN TRONG SỨ VỤ LINH MỤC: NHỮNG MỐI TƯƠNG QUAN HÀI HOÀ, QUÂN BÌNH VÀ TRƯỞNG THÀNH TRONG ĐỜI SỐNG VÀ SỨ VỤ LINH MỤC.
Bằng việc giới thiệu ứng sinh lên chức linh mục, chủng viện đã hoàn tất giai đoạn đào tạo khởi đầu của mình, nhưng việc đào tạo linh mục không dừng lại ở đây. Việc đào tạo linh mục phải được tiếp tục, bằng việc đào tạo thường xuyên trong suốt cuộc đời của linh mục. Việc đào tạo chủng viện chỉ cho biết phải làm sao và sống thế nào. Nhưng bây giờ trong sứ vụ mục vụ, chính vị linh mục trẻ bắt đầu làm và sống đời linh mục và sứ vụ linh mục của mình. Càng sống đời linh mục càng trở nên linh mục tốt hơn và đích thực là linh mục.
Theo Pastores Dabo Vobis, bản chất và sứ vụ linh mục không thể được xác định, nếu không có những tương quan bắt nguồn từ Chúa Ba Ngôi, được kéo dài trong sự hiệp thông của Hội Thánh và của toàn thể nhân loại.396
Mục đích quan trọng nhất của việc đào tạo thiêng liêng thường xuyên trong suốt năm năm đầu tiên này là giúp vị tân linh mục chu toàn sứ vụ mình trong niềm vui và trung kiên hy vọng, ý thức, chấp nhận và vượt thắng những chiến đấu thiêng liêng, bằng việc thăng tiến các mối tương quan hài hòa, quân bình và trưởng thành với Chúa, với chính mình, với người khác và với thiên nhiên.
Những mối tương quan này đã được bắt đầu và nuôi dưỡng ngay từ tiến trình đào tạo khởi đầu ở trong chủng viện. Nếu ngày qua ngày, các tương quan này được điều chỉnh và phát triển tốt đẹp thì mọi sự sẽ “thuận buồm xuôi gió.” Nhìn thẳng vào những hoàn cảnh thực tế mà vị linh mục trẻ dấn thân vào như là đáp án thích hợp, người ta sẽ tin tưởng “canh tân và nuôi dưỡng chúng cách hữu hiệu hơn.”397 Vì lý do đó, Đức Gioan Phaolo II đã nói rằng việc đào tạo linh mục “đúng đắn và quân bình”398 là bảo đảm tốt nhất cho tương lai.

A. Đối Mặt Thực Tế và Những Nhu Cầu Căn Bản
1. Những Thực Tế Không Mong Đợi
Đức Tổng Giám Mục Orlando B. Quevedo (Philippines) nhận thấy rằng ngay sau khi thụ phong, các linh mục trẻ đã bỏ cầu nguyện, Sách Nhật Tụng, Nguyện Gẫm riêng, xét mình hàng ngày và lần chuỗi Mân côi. Ngài buồn rầu kết luận: “linh mục trẻ bỏ cầu nguyện và những sùng kính đạo đức là những cái đã giúp ngài giữ được ơn gọi sống động trong chủng viện, và cũng chính những thứ đó sẽ còn giúp ngài bền đỗ trong chức vụ linh mục.”399
Đâu là lý do khiến đời sống thiêng liêng của các linh mục trẻ sa sút và đưa đến hậu quả không đáng mong đợi như vậy? Một cách nào đó, điều này chứng tỏ họ còn yếu kém và không trưởng thành đủ trong một đời sống thiêng liêng sâu xa. Chúng ta không thể không biết đến tình cảnh này của con người và của Hội Thánh… và cũng không thể khám phá thấy hết được những hình thức khác nhau của cơn “khủng hoảng” mà các linh mục ngày nay đang phải chịu đựng: thiếu vâng lời và khó nghèo, lơ là việc linh hướng và xưng tội (luôn luôn sẵn đó nhưng họ không dùng), không ưu tiên cho đời sống cầu nguyện, thiếu tương quan thân mật với Giám mục và linh mục đoàn, thiếu liên đới và hợp tác làm việc chung, nhưng chỉ thích thi hành sứ vụ cách cá nhân, thiếu tín nhiệm và tin tưởng lẫn nhau, quá tự tin, kiêu căng, lười biếng, có vấn đề về đức trong sạch, thiếu trách nhiệm bản thân trong việc tự đào tạo và phát triển đời sống thiêng liêng.400
Ngoài ra, Bộ Giáo Sĩ cũng mô tả những yếu tố nản lòng này: “thói quen đơn điệu, căng thẳng thể xác vì quá nhiều việc, mệt mỏi tâm lý gây nên do đấu tranh chống lại hiểu lầm và định kiến.”401 Và Bộ đề nghị một giải pháp: “cần phải đưa ra vài lời khuyên cho một chương trình đào tạo thường xuyên thích hợp có thể giúp các linh mục sống ơn gọi của mình cách vui tươi và trách nhiệm.”402
2. Những Nhu Cầu Cơ Bản Và Thường Xuyên Của Hội Thánh
Đáp lại các vấn đề đó, các thẩm quyền Giáo Hội nhấn mạnh việc đào tạo thường xuyên. Thật vậy, Sứ Vụ và Đời Đống Linh Mục dành trọn chương III (các số từ 69-92) để nói về việc đào tạo thường xuyên này, như “một bổn phận và quyền lợi chính đáng của linh mục…. và của Hội Thánh”, phù hợp với “mục đích cơ bản của sự trưởng thành trong đời sống thiêng liêng,”403 mà “không ai có thể thay thế được linh mục trong việc canh chừng chính mình” (x. 1 Tm 4, 16).404
Trong khi đó Tông Huấn Pastores Dabo Vobis cũng dành trọn chương VI (các số 70-82) để nói về việc đào tạo thường xuyên này của linh mục, như “sự tiếp tục tự nhiên và tuyệt đối cần thiết của tiến trình xây dựng nhân cách của linh mục, vốn đã được khởi sự và phát triển từ trong chủng viện.”405
Còn Optatam Totius khuyến cáo rằng “việc đào tạo linh mục, nhất là trong bối cảnh của xã hội hiện đại, cần phải được tiếp tục và hoàn thiện hoá sau khi đã hoàn tất chương trình đào tạo trong chủng viện.”406
Ngoài ra, Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (chương XVII, số 100-101) mô tả việc đào tạo hậu chủng viện: “cách riêng trong những năm đầu tiên sau khi chịu chức …. để các linh mục mới ra trường có thể được trang bị tốt hơn, ngõ hầu họ có thể gánh vác và hoàn thiện các bổn phận của người tông đồ.407
Và Tông Huấn Ecclesia in Asia mở ra một hướng rộng lớn: “Để phục vụ Hội Thánh như ý Đức Kitô, các Giám mục và linh mục cần một đào tạo chắc chắn và thường xuyên, có thể cung ứng những cơ hội khả thể cho một cuộc canh tân thiêng liêng và mục vu.”408
Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu đã thực hiện lời khuyên này sớm nhất, qua cuộc hội thảo số 5 mang tựa đề “đào tạo tiếp tục cho các linh mục Á Châu.”409
Cuốn Gathered Around Jesus quan niệm rằng đó là một cuộc khủng hoảng về đời sống thiêng liêng và đưa ra một phương dược chữa trị, với ơn Chúa:
a. Ở Cấp Độ Cá Nhân
Kỷ luật tự giác và nỗ lực cá nhân, vào sâu trung tâm nhân cách con người, dành thời gian để xét mình, coi trọng đời sống cầu nguyện và dành giờ để chiêm ngắm, phân định rõ ràng căn tính của mình, ngay thẳng với chính mình, thành thật trong ơn gọi, giản dị trong cuộc sống, cầu nguyện và làm việc không ngừng.
b. Ở Cấp Độ Giáo Hội
Nhìn lại nơi chúng ta đã xuất phát, chọn những con người có tinh thần siêu nhiên làm ứng viên linh mục, tìm thứ linh đạo phù hợp với cá tính của mỗi người, linh đạo này nên thúc đẩy và mở ra với thế giới, tiếp tục đào tạo thiêng liêng và lớn lên nhờ một cuộc đào luyện thiêng liêng quân bình, các khía cạnh nhân bản và đào tạo thiêng liêng phải là một, thần học về đời sống độc thân, sự hiện diện của vai trò gương mẫu, linh đạo về hiệp thông, dấn thân vào cộng đoàn giáo xứ cầu nguyện, phân định cộng đoàn và chấp nhận, ý thức về hoàn cảnh và khả năng trực diện với chúng, hệ thống hổ trợ và tình huynh đệ bí tích, Giám mục phải thiết lập tương quan cá nhân với các linh mục của mình.410
3. Trách Nhiệm và Đóng Góp của Chủng Viện
Chủng viện không muốn bị kêu trách là “đem con bỏ chợ.” Chủng viện nên đồng hành với những người mới ra trường ít nhất là trong năm năm đầu tiên làm linh mục, với tiến trình này: “Dạy cho người ta làm, giúp người ta làm, để cho người ta làm, cuối cùng rút lui, nhiệm vụ đã hoàn tất.” Nhưng các nhà đào tạo của chủng viện phải cộng tác với Giám Mục và linh mục đoàn của ngài trong việc đào tạo thường xuyên, nhằm định hướng lại lối sống của hàng giáo sĩ, với một quân bình thiêng liêng và tâm lý vững chắc.411
Mặc dù việc đào tạo thường xuyên là sự nối tiếp việc đào tạo trong chủng viện, nhưng nó không phải là lặp lại những kiến thức đã học, mà nó mang một nội dung mới và phương pháp mới, vì đây được coi là một tiến trình áp dụng và cập nhật hoá và thay đổi.412 Trong khía cạnh thực hành, việc thực tập này nhằm mục đích giúp linh mục trẻ biết thực hành và suy nghĩ về kinh nghiệm của mình như là thừa tác viên bí tích, giảng dạy, khuyên răn và thăm viếng; ôn lại giáo lý với cách thức đặc biệt, nhấn mạnh các vấn đề luân lý và các trường hợp thuộc toà giải tội; nhìn thẳng vào và suy nghĩ về các kinh nghiệm mục vụ, sức khỏe và đời sống tình cảm, về giới tính và tâm lý: “Mọi yếu tố đều phải phù hợp với mục đích căn bản của sự trưởng thành trong đời sống thiêng liêng.”413
Thật vậy, khi còn là chủng sinh, họ học và biết rất rõ phải cử hành bí tích như thế nào, nhưng đó mới chỉ là lý thuyết; bây giờ là linh mục, họ cử hành chính những bí tích ấy với nội lực và kinh nghiệm của mình. Thật rất khác nhau, nên họ cần sự đồng hành của các nhà đào tạo giúp họ hội nhập và sống đời sống bí tích của họ, với đường lối cá nhân, tự do và ý thức, trong đời sống hiệp thông, yêu thương, cảm nhận và thái độ của Đức Kitô,414 theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Linh mục càng sống đời linh mục của mình thì càng trở nên linh mục đích thực.
Mới đây, Tổng trưởng Bộ Giáo sĩ, Đức Hồng Y Castrillon Hoyos mở một khoá tranh luận Thần Học Truyền Thông bàn về “Đào tạo thường xuyên cho giáo sĩ” và coi đây như một bổn phận và quyền lợi của Hội Thánh hoàn vũ, cũng như của mỗi linh mục. Đào tạo thường xuyên của linh mục là một lời mời gọi tiếp tục hoán cải và thánh hoá, một cuộc tái khám phá hàng ngày cái nhu cầu tuyệt đối của sự thánh thiện cá nhân của linh mục, cũng như nhu cầu thiết yếu của đời sống và sự trưởng thành của Dân Chúa, vì họ có quyền nhìn thấy và gặp được chính Đức Kitô nơi linh mục.415

B. Những Tương Quan và Trợ Giúp
1. Tương Quan Với Chính Mình
Trước hết, các linh mục mới phải luôn ý thức về căn tính của mình (tôi là ai?) trong mọi chiều kích của một đời sống quân bình và trưởng thành (nhân bản, thiêng liêng, giới tính và tâm lý). Họ phải cố gắng để luôn trung thành với lời cam kết và sứ vụ của mình, bởi vì “các linh mục sẽ đạt tới sự thánh thiện trong con đường riêng biệt của mình bằng cách thi thành sứ vụ của mình cách chân thành và không mệt mỏi trong Thần Khí của Đức Kitô,”416 đặc biệt là trong đời sống cầu nguyện: cầu nguyện thế nào thì sống thế ấy, và sống thế nào thì cầu nguyện như vậy. Hầu hết các linh mục rời bỏ chức linh mục đều là những vị đã bỏ đời sống cầu nguyện. Vì thế, Chúa Giêsu đã nhắc nhở “hãy tỉnh thức và cầu nguyện … tinh thần thì hăng hái nhưng bản tính nhân loại thì yếu đuối” (x. Mc 14, 38; Mt 26,41).
Họ có thể cảm thấy an ủi và chán nản trong cầu nguyện. Vì thế, họ phải ý thức rằng họ cầu nguyện không phải để thoả mãn những gì họ sẽ nhận được, nhưng để tìm gặp Chúa, mà Chúa thì đôi khi được thấy trong sự trần trụi và không ích kỷ. Không ai biết được lúc nào Chúa đến. Thái độ chờ đợi trong cầu nguyện phải là thái độ ý thức và tỉnh táo. Vì thế, Tân Ước đã nhiều lần nhắc nhở kiên trì trong cầu nguyện. Họ phải trung thành với thời gian mà chính họ đã ấn định cho việc cầu nguyện: luôn trung thành với lời cầu nguyện hằng ngày và kiên trì trong suốt thời gian cầu nguyện. Điều này dẫn đến một lời cầu nguyện sâu xa. Họ cũng nên kiên trì tìm gặp gỡ với Chúa ở bất cứ nơi nào và vào bất cứ lúc nào. Vị linh hướng vốn hiểu họ có thể giúp họ và trấn an họ những lúc khó khăn và hoang mang trong tương quan của họ với Chúa.417
2. Tương Quan Với Người Khác
a. Tương Quan với Giám Mục Bản Quyền
Trong vương quốc này của Thiên Chúa, người ta kể đến trước hết mối tương quan của linh mục với Giám Mục của mình.418 “Một cách bí tích, linh mục đi vào hiệp thông với Giám mục và các linh mục khác để phục vụ Dân Chúa.”419 Đức Gioan Phaolô II đã khuyên các Giám Mục Việt Nam hãy luôn gần gũi hơn với các linh mục, quan tâm tới đời sống hàng ngày của họ để nâng đỡ họ và đồng hành cùng họ, nhất là khi họ gặp thử thách vì thi hành sứ vụ; cung cấp cho họ một sự đào tạo thiêng liêng thích nghi với những thách đố trong việc truyền giáo mà họ phải đối diện.420 Chương trình đào tạo linh mục của Giáo Hội Philippines năm 1972 đưa ra đề nghị rằng các Giám mục nên đi bước trước trong cuộc đối thoại thân hữu và thường xuyên với các linh mục trẻ, để họ có thể cởi mở và chân thành bàn cải cách riêng tư, với sự hướng dẫn từ phụ của Giám Mục, về công việc, thành công và thất bại, kế hoạch và vấn đề, và về đời sống thiêng liêng của họ nữa.421
Với sự hiểu biết đầy yêu thương và sự trợ giúp từ phụ của Giám mục, linh mục sẽ đứng vững trong mọi hoàn cảnh, bởi vì mọi cuộc khủng hoảng đều đến từ cuộc khủng hoảng quyền bính. Thái độ của các linh mục đối với Giám Mục phải là hợp tác, vâng lời, tình bạn, và nhìn thấy nơi ngài một người cha thực sự và vâng phục ngài với tất cả kính trọng. Sự vâng lời càng đến từ con tim (không phải bởi quyền lực hay lý lẽ), thì mối tương quan giữa Giám mục và linh mục càng trở nên gần gũi và rồi mọi sự đều tốt đẹp.422
b. Tương Quan Giữa Linh Mục Với Nhau
Mối tương quan và đối thoại của một “tình huynh đệ bí tích”423 giữa các linh mục già và linh mục trẻ có thể đưa tới hiểu biết lẫn nhau và cùng nhau giải quyết các vấn đề và khó khăn trong sứ vụ linh mục của họ.424 Sắc lệnh về Sứ vụ và Đời sống linh mục đã mô tả rõ ràng: Các linh mục nhiều tuổi hãy đón nhận những linh mục trẻ như những người em thực sự và giúp đỡ họ trong những công tác và gánh nặng đầu tiên của sứ vụ linh mục; gắng hiểu tâm trạng của họ và theo dõi các dự tính của họ với thiện chí. Và các linh mục trẻ phải biết kính trọng tuổi tác và kinh nghiệm của các vị lớn tuổi; bàn hỏi với các ngài và sẵn lòng cộng tác với các ngài trong việc chăm sóc các linh hồn.425
Tình huynh đệ bí tích này còn “hơn cả tình yêu của phụ nữ” (hãy xem tình bạn của David và Gionathan trong 2 Sm 1,26) và tình huynh đệ ấy trở thành bảo đảm cho đời độc thân của mọi linh mục trong tất cả cuộc sống và sứ vụ của họ. “Ngọt ngào tốt đẹp biết bao, anh em được sống vui vầy bên nhau” (Tv 132, 1). Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1971 ước mong rằng các hiệp hội linh mục phải được cổ vũ và phát triển để cung ứng cho họ sự trợ giúp huynh đệ.426
c. Tương Quan Với Giáo Dân Nam Cũng Như Nữ
Theo sắc lệnh về Chức vụ và Đời sống linh mục, các linh mục phải nhớ rằng mọi người đã được rửa tội đều phải cùng nhau làm việc cho Nước Chúa, vì tất cả là thành viên của cùng một thân thể Đức Kitô. Các ngài phải nhìn nhận và thăng tiến phẩm giá và sứ vụ của giáo dân, sẵn lòng lắng nghe họ, coi trọng những ước mong của họ, nhìn nhận kinh nghiệm và chuyên môn của họ trong các lãnh vực khác nhau của hoạt động nhân loại, tin tưởng vào phận vụ của họ trong việc phục vụ Giáo Hội, để họ có đủ tự do và lãnh vực hoạt động, và cho họ cơ hội thích hợp gánh vác công việc theo sáng kiến của họ. Các linh mục cũng phải dẫn dắt giáo dân đi đến hiệp nhất, sự thật và công ích, hoà giải những khác biệt về tâm thức để không ai cảm thấy mình xa lạ ở trong cộng đoàn tín hữu.
Còn về phía mình, giáo dân phải nhận biết bổn phận đối với các linh mục của mình, và bằng chia sẽ ân cần, họ giúp các ngài bằng lời cầu nguyện và công việc, ngõ hầu các ngài có thể sẵn sàng vượt qua những khó khăn mà chu toàn sứ vụ cách hiệu quả hơn.427
d. Tương Quan Với Phụ Nữ: Trợ Lực Hay Là Vấn Đề Cho Cuộc Sống Và Sứ Vụ Của Linh Mục?
Theo sách Sáng Thế (St 2, 18-24) và theo quan niệm Á Đông về Âm-Dương,428 người nam và người nữ rất gắn bó nhau, hấp dẫn nhau và bổ túc cho nhau. Người nam không thể là một con người nếu không có người nữ và ngược lại. Điều này đã khởi sự ở trong gia đình và ngay từ thời niên thiếu: người nam và người nữ bổ túc cho nhau và sự sống, cả nhân bản và thiêng liêng, vẫn tiếp tục trải ra và phát triển.
Sự việc cũng như thế với các linh mục và phụ nữ, nữ tu hay nữ giáo dân. Trong những mối tương quan này, có nhiều phương diện của cuộc sống thật ý nghĩa và đẹp đẽ và có nhiều công việc thật tuyệt vời. Tuy nhiên, họ không luôn luôn là trợ lực, nhưng lắm khi cũng là vấn đề và sa lầy không lối thoát,429 cho một số linh mục.
Mọi thân xác đều mang giới tính. Quà tặng độc thân của linh mục có thể bị nguy hiểm, nhất là khi một người nam đơn độc ở với một người nữ đơn độc lâu giờ trong một nơi cửa khóa chặt, mà không có bất cứ khoảng cách nào, cùng với những biên giới cần thiết về thể lý, tâm lý và thiêng liêng. Và, vì một người đàn bà, một số linh mục đã từ bỏ thừa tác vụ, nhất là trong bối cảnh hiện nay của nền văn minh lấy cái tôi làm trọng tâm, vật chất, hưởng thụ, khoái lạc, phim con heo và nhục dục.
Vì thế, đời sống độc thân linh mục cần được bảo vệ cách ý thức bằng việc đặc biệt giữ cảnh giác cảm xúc và toàn bộ cách cư xử của mình, với ý thức rằng “chúng ta gìn giữ kho tàng ấy trong những chiếc bình sành” dễ vở (2 Cr 4,7). “Cách thực tế, một lối sống phù hợp với chức linh mục không thể được phát triển, nếu chủng sinh dấn thân vào một mối quan hệ độc hữu với một phụ nữ.”430
Đối diện với những vấn đề này, người ta được thúc đẩy thiết lập một mối tương quan trưởng thành, lành mạnh, hài hoà và quân bình giữa cả hai phái. Các chủng sinh tốt nghiệp có thể tự hỏi về quan niệm của mình đối với người khác phái, về cách quan hệ với phụ nữ và về những ảnh hưởng hổ tương của họ thế nào? Họ có mối quan hệ riêng biệt nào với một số phụ nữ hay với một số phụ nữ sống đời thánh hiến không? Đâu là nguyên nhân của mối quan hệ này? Có cảm nhận gì hay triệu chứng nào đáng nghi không ?
e. Tương Quan Với Các Nữ Tu: Phải Khôn Ngoan Và Tỉnh Thức
Đối với các nữ tu, kể cả các nữ giáo dân tình nguyện và tông đồ, linh mục phải giữ trong trí óc và tâm hồn sự lệ thuộc của họ và chính sự lệ thuộc của mình đối với Chúa, và “trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa” (x. Mc 12,17). Linh mục cũng phải tôn trọng các nữ tu vì họ là “những cộng tác viên - chứ không phải những thuộc hạ hay người giúp việc - luôn sống trong sự bổ túc, hài hoà và liên đới.”431
Nhưng, vì với lý tưởng chung là dâng hiến trọn vẹn đời sống cho Chúa và Dân Chúa như là những cộng tác viên, người ta có thể có mối tương quan thân mật, bằng sự cởi mở tâm sự cho nhau, bằng sự hiểu nhau và chia sẻ sứ vụ, những thành công cũng như những khó khăn, tin tưởng nhau, cảm thông với nhau, dịu dàng và ân cần chăm sóc. Chính từ sự thân mật này, một cảm nhận “yêu thương” có thể dễ dàng phát sinh và phát triển, rồi tình trạng có thể trở nên nguy hiểm hơn, với những hình thức được bộc lộ ra như muốn chiếm hữu, ghen tuông, và muốn độc quyền. Linh mục đừng quên lời khuyên của Chúa Giêsu (x. Mt 26,41; Mc 14,38): là những con người thánh hiến, nhưng họ vẫn không thôi là những con người với những yếu đuối nhân loại.
Các linh mục cũng phải ý thức rằng sự thân mật là nhu cầu của con người, nhưng sự thân mật trong đời sống độc thân không cần (và không được) được biểu lộ có tính cách phái tính và đồng hóa với hoạt động truyền sinh.
Sự thân mật độc thân có mức độ thích hợp của nó. Chính mức độ riêng biệt này cung ứng cho họ đủ tự do để yêu thương mọi người và không vượt qua các giới hạn của nó. Họ có thể khuôn đúc mối tương quan nam nữ của họ theo gương mẫu đời sống của Chúa Ba Ngôi và kêu xin Chúa ban can đảm để thăng tiến, vượt thắng và thánh hoá “tiếng gọi nhân loại” này, ngõ hầu giúp nhau sống và chu toàn những gì đã cam kết trong ơn gọi và sứ vụ của mỗi người.
Để dễ dàng thực hiện điều đó, họ phải biết tôn trọng nơi chốn, thời gian, khoảng cách và giới hạn cần thiết, về thể lý cũng như tâm lý, của các cuộc gặp gỡ. Họ phải rõ ràng và thành thật với chính mình, với người khác và với Thiên Chúa, bởi vì sự “hẹn hò” yêu thương thường được che giấu dưới những cớ hợp pháp và xứng đáng của các công tác và hoạt động mục vụ, nhưng “thực tế đó là những nghiêng chiều nguy hiểm của con tim.”432 Thật vậy, “bất cứ linh đạo đích thực nào cũng phải nghiêm khắc và mạnh mẻ, đòi hỏi thường xuyên cảnh giác và thức tỉnh.”433 Vì thế, mô hình đào tạo của ICLA với môi trường hổn hợp có thể là một chuyển tiếp tốt và thích hợp từ mô hình cũ tách biệt thế giới đàn ông và thế giới đàn bà, sang một nếp sống gần gủi, thân mật và tự nhiên như hiện nay.
Trong hoàn cảnh tế nhị này, sự hiện diện yêu thương và đời sống cộng đoàn sẽ mang lại sự trợ giúp cần thiết. Bởi tình bạn dâng hiến và nhiệt tình, mỗi người có thể là sự trợ giúp lớn lao cho người khác, trong việc soi sáng và khích lệ lẫn nhau, khi phải chịu đựng những hoàn cảnh nguy hại khác nhau, cũng như sự lây nhiễm một thứ tinh thần thế tục nào đó.434 Người ta cũng không được quên nhu cầu cầu nguyện, khổ chế, ăn chay và chiêm niệm: “Người ta không thể đi theo con đường khó nếu không có một thứ khổ chế đặc biệt.”435
Nhưng trên hết, mỗi người phải tin rằng tình yêu của Thiên Chúa lớn hơn tình yêu nhân loại (một tình yêu lớn hơn vượt thắng tình yêu nhỏ hơn và những hấp dẫn của nó); rằng chỉ có Thiên Chúa mới làm thoả mãn được con tim chúng ta và chúng ta thế nào thì Ngài yêu thương chúng ta thế ấy, và Ngài yêu thương chúng ta cho đến tận cùng; và rằng chúng ta đã “chọn phần tốt hơn.”436 Chúa luôn hiện diện trong cuộc đời chúng ta như là “người canh giữ”, như là “bóng mát” của cột mây ban ngày và cột lửa ban đêm để soi đường trong sa mạc, và như là “cánh tay uy quyền” của người bảo vệ.437
f. Tìm Những Con Đường Tương Quan Tốt
1) Linh Mục Trong Tương Quan Với Mẹ Và Chị Em Của Mình
Mối quan hệ đầu tiên và cơ bản nhất của linh mục với các phụ nữ phải kể cụ thể là mối quan hệ với chính mẹ và chị em của mình. Mẹ của ngài là người phụ nữ mà ngài đã nhận được sự sống, và nhờ mẹ mà ngài có được ơn kêu gọi. Sự dịu dàng và chăm sóc yêu thương của tình mẹ nâng đỡ và bảo vệ ngài, giúp ngài lớn lên trong đời sống nhân bản cũng như đời sống thiêng liêng. Mẹ và chị em luôn tiếp tục đồng hành với ngài, với tình yêu thương, cầu nguyện, với chăm sóc canh phòng nhưng đầy kính trọng. Một linh mục tốt luôn giữ mối liên hệ mật thiết với mẹ và các chị em mình, đặc biệt trong thời gian dao động tình cảm và bị cám dỗ.
2) Hãy đối xử với các Cụ Bà như là mẹ mình, và với các thiếu nữ như chị em mình với tấm lòng trong sạch” (1 Tm 5,2):
Từ thời niên thiếu về sau, linh mục nào cũng đều đã gặp gỡ các thiếu nữ và đàn bà, trong hàng xóm láng giềng hay tại trường phổ thông, và đại học. Để sống hồng ân quí giá là đời sống độc thân vì Nước Trời trong con đường trưởng thành và trong sáng, điều xem ra đặc biệt quan trọng là linh mục phải phát triển cách sâu xa trong chính mình, hình ảnh của các phụ nữ như mẹ và chị em mình, với cùng một lòng yêu thương và kính trọng như đối với mẹ và chị em mình.
Trong thời đại hôm nay, linh mục phải biết “khám phá ra phẩm giá và ơn gọi của phụ nữ trong Giáo Hội và trong thế giới.”438 Sự thăng tiến này làm cho người nam và người nữ cảm thấy bình đẳng và biết tôn trọng nhau trong mọi khía cạnh. Nhưng, Đức Phaolô VI cũng nhắc Dân Chúa trách nhiệm của họ là cầu nguyện và chân thành trợ giúp các linh mục vượt qua mọi nỗi khó khăn, tận tình yêu thương các ngài với tình con thảo và sẵn sàng cộng tác với các ngài, với kính trọng và tế nhị dè giữ, khích lệ và an ủi, vì các ngài là những người hoàn toàn tận hiến cho Chúa Kitô và Giáo Hội.439
3) Nhìn Vào Cách Ứng Xử Của Chúa Giêsu Và Mối Tương Quan Hài Hoà Của Ngài Với Phụ Nữ
Phúc Âm cho chúng ta biết rằng thái độ ứng xử của Chúa Giêsu mang lại tự do và hòa điệu giữa Ngài và các phụ nữ. Chúng ta hãy xem vài khuôn mặt chính:
* Mẹ Maria, người mà Ngài đã tỏ lòng yêu thương của một người con và hết lòng kính trọng vâng phục; và Mẹ đã trở nên bản đối chiếu mật thiết của Ngài trong việc lắng nghe và thực thi ý Chúa;
* Mattha và Maria ở Bethania nơi mà Chúa thường ghé qua trong cuộc hành trình truyền giáo; và Ngài đã trở nên rất gần gũi với họ;
* Người phụ nữ xứ Samaria, được hoán cải và đổi mới, đã giới thiệu Chúa Giêsu cho dân chúng vốn không biết đến căn tính đích thực của Ngài;
* Maria Madalena, người được cứu sống và hoàn toàn biến đổi nhờ Chúa Giêsu; cô đã thấy Chúa Phục Sinh và nhận lãnh trực tiếp từ Ngài sứ vụ loan báo sự sống lại;
* Người phụ nữ vô danh mà Chúa đã dạy cho biết hạnh phúc lớn lao là lắng nghe và thực hành lời Chúa;
* Các con gái thành Giêrusalem đã theo Chúa trên con đường thánh giá.
Linh mục cần học từ Chúa Giêsu, là Thầy và Chủ của mình, cách thức quan hệ và ứng xử thế nào cho đúng mực với các phụ nữ.
3. Tương Quan Với Thiên Nhiên
Trong thời đạo đức sinh học của chúng ta hôm nay,440 linh mục cần thiết lập một mối tương quan lành mạnh với toàn thể thế giới được tạo thành, nơi mà Chúa Thánh Thần hằng hoạt động. “Thiên Chúa ở trong tất cả” là lối hiểu nền tảng của mối tương quan giữa Thiên Chúa và thụ tạo:441 Thiên Chúa không ở ngoài thụ tạo và Ngài tiếp tục sáng tạo, canh tân tạo vật của Ngài cho đến kiện toàn viên mãn theo kế hoạch yêu thương của Ngài (2 Cr 5,19; 1 Cr 8,6; Eph 1,3-14; Cl 1,15-29; Ga 1,1-3; Kh 21,5), và cứu chuộc nó (Rm 8,19). Chúng ta được kêu gọi tham dự vào công trình sáng tạo này của Thiên Chúa (St 1, 28) như một trách nhiệm tôn giáo. Thật vậy, đời sống thiêng liêng là toàn thể cuộc sống được sống trong Thần Khí, nên khi chăm sóc thụ tạo, chúng ta cũng làm cho trách nhiệm này hoà nhập vào chính đời sống thiêng liêng của chúng ta.
Để chu toàn đời sống và sứ vụ linh mục của mình, linh mục phải nhìn vào đời sống và giáo huấn của Chúa Giêsu liên quan tới tạo vật: hạt giống, hoa cỏ, chim trời, cá biển, cây nho, vườn tược, cánh đồng, mùa gặt, sa mạc, núi non, v.v.… Chúa Giêsu được Thần Khí hướng dẫn và Ngài thường ra đi vào sáng sớm tinh sương hay muộn màng khi trời đã tối, ngay cả giữa đêm khuya thanh vắng, một mình, vào sa mạc hay lên núi, ở đó sứ mạng và sự hiệp thông thân mật của Ngài với Chúa Cha được thử thách, khẳng định và củng cố (x. Mc 6,31).
Linh mục nên tìm thư giãn trong các môi trường thiên nhiên, để nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng và gia tăng hiệp thông thân mật với Thiên Chúa, bằng cách để cho trí óc và con tim ngưỡng mộ và thưởng thức vẻ đẹp của tạo vật. Ngài có thể dành thời gian để suy ngắm và cầu nguyện ngay trên bờ biển lúc rạng đông lên hay khi hoàng hôn xuống, dưới ánh trăng sao dịu mát ban đêm giữa cánh đồng bao la bát ngát hay trong rừng sâu giữa mùa hè …. Ngài có thể lắng nghe tiếng sóng vỗ của đại dương, tiếng reo của suối, của cây cối, của chim chóc, của hoa cỏ …. như là nghe thấy Chúa Thánh Thần442 nói trong trí khôn, trong con tim và trong linh hồn vậy.
Ngài sẽ cảm nhận rõ sự hiện diện thân tình của Thiên Chúa nơi thiên nhiên, đồng thời ngài cảm nhận được sự cao cả của Chúa và sự thấp hèn của mình. Ngài sẽ học thực hành sống khiêm nhường trong tương quan với Thiên Chúa, với tha nhân và với tạo thành. Ngài cũng thực hành thư giãn thân thể nhờ nhịp độ của hơi thở: Khi hít vào, ngài tưởng tượng rằng năng lực của Chúa Thánh Thần đang chuyển vào trong mình ngài để chữa lành, thánh hoá và tăng thêm sức mạnh, và trong khi thở ra lại tưởng tượng rằng Chúa Thánh Thần đang đẩy những điều xấu ra khỏi cuộc sống mình. Một tinh thần lành mạnh trong một thân thể tráng kiện. Nếu chúng ta biết vun trồng và bảo vệ thiên nhiên, thì thiên nhiên sẽ bảo vệ và tăng sức lực cho chúng ta.443
C. Tương Quan Với Thiên Chúa và Sự Trợ Giúp
1. Chúa Giêsu Nadarét, Đường Tới Chúa Cha
Nhiệm vụ cốt yếu của đời sống và sứ vụ linh mục là phải trở nên hoàn toàn đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu, là con đường dẫn tới Chúa Cha, điểm đến cuối cùng và vĩnh cửu của cuộc lữ hành trần thế của mọi người: “Nguyện danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.” Với tinh thần đức tin, ta cảm thấy và nhận biết sự hiện diện yêu thương của Thiên Chúa ở khắp mọi nơi; đồng thời tiếp tục sống sự hiệp thông thân mật với Chúa Ba Ngôi, được mô tả là Sự Sống, Sự Thật và Tình Yêu trong cả hai tiến trình “hướng nội” và “hướng ngoại” (ad intra – ad extra), bởi vì Chúa muốn chia sẻ sự sung mãn của sự sống, chân lý và tình yêu của Ngài cho mọi người. Nếu linh mục đầy Chúa, ngài sẽ là tông đồ đích thực của việc Tân Phúc Âm hóa, bởi vì không ai có thể cho người khác cái mà mình không có. 444
Trong đời sống độc thân của mình, linh mục cảm nhận sự cô đơn và lắm khi cô đơn thực sự, và đôi khi sự cô đơn đè nặng trên con người của ngài. Sự nghi ngờ, đố kỵ, ghen ghét hay thiếu thông cảm từ phía anh em linh mục đồng nghiệp của ngài (kể cả từ Giám Mục) có thể làm gia trọng nỗi thất vọng và cô đơn.445
Trong trường hợp này, mối tương quan mật thiết với Chúa Giêsu Nagiaret sẽ là phương dược chữa lành tuyệt vời và vạn năng cho ngài: “Ta luôn ở cùng con.” Quả thật, Chúa Giêsu đi trước chúng ta đến cùng Chúa Cha và Ngài mời gọi chúng ta đi theo Ngài.” Sự cô đơn của linh mục không phải là sự trống rỗng và ngài cũng không cô độc vì Đấng Cứu Thế luôn ở với ngài. Chúa Giêsu cũng vậy, trong những giờ phút bi thảm nhất của cuộc thương khó, Ngài đã cô đơn và bị bỏ rơi, vì Ngài luôn sống hiệp thông mật thiết với Chúa Cha và luôn tìm theo ý Chúa Cha.
Linh mục cũng phải ý thức chia sẻ kinh nghiệm bi thảm của Đức Kitô, Đấng đã mở ra cho ngài những điều bí ẩn thâm sâu nhất của nỗi buồn và niềm vui. Là người môn đệ, linh mục không thể lớn hơn Thầy mình, là Đấng đã tuyển chọn và sai ngài đi được. Trong tình thân mật và ân sủng của Chúa, linh mục sẽ tìm được sức mạnh cần thiết của Thần Khí để đẩy lui những ưu phiền và chiến thắng sự ngã lòng, tin tưởng Chúa Giêsu đang hiện diện: “Lạy Chúa, xin hãy ở lại với chúng con vì trời đã về chiều” (Lc 24,29).
2. Thánh Thể, Chúa Giêsu Lương Thực Hiện Diện
Bí Tích Thánh Thể là “Nguồn suối và tột đỉnh của đời sống và sứ vụ của Hội Thánh.”446 Vì thế, Thánh Thể phải là trung tâm điểm đời sống và sứ vụ của linh mục, bởi vì có một mối tương quan rất gẫn gũi giữa việc cử hành Thánh Thể và việc rao giảng Đức Kitô.447 Theo những gì Chúa Giêsu đã nói và đã làm (Lc 22, 14-20) trong bữa Tiệc Ly, khi Ngài thiết lập Bí tích Thánh Thể để linh mục tái hiện và cử hành nhân danh và bằng chính con người Chúa Kitô, đời sống thiêng liêng của linh mục có thể lớn lên dần dần và dẫn đưa ngài tới độ “trở nên và sống như một Kitô Khác trong mọi hoàn cảnh sống của mình.”448 Và “các sinh hoạt của đời sống hàng ngày của ngài sẽ thực sự mang ý nghĩa và chiều kích Thánh Thể.”449
Trước hết, một việc xét mình tốt450 (1 Cr 11,27-29) sẽ giúp linh mục ý thức rằng ngài bất xứng và phải cậy dựa vào sự trợ giúp của Thiên Chúa và cần được Giáo Hội bổ khuyết cho (“Ecclesia supplet”). Điều này giúp ngài sống đầy đủ chiều kích Hội Thánh, trong cộng tác và hiệp thông với mọi thành phần của Hội Thánh, là Thân Thể Đức Kitô.451 Thiên Chúa tỏ lộ mầu nhiệm ý định của Ngài trong phụng vụ Lời Chúa mà linh mục phải biết liên kết với các thực tại của cuộc sống, ngõ hầu được sống và biến đổi bởi chính Lời ấy. Ngài phải công bố Lời Chúa và Thánh Ý Chúa mà ngài đã tin và đang sống. Nhờ đó, tín hữu cũng được thúc đẩy suy gẫm và hành động cách thích đáng, đồng thời được biến đổi và hoán cải.
Chúa Giêsu tự nguyện nộp mình và chấp nhận cái chết. Linh mục cũng nhớ rằng mình đã tự nguyện nhận lấy quà tặng quí giá là chức linh mục, trong niềm hăng say, hạnh phúc và biết ơn. Và hiện nay ngài sẵn sàng thưa “xin vâng” theo thánh ý Chúa, đôi khi chậm rãi, nhưng với ý thức và bình an.
Chúa Giêsu bẻ bánh và chúc phúc cho bánh. Linh mục phải nghĩ rằng Chúa Giêsu cũng cầm lấy ngài và chúc phúc cho ngài, khi Chúa kêu gọi và tuyển chọn ngài giữa nhiều người khác tốt hơn ngài. Linh mục phải tạ ơn Chúa và có lẽ phải hét lên vui mừng và hạnh phúc, vì tình yêu vô điều kiện Chúa dành cho ngài và vì may mắn của ngài. Ước gì linh mục không bao giờ sợ bị cầm lấy và chúc phúc, bởi Chúa và bởi đoàn chiên được trao phó cho ngài chăm sóc mục vụ, kể cả qua những gánh nặng, những khó khăn trong đời sống và sứ vụ linh mục của mình.452
Chúa Giêsu bẻ bánh trao cho các môn đệ ăn: Để luôn trung thành giữ lời cam kết với Chúa và với Hội Thánh, đôi khi linh mục cảm thấy đời sống và con tim bị bẻ ra vì hiểu lầm và đau khổ, vì sự cô đơn và những chiến đấu nội tâm chống lại những ước muốn nhân loại và các cơn cám dỗ: thân xác ngài trở nên một thân xác Thánh Thể (bị bẻ ra và trao cho người ta ăn) như thân xác Chúa Giêsu vậy. Nhưng ngài hiểu ý nghĩa của đời sống bị bẻ ra vì Thiên Chúa và vì tha nhân. Như tấm bánh bị bẻ ra, ngài phải được trao ban và bị ăn bởi Dân Chúa, đoàn chiên của ngài. Ý thức rằng ngài không dám tự nộp mình cho đến chết như Chúa Giêsu, ngài sẵn sàng hiến tặng thời giờ, sức khỏe, ước muốn, hạnh phúc, niềm vui, cả những đau đớn và buồn phiền …. Tất cả những thứ đó cũng là cuộc sống và là chính con người của ngài.
Máu Chúa Giêsu đổ ra vì mọi người. Máu các thánh tử đạo đổ ra vì Chúa và vì Nước Trời chỉ có một lần thôi. Máu của linh mục đổ ra cách này hay cách khác, mỗi ngày, từng giọt một, qua trách nhiệm và bổn phận của mình. Như Thánh Phaolô, mỗi ngày, ngài hoàn tất nơi thân xác mình cuộc khổ nạn của Đức Kitô vì phần rỗi nhân loại. Bánh và rượu dâng lên sẽ được sức mạnh của Chúa biến thành Mình và Máu Chúa Kitô. Nếu linh mục biết dâng chính mình, những cảm nghĩ và tình yêu, những vấn đề, những băn khoăn lo lắng và hạnh phúc …. thì sức mạnh của Chúa cũng sẽ biến đổi chúng thành những gì tốt đẹp hơn. Đặc biệt, nếu ngài dâng những khuyết điểm và tội lỗi, Chúa sẽ thứ tha và thánh hoá ngài, bởi vì chẳng có tội gì quá nặng đến đỗi Chúa không thể tha thứ được!
Trong việc cử hành này, linh mục cũng được mời gọi để sống và làm chứng cho sự hiệp nhất của Hội Thánh. Sự hiệp nhất này là nguồn mạch và bằng chứng hữu hiệu cho sứ vụ loan báo Tin Mừng của Hội Thánh.453
Cuối cùng, nhờ việc cử hành thánh lễ mỗi ngày, linh mục sẽ “hiểu hơn sức mạnh biến đổi của Bí tích Thánh Thể và tìm thấy nơi mầu nhiệm này sự can đảm và nguồn sức mạnh đi theo Chúa Giêsu và phục vụ Ngài nơi tha nhân.”454 Ngài sẽ kín múc dồi dào nguồn sức mạnh này từ Bí tích Thánh Thể, được cử hành trong thánh lễ mỗi ngày và được thờ phượng nơi Nhà Chầu mỗi khi đến viếng Thánh Thể,455 như chính Chúa Giêsu mời gọi “hãy đến với Ta, hỡi những ai đang vất vả và gánh nặng, Ta sẽ bổ sức cho các ngươi” (Mt 11,28).
Chúa Giêsu Thánh Thể sẽ nạp lại năng lượng và tăng thêm nhiệt huyết tông đồ cho linh mục, bằng việc tiếp tục kích hoạt ngày sống và đổ đầy ngài với niềm hy vọng vững chắc.456 “Bí tích Thánh Thể là dấu chỉ thường hằng của tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu đỡ nâng hành trình của chúng ta tiến về hiệp thông trọn vẹn với Chúa Cha, qua Chúa Con, trong Chúa Thánh Thần. Đây là thứ tình yêu vượt thắng trái tim con người.” Đó cũng là lý do tại sao Đức Gioan Phaolô II đã mở ra “Năm Thánh Thể” với ước mong rằng Hội Thánh “khởi đầu lại từ Chúa Kitô.”457 Ngài chia sẻ với cảm xúc sâu xa chứng tá đức tin của chính ngài nơi Bí Tích Thánh Thể như là phương tiện đồng hành và tăng sức mạnh cho chúng ta.458
3. Mẹ Chúa Giêsu, Mẹ của Linh Mục459
Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ Đấng Cứu Thế. Mẹ hướng dẫn chúng ta tới Chúa Giêsu, Đấng đưa chúng ta đến với Chúa Cha.460 Mẹ chỉ cho chúng ta con đường hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa, bởi vì mẹ là người phụ nữ được Thiên Chúa tuyển chọn để thực hiện chương trình cứu độ của Ngài với tư cách là người đồng tham dự vào những biến cố tột đỉnh trong lịch sử cứu độ.
Mẹ cũng được kêu cầu như Mẹ của Hội Thánh và Mẹ của linh mục theo một đường lối đặc biệt, khi trên thập giá, vào lúc tột đỉnh của sứ mạng cứu độ nhân loại, Chúa Giêsu đã trao phó Mẹ mình cho Gioan và ký thác Gioan cho Mẹ (Ga 19, 26-27): “Chúng ta cũng hãy đón nhận Đức Maria như Mẹ vào trong nhà nội tâm của chức linh mục của chúng ta.”461 Được sự che chở và hướng dẫn từ mẫu của Mẹ nâng đỡ và tăng sức mạnh, linh mục có thể nhìn thấy mọi mối tương quan và các giai đoạn đời sống và sứ vụ linh mục của mình, bằng đôi mắt mới, bằng trái tim và trí não mới, và luôn bước đi trên con đường thánh thiện.462
Linh mục cần tăng cường lòng sùng kính Đức Mẹ. Sự hiện diện từ mẫu của Mẹ luôn là sự nâng đỡ cho ngài. Trái tim Đức Maria, vừa của người nữ trinh vừa của người mẹ, đã luôn theo sát Đức Giêsu Con Mẹ, bây giờ vẫn tiếp tục đồng hành cùng linh mục, một Kitô khác.
Ngay từ lúc khởi đầu sứ vụ, Đức Gioan Phaolô II đã trao phó mỗi linh mục cho Đức Mẹ và mong muốn rằng mọi linh mục đều trao phó chính mình cho Đức Mẹ và hướng về Mẹ với một tình yêu và niềm hy vọng đặc biệt. Bằng kinh nghiệm của mình, Ngài đã viết lên điều ấy trong bức thư gửi các Linh mục Novo Incipiente Nostro.463 Ngài nguyện ước: “Nguyện xin Đức Maria, Đấng mà tôi mời gọi anh em hãy luôn nuôi dưỡng lòng sùng kính con thảo với Người, đồng hành với anh em và che chở anh em liên lĩ.”464 Đức Benedictô XVI mới đây thôi thúc chúng ta: “Tôi khuyên anh em hãy vào trường Đức Maria để học biết yêu thương và bước theo Đức Kitô trên hết mọi sự.”465
Thật vậy, trong trường của Đức Maria, chúng ta học để đặt Đức Kitô vào chỗ nhất trong đời sống chúng ta và học để hướng tư tưởng và hành động của chúng ta theo Ngài: “Người bảo gì thì anh em hãy làm theo.” Đúng vậy, nơi trường của Mẹ, chúng ta học biết thinh lặng, biết lắng nghe và phục vụ, đó là những điểm mấu chốt của đời sống người môn đệ. Đức Maria sẽ giúp chúng ta tiến sâu vào mối tương quan nhân vị và đích thực hơn với Chúa Giêsu để ta yêu mến Ngài và làm cho Ngài được yêu mến. Vâng, qua việc chiêm ngắm và lắng nghe Đức Maria, chúng ta sẽ hiểu hơn sức mạnh biến đổi của Bí tích Thánh Thể và tìm lại được niềm an ủi và nguồn sức mạnh để bước theo Chúa Kitô và phục vụ Ngài trong anh chị em.466
Liên quan đến sự độc thân linh mục đang “bị thế giới của thời đại chúng ta nghi ngờ giá trị và cho là không thể giữ được,”467 Đức Phaolô VI cậy dựa vào lòng sùng kính nồng nhiệt và tỏa sáng nơi Trinh Nữ Maria. Lòng đạo đức này của linh mục sẽ mang ngài “đến nguồn suối của đời sống thiêng liêng đích thực mà chỉ nó mới là nền tảng vững chắc cho giữ luật độc thân.”468
Vâng, “sự chọn lựa độc thân linh mục của chúng ta cần được đặt nơi trái tim Mẹ. Chúng ta phải chạy đến cùng Mẹ, khi chúng ta gặp khó khăn trên con đường đã chọn.”469 Là trinh nữ và là mẹ, Đức Maria hiểu rất rõ linh mục cần gì nơi phụ nữ, giáo dân cũng như nữ tu, và Mẹ biết làm thế nào để giữ cho linh mục được trung thành với lời cam kết của mình. Linh mục sẽ tìm được ẩn náu an toàn nơi Đức Maria, người Mẹ trên trời của ngài. Mẹ sẽ giúp linh mục thăng hoa trái tim và con mắt, để nhìn thấy Mẹ ở trong và qua những người con gái của Thiên Chúa xung quanh ngài. Linh mục kêu xin Mẹ bảo vệ và biến đổi những ai thân thiết với ngài, như Thánh Phaolô đã khuyên nhủ (x. 1Tm 5,2).
“Linh mục sẽ không thiếu sự chở che, nâng đỡ của Đức Trinh Nữ, Mẹ của Chúa Giêsu.”470 Nhờ lời chuyển cầu của Mẹ, Chúa Thánh Thần sẽ gìn giữ sự độc thân trong trắng của linh mục như Ngài đã làm cho Đức Maria và Thánh Giuse.471 Vì thế, cuối bức Tông Thư của ngài, Đức Phaolô VI đã khuyên nhủ: “Anh em hãy hướng con mắt và trái tim, với niềm tín thác được đổi mới và lòng cậy trông con thảo, về Mẹ rất yêu dấu của Chúa Giêsu và Mẹ của Hội Thánh, và hãy kêu xin sự cầu bầu vạn năng và hiền mẫu của Mẹ cho chức linh mục Công giáo.”472
Có một việc thật đơn giản nhưng rất quan trọng của lòng sùng kính Đức Maria là lần chuỗi Mân côi,473 một bản Phúc Âm tóm tắt. Các linh mục trẻ của Việt Nam nên giữ sống động thói quen lần chuỗi Mân côi của các cha già và hãy khuyến khích giáo dân của mình, trẻ cũng như già, lần chuỗi một mình khi đi đường tới trường học, tới công sở, hoặc lần chuỗi chung với người khác, theo nhóm hay hội đoàn trong giáo xứ, đặc biệt là lần chuỗi tại nhà, trong gia đình, vì chuỗi mân côi sẽ đốt nóng và làm mạnh thêm mối giây ràng buộc giữa các thành viên trong gia đình. Lời cầu nguyện này sẽ giúp chúng ta được mạnh mẽ hơn trong đức tin, bền vững hơn trong đức ái, được niềm vui và kiên trì trong niềm hy vọng.474
Theo gương mẫu và theo kinh nghiệm của Đức Gioan Phaolô II, mỗi linh mục nên tận hiến bản thân cho Đức Maria với lòng tin tưởng yêu mến, tìm trú ẩn nơi sự che chở của Mẹ, biết rằng trong lúc khó khăn mình cũng không cô đơn, vì Mẹ sẽ nâng đỡ ủi an bằng sự dịu dàng từ mẫu của Mẹ. Chính Đức Gioan Phaolô II đã tận hiến cho Đức Maria “Totus Tuus - con là tất cả của Mẹ”475 và ngài chia sẻ: “Suốt cuộc đời tôi, tôi đã cảm nghiệm rõ sự hiện diện đầy yêu thương của Mẹ của Chúa chúng ta. Đức Maria đồng hành với tôi mọi ngày để giúp tôi chu toàn sứ vụ là người kế vị Thánh Phêrô.”476 Tác giả tập sách này đã mất mẹ sớm từ thời niên thiếu cũng kinh nghiệm được sự bảo vệ và hướng dẫn đầy yêu thương của Đức Mẹ Lavang477 cho đời linh mục của mình, và người ước mong rằng tất cả các bạn linh mục đều có được kinh nghiệm kết quả diễm phúc như vậy.
GHI CHÚ
396 John Paul II, Pastores Dabo Vobis … ibid., no. 12
397 Vatican II, Optatam Totius …, ibid., no. 22
398 “Balanced Formation Will Help Avoid Future Scandals” (Vatican, February 6, 2004), Zenit.org/english, truy cập ngày 2.5. 2005.
399 Orlando B. Quevedo, “Pastoral Priorities of the Church in the Philippines and their Implications to Seminary Formation”, in Gathered Around Jesus …. Ibid., p. 43
400 FABC Paper n. 92e, Consultation Meeting on Continuing Education of the Clergy : Seventh Plenary Assembly – Workshop Discussion Guide, (Nov. 30- Dec. 2, 1993), Ucanews.com/html/fabc-papers/fabc-O.htm, truy cập ngày 3.11. 2004.
401 Congregation for the Clergy, Directory on the Ministry and Life of Priests (January 31, 1994) số 83.
402 Ibid., Introduction.
403 Ibid., nos. 72, 82
404 Ibid., no. 87
405 John Paul II, Pastores Dabo Vobis …., ibid., no. 71
406 Vatican II, Optatam Totius…., ibid., no. 22
407 CCE, Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis…., ibid., no. 100
408 John Paul II, Ecclesia in Asia ..., ibid., no. 43
409 FABC Paper 92e, Consultation Meeting on Continuing Formation for Priesthood in Asia … ibid.
410 “Spiritual Formation”: Group Discussions, in Gathered Around Jesus …ibid., pp.198-200
411 Vicente Cajilig, “Continuing Formation for Priesthood in Asia”, Rogate Ergo Asia: The Catholic Magazine on Vocations 5 (July-September, 2004): 9-25.
412 John Paul II, Pastores Dabo Vobis …, ibid., no. 71
413 Congregation for the Clergy, Directory on the Ministry and Life of Priests … ibid., no. 82
414 Ibid., no.72
415 “Need for Ongoing Priestly Formation Underlined” Zenit.org/english (Vatican, July 5, 2005), truy cập ngày 23.7. 2005.
416 Vatican II, Presbyterorum Ordinis …, ibid., no. 13
417 Marcelino Fonts, “Lectures on Prayer in Asian Context” …., ibid.
418 Vatican II, Presbyterorum Ordinis …, ibid., no. 7
419 John Paul II, Pastores Dabo Vobis …, ibid., no. 12
420 “The Church is waiting for the Total Respect of its Autonomy”… ibid.
421 CBCP, The Philippine Program of Priestly Formation 1972 … ibid, p.99
422 Synod of Bishops 1971, The Ministerial Priesthood, part two, II: Priests in the communion of the Church: 1. Relations between priests and bishop.
423 Vatican II, Presbyterorum Ordinis …, ibid., no. 8
424 CBCP, The Philippine Program of Priestly Formation 1972 … ibid, p.99
425 Vatican II, Presbyterorum Ordinis …, ibid., no. 8
426 Synod of Bishops 1971, The Ministerial Priesthood, part two, II.2 : Relations of priests with each other; Presbyterorum Ordinis …, ibid., no. 8
427 Presbyterorum Ordinis …, ibid., no. 9; Synod of Bishops 1971, The Ministerial Priesthood, part two, II.3 : Relations between priests and laity
428 Thiên Chúa đã dựng nên con người có nam có nữ. Biểu tượng Am-Dương chứa đựng tất cả triết lý về cuộc sống con người. Vòng tròn mô tả tính phổ quát của âm dương. Phần màu đen tượng trưng cho Am, còn phần màu trắng tượng trưng cho Dương. Am Dương tách biệt nhau, không phải bằng một đường thẳng, song bởi một đường cong hòa điệu và mềm mại. Do đó, tất cả những gì tiến tới, hoạt động và sáng là dương, còn những gì lùi lại, tiếp nhận và tối là âm. Dương tượng trưng cho trời, ngày, mặt trời, đàn ông, lửa, hành động, sức mạnh, niềm vui. Ngược lại,Am tượng trưng cho đất, đêm, mặt trăng, đàn bà, nước, nghỉ ngơi, yếu đuối, đau khổ.
429 John Baptist Pham Minh Man, Tâm Lý Nữ Giới và Chức Năng Mục Tử của Linh Mục, Ho Chi Minh City (2003), trang 7.
430 CBCP, The Philippine Program of Priestly Formation 1972 … ibid, p.58
431 Domingo Moraleda, “Lectures on Theology of the Forms of Christian Life in the Church”
432 Paul VI, Sacerdotalis Caelibatus …. Ibid., no. 77
433 Amelia Vasquez, “Fidelity in Vowed Life : Religious Life” Religious Life Asia 5 (1-3, 2003): 53
434 Paul VI, Sacerdotalis Caelibatus …. Ibid., no. 97
435 CBCP, The Philippine Program of Priestly Formation 1972 … ibid, p.58
436 Paul VI, Sacerdotalis Caelibatus …. Ibid., no. 74
437 Benedict XVI, “God’s Loving Protection”: Commentary of Psalm 120 (Vatican City, May 4, 2005), Zenit.org/english, truy cập ngày 18.6.2005.
438 John Paul II, “Behold your Mother: Letter to Priests for Holy Thursday 1988” (March 25, 1988) no. 5; Mulieris Dignitatem on the Dignity and Vocation of Women (August 15, 1988).
439 Paul VI, Sacerdotalis Caelibatus …. Ibid., no. 96.
440 John Paul II, Ecclesia in Asia …., ibid., no. 41
441 Prisco Cajes, “Lectures on Mission Spirituality and Environment” 1st Semester 2004-2005, ICLA, Quezon City
442 John Paul II, Ecclesia in Asia …., ibid., no. 15
443 Ibid., no.41
444 John Paul II, “Jesus Must Always Be the Center of Your Life”.., ibid.
445 Paul VI, Sacerdotalis Caelibatus …. Ibid., no. 59
446 The Theme of the next Ordinary Assembly of Synod of Bishops at Vatican October 2-29,2005.
447 “Source and Summit of Our Being and Action” (Vatican City, June 10, 2004), Zenit.org/english, truy cập ngày 25.0.2005.
448 Congregation of the Clergy, The Priest and the Third Christian Millennium … ibid., Conclusion.
449 John Paul II, Ecclesia de Eucharistia, n. 31 in Celebrating the Eucharist with Mary : A Guidebook (Metro Manila, Philippines: Assisi Development Foundation, Inc., 2005), p. 70
450 Vatican II, Presbyterorum Ordinis … ibid., no. 18
451 Domingo Moraleda, “Lectures on Fundamental Ecclesiology: A Historical and Theological Reflection”
452 Một lời truyền khẩu của người Việt nam Công giáo nói rằng trong thời kỳ bắt đạo, Vua Tự Đức đã ra lệnh cho lính cai ngục nghiêm cấm các người Công giáo mang vào tù cho các đồng đạo của họ những miếng bánh trắng trắng, tròn tròn, nho nhỏ (đó là Mình Thánh Chúa), vì những miếng bánh đó làm cho họ không sợ tù đày, tra tấn, đau khổ, ngay cả cái chết, và luôn trung thành với đức tin vào Thiên Chúa của họ.
453 John Paul II, Ecclesia de Eucharistia, nos. 34-36 in Celebrating the Eucharist with Mary …. Ibid., pp.71-78
454 John Paul II, “Source and Summit of Our Being and Action” Ibid.
455 Vatican II, Presbyterorum Ordinis …. Ibid., no.18
456 John Paul II, Ecclesia de Eucharistia, ibid, no. 1, p.52
457 John Paul II, “Church’s Program Is ti Start Afresh From Christ” (Vatican City, June 13, 2004), Zenit.org/english, truy cập ngày 25.01.2005
458 John Paul II, Ecclesia de Eucharistia, no. 59 in Celebrating the Eucharist with Mary …. Ibid., p.85
459 Vatican II, Optatam Totius … ibid., no.8; John Paul II, Pastores Dabo Vobis … ibid., no.82; Ecclesia in Asia …,ibid.,no.51; and CCE, Spiritual Formation in Seminaries … ibid., II.4
460 “Mary guides our steps to meet the Lord” (Vatican City, December 8, 2000), Zenit.org/english), truy cập ngày 7.10. 2004.
461 John Paul II, “Behold your Mother”: Letter to Priests (March 25,1988), no.6
462 John Paul II, Address at First General Audience of 2004 (Vatican City, January 7, 2004), Zenit.org/english), truy cập ngày 19.03. 2005
463 John Paul II, Novo Incipiente Nostro (Letter to Priests), (April 6, 1979), số 11.
464 John Paul II, “Jesus Must Always Be the Center of Your Life” …. Ibid.
465 Benedict XVI, “God’s Loving Protection”…. Ibid.
466 John Paul II, “Source and Summit of Our Being and Action” Ibid.
467 Paul VI, Sacerdotalis Caelibatus … ibid., no. 1
468 Paul VI, Sacerdotalis Caelibatus, no. 75
469 John Paul II, “Behold your Mother”: Letter to Priests For Holy Thursday (1988) …,ibid., no.5
470 Paul VI, Sacerdotalis Caelibatus … ibid., no. 59
471 Jose Cristo Rey Paredes, “Lectures on Mariology : Mary in Mission and Spirituality”
472 Paul VI, Sacerdotalis Caelibatus … ibid., no. 98a473 Paul VI, Marialis Cultus: Devotion to the Blessed Virgin Mary (February 2, 1974), part three : “Observations on Two Exercises of Piety : The Angelus and the Rosarry”
474 John Paul II, “Behold, Your Mother : Message for 18 th World Youth Day” (Vatican City, March 19,2003), Zenit.org/english, truy cập ngày 21.10. 2004.
475 “Last Will and Testament of Pope John Paul II”, Zenit.org/english (Vatican City, April 7, 2005), truy cập ngày 26.7. 2005.
476 John Paul II, “Behold, Your Mother” … ibid.
477 Dưới thời Phong Trào Văn Thân, các người Việt Nam Công giáo phải chịu bách hại đẩm máu. Đức Trinh Nữ Maria đã hiện ra tại Lavang năm 1789 để giúp đỡ giáo dân vượt thắng cơn đau khổ vì Đạo, và rồi Ngài được tôn kính dưới danh hiệu “Đức Mẹ Lavang.” Trong Hội Nghị năm 1980 tại Hà Nội, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã công nhận Lavang như là Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc. Đức Mẹ Lavang được tôn kính và yêu mến, không phải chỉ bởi các người Việt Nam Công giáo, mà ngay cả những người không Công giáo và tín đồ của các tôn giáo khác (EA., n.15). Đức Gioan Phaolô II nhắc đến Mẹ Lavang nhiều lần và giao phó Giáo Hội Việt Nam cho lời bầu cử của Mẹ. Ở đâu có người Việt Nam Công giáo sinh sống, ở đó có Mẹ Lavang hiện diện: như người môn đệ yêu dấu, họ luôn mang Mẹ Lavang cùng đi với họ.
PHỤ TRƯƠNG
A. VIỆC TỰ ĐÀO TẠO CỦA CHỦNG SINH

I. BẢN CÂU HỎI TỰ VẤN 478
a. Những Điều Kiện Bên Ngoài
(1) Môi Trường Xã Hội
Não trạng của người dân ở quê hương tôi hay của những người hàng xóm với gia đình tôi là gì? Họ thực hành đạo thế nào? Họ có ảnh hưởng tốt hay xấu đến ơn gọi của tôi? Đặc biệt là tình bằng hữu của bà con họ hàng đối với gia đình tôi và với cá nhân tôi thế nào? Họ nghĩ thế nào về ơn gọi của tôi? Trong gia đình tôi hay trong những người bà con họ hàng có ai sống đời thánh hiến không? Đâu là ảnh hưởng và mối tương quan giữa tôi và những anh em cùng lớp? Tôi có quan hệ đặc biệt nào với ai không?
(2) Gia Đình Tôi
Sức khỏe của ông bà tôi, cha mẹ tôi, anh chị em tôi thế nào? Họ quan niệm thế nào và đối xử làm sao với ơn gọi của tôi, tích cực hay tiêu cực? Họ có cho phép tôi tự do chọn lựa, hay bắt tôi chịu áp lực của họ? Ai trong gia đình tôi là người có tầm ảnh hưởng quan trọng và tích cực nhất đối với ơn gọi của tôi? Cảm nghĩ của tôi về gia đình: quan tâm, gắn bó, thờ ơ lạnh nhạt, thất vọng? Tại sa? Mối tương quan đặc biệt của tôi với gia đình sẽ là gì, nhất là sau khi đã thụ phong linh mục?
(3) Tương Quan Với Các Linh Mục Quen Biết
Đâu là ảnh hưởng thiêng liêng của Cha Bảo trợ đối với tôi? Ngài có thường xuyên liên lạc, giúp đỡ tài chính cho tôi không? Đâu là điểm tích cực mà tôi học được nơi ngài? Ngài có ảnh hưởng gì tiêu cực trên đời sống tôi không? Mối tương quan của tôi với cha xứ trong suốt năm học ở trường, nhất là trong những ngày nghỉ hè là gì? Mối tương quan giữa Cha xứ với gia đình tôi là gì? Khi được người khác khen hay chê thì thái độ của tôi là gì? Đời sống tư và việc tông đồ của cha xứ có ảnh hưởng gì đến ơn gọi của tôi? Tôi có quen biết cách đặc biệt nào với một số Cha khác không? Đâu là lý do của sự quen biết này và nó có ảnh hưởng gì đến tôi, về mặt thiêng liêng hay kinh tế? Tôi có tương quan dễ dàng và tốt lành với nhiều Cha trong Giáo phận tôi không, nhất là với các cha trẻ?
(4) Tương Quan Với Người Khác Phái
Quan niệm của tôi về người khác phái là gì? Đâu là cách tôi giữ mối liên lạc với người khác phái? Tôi có mối quan hệ gần gũi với ai trong số những người nữ sống đời thánh hiến không? Đâu là nguyên nhân của mối tương quan này? Đâu là cách tôi giữ liên lạc với cô ấy? Có gì đáng quan tâm hay dấu hiệu gì đáng đặt dấu hỏi không? Mọi người đều mang bản tính nhân loại và có giới tính.
b. Những Điều Kiện Tự Nhiên
(1) Sức Khoẻ Của Tôi
Sức khoẻ của gia đình tôi thế nào? Có bệnh di truyền nào không? Tôi có lo lắng gì về bệnh tật trong tương lai không? Tôi gìn giữ sức khoẻ bằng cách nào? Đâu là nhịp độ ăn uống, ngủ nghỉ và làm việc của tôi trong thời gian học đều đặn cũng như trong thời thi cử?
(2) Tính Tình Của Tôi
Tôi có thể mô tả tính tình của tôi thế nào: cảm xúc hay vô cảm, hoạt động hay không hoạt động? Tôi có đầu óc hẹp hòi hay cởi mở, có điều độ ngăn nắp hay lộn xộn bừa bãi? Tôi lạc quan hay bi quan, nhút nhát hay liều lĩnh, khiêm tốn hay kiêu hãnh, chăm chỉ hay lười biếng, có óc tổ chức hay làm theo hứng?
(3) Trí Khôn Của Tôi
Trí khôn của tôi thế nào: xuất sắc, rất tốt, tốt hay kém? Kết quả học tập của tôi thế nào? Có tình trạng đặc biệt nào ảnh hưởng tới trí khôn của tôi không? Tôi có phương pháp nào để luyện trí nhớ và trí hiểu không? Tôi thích học thuộc lòng hay thích suy tư, phân tích hay tổng hợp ?
(4) Năng Khiếu và Khả Năng Của Tôi
Trong học tập, trong nghệ thuật và hoạt động, năng khiếu đặc biệt của tôi là gì? Đâu là điểm yếu của tôi trong những lãnh vực này? Tại sao? Đâu là cách tôi vun trồng và nâng cao năng khiếu của tôi?
c. Những Điều Kiện Thiêng Liêng
(1) Tinh Thần Tự Hiến
Ơn gọi của tôi đã lớn lên và phát triển thế nào? Bây giờ ra sao? Tại sao tôi lại chọn đời linh mục? Tôi có luôn suy nghĩ về ơn gọi của tôi không? Có gì cản trở không? Làm thế nào để vượt qua? Tôi có lạc quan và hy vọng không, hay lại bi quan và thất vọng về tình trạng hiện tại của tôi? Tại sao? Tôi tự nguyện theo đuổi ơn gọi hay có áp lực nào không? Đâu là cách đặc biệt để gìn giữ và phát huy tinh thần tự hiến của tôi, bây giờ và trong tương lai ?
(2) Tinh Thần Trách Nhiệm
Tôi chu toàn bổn phận vì Chúa và vì muốn đời sống ơn gọi được chắc chắn hơn hay chỉ vì luật, vì ý bề trên, hay vì lòng tự trọng với anh em cùng lớp? Phương pháp học của tôi là gì? Tôi học tất cả các môn hay chỉ học những môn ưa thích? Cách tôi học ở lớp, ở nhà là gì? Cách tôi làm bài thi và đọc sách vở là gì? Tôi tận dụng tối đa thời gian hay lãng phí nó? Quan điểm của tôi về luật lệ là gì? Tôi thường hay vi phạm điều nào? Công tác của tôi trong chủng viện là gì và đâu là cách tôi thi hành công tác ấy?
(3) Tinh Thần Đời Sống Thiêng Liêng
Tôi có tin rằng đời sống thiêng liêng là tối quan trọng đối với chủng sinh và linh mục không? Tình trạng hiện nay về đời sống thiêng liêng của tôi là gì và đâu là những cố gắng? Tôi có thói quen dâng ngày mới cho Chúa không? Đời sống cầu nguyện của tôi thế nào? Tôi có cầu nguyện đều đặn trong những kỳ nghỉ không? Tôi tham dự thánh lễ, chuẩn bị rước lễ và cám ơn sau rước lễ thế nào? Tôi có nhận thấy rõ Thánh Thể là trung tâm đời sống của mọi Kitô hữu, nhất là của những người sống đời thánh hiến không? Tôi có tập đọc sách thiêng liêng, nhất là Kinh Thánh cách đều đặn, ngay cả trong kỳ nghỉ hè không? Tôi có viếng Chúa Giêsu Thánh Thể, thường xuyên xét mình để chuẩn bị tâm hồn lãnh nhận Bí tích Hoà giải không? Lòng sùng kính Đức Mẹ của tôi thế nào: có lần chuỗi, suy niệm và bắt chước Mẹ không? Vai trò của Đức Mẹ trong đời sống ơn gọi của tôi là g? Mối liên hệ của tôi với các thánh và các linh hồn là gì ?
(4) Tinh Thần Đức Tin
Cách tôi nhìn các sự kiện trong đời sống tôi và trong xã hội là gì, có nhìn với tinh thần đức tin hay không? Tôi có thường phải đối diện với những cám dỗ về đức tin không: mức độ thế nào và phản ứng của tôi làm sao? Những thái độ sống đức tin của tôi: trong nhà thờ, trong khi cử hành phụng vụ, khi cầu nguyện trong lớp học là gì?
(5) Tinh Thần Cộng Tác
Tôi cảm thấy dễ hay khó khi quan hệ với mọi ngươì bằng sự cởi mở, đối thoại, trợ giúp và hợp tác? Tại sao? Đâu là những cố gắng phải vượt qua? Đời sống chung và tình bạn hữu của tôi thế nào: thiện cảm hay ác cảm? Tương quan với bề trên, với cha linh hướng và với các nhà đào tạo khác: có dễ dàng tiếp xúc và cởi mở đón nhận những gợi ý của các ngài với lòng biết ơn hay không? Tôi có biết rằng tinh thần cộng tác là yếu tố cần thiết trong việc gìn giữ và xây dựng đời sống thánh hiến không?
(6) Tinh Thần Vâng Phục
Tôi có suy nghĩ gì về tự do, về quyền bính và vâng phục trong Hội Thánh? Tôi vâng lời cha mẹ và anh chị em thế nào? Và sự vâng phục của tôi đối với các bề trên ra sao? Tôi không hài lòng với họ về điểm nào?
(7) Tinh Thần Nghèo Khó
Quan niệm của tôi về nghèo khó là gì? Tôi có tập và sống khó nghèo không? Tình trạng kinh tế của tôi: giàu có hay túng bấn; cách tôi kiếm tiền và tiêu tiền là g? Tôi có tính sổ hàng tháng, hàng năm không? Của cải của tôi: dư dật, đầy đủ hay thiếu thốn? Tôi có thích dùng những đồ sang trọng không? Tôi có coi của chung như của riêng mình không?
(8) Tinh Thần Thanh Khiết
Tôi có tôn trọng và hiểu rằng sự trong sạch trong đời sống linh mục là một hiến tế, từ bỏ chính mình, dành tình yêu cho Chúa và cho các linh hồn không? Tôi có hiểu rằng sự trong sạch và độc thân linh mục là khó khăn và cần ơn Chúa (đời sống cầu nguyện) và cần cố gắng liên lỉ (khổ chế và hy sinh) không? Tôi có tránh những dịp cám dỗ: báo chí, phim ảnh, quan hệ và những lời nói không? Tôi có thường xuyên bị cám dỗ trong tư tưởng không? Cách tôi chiến đấu chống lại nó là gì, luôn thắng trận hay bại trận? Tôi có tìm ra phương pháp nào để sống trong sạch không? Tôi có suy nghĩ tích cực hay tiêu cực về giá trị đời sống trong sạch của linh mục? Quan niệm của tôi về hôn nhân, về tình yêu đôi lứa và về giới tính là gì ? Tôi nghĩ gì về cơn khủng khoảng hiện nay của một số linh mục ?
(9) Tinh Thần Phụng Vụ
Tinh thần phụng vụ lúc này của tôi thế nào? Tôi có ý thức rằng phụng vụ là trung tâm đời sống của Hội Thánh và của đời sống của những người sống đời thánh hiến không? Tôi tham dự thánh lễ và các bí tích khác thế nào? Tôi có khao khát và cố gắng tham dự vào các hoạt động phụng vụ: giúp lễ, chầu Thánh Thể, tập những bài hát phụng vụ, cầu nguyện hằng ngày?
(10) Tinh thần Mục Vụ
Tôi có ý thức rằng công tác mục vụ là nhiệm vụ hàng đầu trong sứ vụ quản xứ của linh mục không? Tôi có tập trung tất cả những công việc hiện tại của mình để chuẩn bị cho các công tác mục vụ tương lai không? Tôi đã chuẩn bị cho việc dạy giáo lý và cho sứ vụ Lời Chúa thế nào? Tôi có thăm viếng các gia đình, nhất là thăm những người nghèo khó và đau yếu không? Tôi có thể sống đúng mực và làm việc có trách nhiệm với những người già cả, với thanh niên, với trẻ em và hết lòng cộng tác chân thành không? Hướng mục vụ của tôi được gợi hứng từ tinh thần của công đồng Vatican II là gì? Điều gì tôi thích: nhận nhiệm vụ nơi thôn quê hay chốn đô thị, là giáo sư hay cha xứ ? Tôi có nhận định gì về đời sống mục vụ của hàng giáo sĩ hiện nay: ưu điểm và khuyết điểm, mặt tích cực và mặt tiêu cực?
(11) Tinh Thần Lao Động Chân Tay
Tôi có ý thức giá trị của lao động chân tay không? Hay tôi bị miễn cưỡng làm việc? Tinh thần lao động của tôi là gì khi tôi tham gia vào các hoạt động lao động chân tay trong cộng đoàn?
II. BẢN CÂU HỎI GÂY Ý THỨC
Hầu hết các văn kiện mới đây viết về việc linh hướng đều nhấn mạnh rằng người thụ hướng phải chủ động trong quan hệ với vị linh hướng. Lịch gặp gỡ và đề tài thảo luận phải đáp ứng được với nhu cầu của người thụ hướng. Một điều cũng rất quan trọng là phải biết rằng có những “mô hình linh hướng.” Một chương trình đào tạo được chỉ định giúp ứng sinh thực hiện một quyết định đặc biệt với lòng kính trọng đối với sứ vụ chức thánh trong Giáo Hội. Vị linh hướng cũng phải tích cực làm cho việc đào tạo thiêng liêng của người thụ hướng được dễ dàng. Vì thế, bản câu hỏi gây ý thức này được đề nghị như một chỉ dẫn để thảo luận trong các buổi gặp linh hướng.
a. Những Câu Hỏi Tổng Quát
Điều gì đang xảy ra trong đời sống tôi? Tôi đang nghĩ gì và quan tâm gì đến điều đó? Có điều gì đang xảy ra trong kinh nghiệm của tôi về Thiên Chúa? Tôi có gặp được Chúa trong cầu nguyện, trong đời sống hằng ngày, trong những tương quan, trong khi làm việc, lúc rảnh rỗi và khi đọc sách không? Thiên Chúa đang mời gọi tôi lớn lên và thăng tiến thế nào? Tôi đang đáp trả làm sao? Với tôi, Đức Giêsu là ai? Những giá trị nào nơi Đức Kitô thúc đẩy tôi?
b. Những Vấn Nạn Được Nhắm Đến
Tôi là ai, trong hiện tại và trong quá khứ? Những tài năng và những giới hạn của tôi là gì? Tôi làm chủ thể xác và tinh thần của tôi thế nào?
Tôi quan niệm thế nào về Thiên Chúa, Ngài có là tất cả cho tôi không? Tôi dùng những danh xưng nào dành cho Chúa? Cách cầu nguyện nào tôi thích nhất? Nhịp sống và khuôn mẫu đời sống tôi là gì? Thời giờ cầu nguyện riêng và cầu nguyện trong phụng vụ của tôi thế nào? Tôi kinh nghiệm thế nào về lời mời gọi hoán cải? Tôi đã tìm đến việc hoà giải thế nào?
Kinh nghiệm của tôi về cái đẹp là gì? Kinh nghiệm của tôi về tình yêu là gì? Tôi đã tập tành nhân đức thế nào? Tôi kinh nghiệm về những hồng ân Chúa Thánh Thần thế nào? Cái nhìn của tôi về Hội Thánh thế nào? Tôi là thành phần thân thể Đức Kitô thế nào?
Hiện nay tôi đang nghĩ gì về ơn gọi của mình? Tôi đã thể hiện sự dấn thân cho ơn gọi thế nào? Tôi có sống tinh thần nghèo khó, với sự giản dị về vật chất? Đâu là sự dấn thân của tôi cho công bằng xã hộ?
Tôi có sống thanh khiết không? Điều gì khiến tôi tin rằng tôi có thể giữ được lời cam kết sống độc thân? Tôi có bày tỏ tình cảm một cách thích đáng không? Tôi làm thế nào để đương đầu với cô đơn? Tôi có tìm kiếm sự thinh lặng và yên tĩnh một mình không?
Tôi hiểu gì về đức vâng lời? Tôi đã dùng quyền thế nào? Tôi hiểu gì về sứ vụ hợp tác? Điều gì cho thấy sự phát triển trong sứ vụ mục tử của tôi? Tôi dự tính áp dụng những kinh nghiệm mục vụ nào?
Tôi có sử dụng kiến thức thần học như là phương tiện để sống trưởng thành trong đời sống thiêng liêng không? Tôi đang đọc sách gì để thăng tiến đời sống thiêng liêng của tôi? Tôi có kinh nghiệm gì qua các kỳ tĩnh tâm? Kinh nghiệm về linh hướng thế nào? Cái gì có thể làm cho kinh nghiệm linh hướng thêm lợi ích hơn? Tôi hội nhập thế nào những gợi ý nhận được trong khi linh hướng? Tôi có dự phòng những đề tài đặc biệt cho lần gặp linh hướng sắp tới không?
c. Những Điều Đặc Biệt Khác
Tôi có khởi đầu và kết thúc cuộc gặp bằng một lời cầu nguyện không? Có cử hành bí tích Hoà giải không? Có đề nghị hay xem xét về việc tư vấn tâm lý, hay suy nghĩ gì về những cuộc gặp gỡ như vậy không?

III. CHỦNG SINH TỰ ĐÁNH GIÁ
a. Tự Đánh Giá Trong Năm Học Chính Qui của Giai Đoạn Đào Tạo Chủng Viện
Trong việc tự đánh giá này, chủng sinh phải làm nổi bật mục đích, thách đố quan trọng và thành quả ý nghĩa nhất trong năm học, để so sánh rút ưu khuyết điểm hầu sự tiến bộ được khẳng định từng bước, trong suốt quá trình đào tạo và tự đào tạo.
1) Đào Tạo Nhân Bản và Thiêng Liêng Trong Cộng Đoàn
Trước hết, chủng sinh sẽ viết về việc đào tạo bản thân và thiêng liêng trong cộng đoàn: Tôi có ăn uống điều độ, ngủ nghỉ đầy đủ, thể dục và lưu tâm tới nhu cầu sức khoẻ không? Tôi đánh giá thế nào về các kỷ năng xã hội của tôi? Tôi có gặp Cha linh hướng đều đặn và thấy có lợi ích không? Tôi có đem những đề tài, những mẫu gương, những sự kiện xảy ra để nói trong những buổi gặp linh hướng không? Tôi có cởi mở đón nhận những lời bình phẩm, góp ý, sửa dạy và hướng dẫn không? Những hình thức cầu nguyện và sùng kính nào nâng đỡ tôi? Trong những đường lối nào tôi đã lớn lên về mặt thiêng liêng trong năm học này? Tôi đặt mục tiêu gì để thăng tiến đời sống thiêng liêng? Tôi làm gì để lớn lên trong sự hiểu biết đức tin Công giáo? Tôi đã sống đời độc thân đích thực chưa? Tôi có sống giản dị không? Tôi có liên đới với người nghèo và quan tâm tới công bằng không?
2) Đào Tạo Tri Thức
Thứ hai, chủng sinh sẽ viết về việc học hành của mình trong năm: Tôi có chuẩn bị bài học, trung thành dự giờ lớp và nộp bài đúng hạn không? Tôi học để sống hay chỉ để thoả mãn các đòi hỏi của nhà trường? Tôi đánh giá thế nào về khả năng học hành của tôi? Tôi có biết xin sự trợ giúp trong việc học mỗi khi cần không? Tôi có góp phần tạo bầu khí tốt trong lớp học không? Tôi có thảo luận các đề tài nghiên cứu ngoài giờ học không?
3) Phân Định Ơn Gọi
Thứ ba, Chủng sinh sẽ viết về sự phân định ơn gọi của mình: Tôi có suy nghĩ và bàn luận các kinh nghiệm của tôi như là một chủng sinh không? Tôi làm gì trong đời sống hàng ngày để chuẩn bị cho sứ vụ linh mục mai ngày của tôi? Lãnh vực nghiên cứu, học hành tác động thế nào đến hành trình chủng viện của tôi? Những yếu tố khiến tôi vào chủng viện đã thay đổi hay vẫn như cũ? Hãy giải thích. Phẩm chất cầu nguyện, các mối tương quan và thái độ đối với Giáo Hội, học hành và phục vụ ảnh hưởng thế nào tới quyết định của tôi để tiếp tục hành trình ơn gọi của tôi trong chủng viện?
2) Kết Luận Của Việc Tự Đánh Giá
Cuối cùng, chủng sinh sẽ kết luận việc tự lượng giá của mình: Đánh giá chung cho năm học vừa qua với tôi là gì? Bao gồm cả những biến cố ý nghĩa hay những thay đổi có ảnh hưởng lớn đối với tôi trong năm nay: vấn đề sức khoẻ, vấn đề gia đình, những thụt lùi quan trọng, những tiến bộ ý nghĩa; những người quan trọng như các giáo sư, thầy hướng dẫn, bạn bè, và những người khác nữa, đã ảnh hưởng thế nào đến đời sống, thái độ sống và hành động của tôi?
b. Ứng Sinh Tự Đánh Giá Sau Năm Thực Tập Mục Vụ
1) Ở Chiều Kích Cá Nhân
Tôi có trung thành với những giờ cầu nguyện cá nhân và cầu nguyện phụng vụ không? Nhất là tôi có trung thành với Thánh Lễ và Phụng vụ các Giờ Kinh không? Tình trạng sức khoẻ của tôi hiện nay thế nào? Tôi cho trình độ nghị lực của tôi cao hay thấp? Người khác có đồng ý như vậy không? Tôi có thường xuyên dùng loại thuốc chữa bệnh nào không? Tôi dùng loại thể dục nào? Tôi có nghĩ là sẽ tiếp tục loại thể dục đó trong đời sống sứ vụ không? Tôi có dành đủ thời gian cho những giờ giải trí không? Tôi làm gì vào buổi chiều và những ngày nghỉ? Tôi có nói “Không” được với những lời rủ rê bên ngoài khi cần không?
2) Trong Tương Quan Với Người Khác
Tôi có gặp Cha linh hướng đều đặn không? Tôi có làm việc tốt với các vị trong hội đồng giáo xứ và các hội đoàn không? Tôi có gặp khó khăn nào trong khi sống ở nhà xứ không? Làm thế nào để giải quyết những khó khăn ấy? Tôi hiểu và sống thế nào cho phù hợp với đời sống độc thân trưởng thành sâu xa? Ngoài trách nhiệm giáo xứ, tôi sống các mối tương quan cá nhân thế nào? Tôi kinh nghiệm được lợi ích gì khi gặp gỡ nhóm giáo dân hổ trợ? Trong chủng viện và trong lãnh vực học hành, cái gì chứng tỏ tôi là người đưa ra sáng kiến và lãnh đạo?
3) Cho Sứ Vụ Tương Lai
Những điểm mạnh nào tôi đã khám phá ra là tôi có? Vị hướng dẫn đã đề nghị tôi phải tập trung vào lãnh vực nào để đạt hiệu quả sau khi chịu chức? Tôi có biết rõ về Giáo phận mình không? Trong lãnh vực giáo dục, tôi đã làm được gì nhiều cho Giáo phận chưa? Những khía cạnh đặc biệt nào của giáo phận mà tôi thấy cách tích cực là cơ hội giúp làm phong phú kinh nghiệm thừa tác? Những khía cạnh nào đáng đặt vấn đề mà tôi có thể thấy?
4) Về Đời Sống Độc Thân
Những vấn nạn nào tôi đang tự hỏi về sự sẵn sàng của tôi đối với sống đời độc thân? Tôi thấy điều gì là khó khăn nhất đối với tôi trong việc cam kết sống đời độc thân? Tôi đã bàn hỏi vấn đề này với Cha linh hướng chưa? Sự cam kết này có giá trị cụ thể nào đối với tôi? Hình ảnh hiện tại của tôi về giới tính và sự độc thân thực tiễn như thế nào? Tôi có thảo luận vấn đề độc thân, giới tính, cách sống của linh mục với bạn bè cùng chí hướng không? Tôi đã làm gì để gia tăng sự hiểu biết và đánh giá về sự độc thân? Tôi liên kết đời độc thân với việc tập thể dục, cầu nguyện, đời sống giản dị, tình bạn hữu và sự vâng phục thế nào? Tôi có thấy nhu cầu của những giới hạn lành mạnh trong tương quan với người khác không? Tôi có sống giản dị không? Đâu là quan điểm của tôi về quan niệm về phụ nữ trong Giáo Hội hôm nay? Những quan niệm này có giá trị vững chắc không? Làm thế nào để quan hệ tốt với phụ nữ, về mặt xã hội cũng như nghề nghiệp? Tôi có làm việc gần gũi với phụ nữ trên cấp độ bình đẳng, chẳng hạn như ban phục vụ giáo xứ? Cái gì tôi cho là một cách làm việc lý tưởng trong tương quan giữa tôi, là một cha xứ, và những người phụ nữ trong giáo xứ? Tôi có nhắm đến một nhóm hổ trợ nào để giúp tôi trong khi thi hành sứ vụ không?