Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss
LINH MỤC TƯƠNG LAI SỐNG TU ĐỨC TOÀN DIỆN
TRONG BỐI CẢNH THỰC TẾ CỦA GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM NGÀY NAY
[BẢN THẢO 2009]
LỜI NÓI ĐẦU
Đây chỉ là một phần của chương trình đào tạo tu đức toàn diện cho ứng sinh linh mục. Mong muốn của phần này là cố gắng theo sát ánh sáng chỉ đạo của giáo huấn của Giáo Hội để nhìn vào thực tế đang diễn ra trong Giáo Hội và thế giới, đặc biệt trong bối cảnh Giáo Hội và Xã hội Việt Nam, hầu giúp ứng sinh can đảm đối mặt với thực tế của đời mình, và từ thực tế đó mà định hướng hay tái định hướng đời sống ơn gọi của mình theo đúng bản chất đích thực của lý tưởng đời sống và sứ vụ linh mục mà Chúa và Giáo Hội mong muốn, thế giới và con người ngày nay đang chờ đợi.
Những điều sẽ được chia sẻ với anh em chủng sinh nhắm tới một mục đích kép này là vừa đào tạo và giúp chủng sinh tự đào tạo chính mình trong giai đoạn đào tạo khởi đầu ở Chủng viện, vừa chuẩn bị và trang bị cho đời sống sứ vụ của chủng sinh mai ngày trong tư cách là linh mục. Một số các bậc lão thành thao thức với tiền đồ Giáo Hội than phiền về một số linh mục trẻ rằng họ mới “học làm linh mục” chứ chưa “sống linh mục.” Thực ra cả hai tiến trình phải tiến hành song song và cùng thời: học “làm linh mục và sống linh mục” vì càng sống đời linh mục càng trở nên linh mục hơn.
Trong nỗ lực đó, đây mới chỉ là một bản thảo. Là bản thảo nghĩa là chưa xong, chưa đầy đủ, chưa tốt, cần phải được liên tục cập nhật, sửa chữa, hiệu đính, sao cho thích hợp và hiệu quả. Để làm được việc đó, tôi tha thiết xin các bậc Thầy, các bậc Đàn Anh chỉ giáo và sửa chữa giúp, vì lợi ích lớn hơn của các chủng sinh trong sứ mệnh của Giáo Hội giữa lòng thế giới không ngừng biến chuyển, vì công việc đào tạo, nhất là đào tạo tu đức toàn diện, là việc của muôn người và của muôn đời, dưới sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần.
Tôi xin hết lòng cám ơn và hứa cầu nguyện.
Nguyện xin Chúa Thánh Thần tiếp tục cho đến hoàn thành tốt đẹp những gì Ngài đã thương khởi sự cho chúng ta và với chúng ta, nhờ lời cầu bàu mạnh thế của Mẹ Maria Lavang và Thánh Cả Giuse.
Lm Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss
Lời nói đầu
Mục Lục
CHƯƠNG MỘT
SỐNG TỐT ĐỜI SỐNG ĐỘC THÂN LINH MỤC
TRONG BỐI CẢNH GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM HÔM NAY
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Càng lên cao, người trẻ càng... “hư”: quay cóp, nói dối, tội phạm, ma túy học đường.
2. Vấn đề về phong cách sống đạo đức: sống thử trước hôn nhân
3. Áp đặt + Nhồi nhét = Hư?
4. Nhận định của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
5. Chúng ta cùng ngẫm nghĩ và nỗ lực cải tiến
B. Ý NIỆM VỀ ĐỜI SỐNG ĐỘC THÂN LINH MỤC
I. Cái nhìn tiêu cực về độc thân linh mục
II. Cái nhìn đúng đắn về độc thân linh mục
III. Hệ luận
LINH MỤC TƯƠNG LAI SỐNG TU ĐỨC TOÀN DIỆN
TRONG BỐI CẢNH THỰC TẾ CỦA GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM NGÀY NAY
[BẢN THẢO 2009]
LỜI NÓI ĐẦU
Đây chỉ là một phần của chương trình đào tạo tu đức toàn diện cho ứng sinh linh mục. Mong muốn của phần này là cố gắng theo sát ánh sáng chỉ đạo của giáo huấn của Giáo Hội để nhìn vào thực tế đang diễn ra trong Giáo Hội và thế giới, đặc biệt trong bối cảnh Giáo Hội và Xã hội Việt Nam, hầu giúp ứng sinh can đảm đối mặt với thực tế của đời mình, và từ thực tế đó mà định hướng hay tái định hướng đời sống ơn gọi của mình theo đúng bản chất đích thực của lý tưởng đời sống và sứ vụ linh mục mà Chúa và Giáo Hội mong muốn, thế giới và con người ngày nay đang chờ đợi.
Những điều sẽ được chia sẻ với anh em chủng sinh nhắm tới một mục đích kép này là vừa đào tạo và giúp chủng sinh tự đào tạo chính mình trong giai đoạn đào tạo khởi đầu ở Chủng viện, vừa chuẩn bị và trang bị cho đời sống sứ vụ của chủng sinh mai ngày trong tư cách là linh mục. Một số các bậc lão thành thao thức với tiền đồ Giáo Hội than phiền về một số linh mục trẻ rằng họ mới “học làm linh mục” chứ chưa “sống linh mục.” Thực ra cả hai tiến trình phải tiến hành song song và cùng thời: học “làm linh mục và sống linh mục” vì càng sống đời linh mục càng trở nên linh mục hơn.
Trong nỗ lực đó, đây mới chỉ là một bản thảo. Là bản thảo nghĩa là chưa xong, chưa đầy đủ, chưa tốt, cần phải được liên tục cập nhật, sửa chữa, hiệu đính, sao cho thích hợp và hiệu quả. Để làm được việc đó, tôi tha thiết xin các bậc Thầy, các bậc Đàn Anh chỉ giáo và sửa chữa giúp, vì lợi ích lớn hơn của các chủng sinh trong sứ mệnh của Giáo Hội giữa lòng thế giới không ngừng biến chuyển, vì công việc đào tạo, nhất là đào tạo tu đức toàn diện, là việc của muôn người và của muôn đời, dưới sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần.
Tôi xin hết lòng cám ơn và hứa cầu nguyện.
Nguyện xin Chúa Thánh Thần tiếp tục cho đến hoàn thành tốt đẹp những gì Ngài đã thương khởi sự cho chúng ta và với chúng ta, nhờ lời cầu bàu mạnh thế của Mẹ Maria Lavang và Thánh Cả Giuse.
Lm Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss
Lời nói đầu
Mục Lục
CHƯƠNG MỘT
SỐNG TỐT ĐỜI SỐNG ĐỘC THÂN LINH MỤC
TRONG BỐI CẢNH GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM HÔM NAY
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Càng lên cao, người trẻ càng... “hư”: quay cóp, nói dối, tội phạm, ma túy học đường.
2. Vấn đề về phong cách sống đạo đức: sống thử trước hôn nhân
3. Áp đặt + Nhồi nhét = Hư?
4. Nhận định của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
5. Chúng ta cùng ngẫm nghĩ và nỗ lực cải tiến
B. Ý NIỆM VỀ ĐỜI SỐNG ĐỘC THÂN LINH MỤC
I. Cái nhìn tiêu cực về độc thân linh mục
II. Cái nhìn đúng đắn về độc thân linh mục
III. Hệ luận
IV. Trở thành Ứng sinh linh mục
1. Con đường ơn gọi phát sinh từ một cuộc đổi đời và trở thành
1) Trở thành Ứng sinh Linh mục là:
1) Trở thành Ứng sinh Linh mục là:
a. Chia cắt với cái đi trước
b. Mở ra với những gì đang đến
2) Một kinh nghiệm đổ vỡ
a. Một cuộc đổ vỡ lịch sử và nền tảng
a. Một cuộc đổ vỡ lịch sử và nền tảng
b. Đổ vỡ là sự khởi đầu
c. Sống ơn gọi như sự chia tách
2. Chết cho cái cũ và sống cho cái mới
C. TÍNH THÂN MẬT CỦA ĐỜI SỐNG ĐỘC THÂN LINH MỤC
I. TÍNH DỤC VÀ KHOÁI CẢM
1. Tính dục tình ý
2. Tính dục sinh dục
2a. Tình yêu sinh dục
2b. Cách xử lý tình yêu sinh dục
1) Làm hài lòng
2) Ức chế
3) Đàn áp
4) Thăng hoa
2c. Ứng xử sinh dục
3. Khoái cảm
3a. Khoái cảm tinh thần
3b. Khoái cảm giác quan
1) Khoái cảm giác quan đơn thuần
2) Khoái cảm giác quan liên quan đến tình dục
3c. Khoái cảm sinh dục
Khoái cảm sinh dục được muốn trực tiếp
2) Khoái cảm sinh dục được muốn gián tiếp
II. CÁC LOẠI THÂN MẬT CỦA LINH MỤC
1. Thân mật không dành riêng
2. Thân mật không sở hữu
3. Thân mật có chọn lựa
4. Khoảng cách và sự riêng tư
5. Độc lập trong thân mật
6. Đụng chạm và thân mật
7. Đối đầu trong thân mật
8. Cởi mở trong thân mật
9. Trung thành với ơn gọi
D. TÌNH BẠN KHÁC PHÁI CỦA NGƯỜI ĐỘC THÂN THÁNH HIẾN
I. ĐẶT VẤN ĐỀ - TÌNH HUYNH ĐỆ
II. CÁC MỐI TƯƠNG QUAN CỦA LINH MỤC VỚI NGƯỜI NỮ[1]
1. Linh Mục Tương Quan với Phụ Nữ: Trợ Lực hay là Vấn Đề cho Cuộc Sống và Sứ Vụ?
2. Tương quan của Linh Mục với Nữ Tu: Phải Khôn Ngoan và Tỉnh Thức
3. Những Con Đường Tương Quan Tốt
3a. Tương Quan với Mẹ và Chị Em của Mình
3b. Đối xử với các Cụ Bà như là mẹ, và với các thiếu nữ như chị em với tấm lòng trong sạch”
3c. Nhìn Cách Ứng Xử và Mối Tương Quan hài hoà của Chúa Giêsu với Phụ Nữ
III. KẾT LUẬN
E. KHÍA CẠNH TÂM LÝ VÀ TÍNH DỤC TRONG ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
II. LINH MỤC CŨNG LÀ CON NGƯỜI
1. Nhu cầu tình yêu
2. Nhu cầu thân mật
3. Nhu cầu hạnh phúc
III. NĂM ĐỊNH LUẬT TÂM SINH LÝ NAM NỮ
1. Luật Ưu tiên
2. Luật Phân cách
3. Luận Thính giác
4. Luật Chi tiết
5. Luật Bất đồng cảm
6. Kết luận
IV. TƯƠNG QUAN NAM NỮ VÀ THÂN MẬT GIỚI TÍNH
1. Tương quan nam nữ
2. Thân mật giới tính
V. VẤN ĐỀ THỦ DÂM
1. Định nghĩa và thực trạng
1a. Nhận thức
1b. Cảm nhận
1c. Thực tế
2. Các loại thủ dâm
2a. Thủ dâm trẻ nít
2b. Thủ dâm thiếu niên
2c. Thủ dâm trưởng thành
2d. Thủ dâm xúc phạm
3. Một số quan điểm
3a. Freud và William Fleiss
3b. Fenichel
3c. Những biện pháp vô nhân đạo
3d. Xã hội học và tâm lý học hiện đại
3e. Quan điểm của Giáo Hội
4. Nguyên do và mục tiêu
5. Những thỏa hiệp
5a. Sợ đàn bà
5b. Sách báo, phim ảnh khiêu dâm
5c. Phô bày bộ phận sinh dục
5d. Mặc y phục của người khác phái
5e. Hành động thú tính
5f. Bạo động với chính mình
6. Tiến trình phát triển lành mạnh
6a. Trẻ khám phá
6b. Trò chơi sinh dục
6c. Chưa trưởng thành
6d. Can thiệp khôn khéo
6e. Can thiệp thiếu thích hợp
7. Hướng dẫn hữu hiệu và chữa lành
7a. Quan tâm thích đáng
7b. Lắng nghe để hiểu
7c. Nhìn lại để thương
7d. Đừng vẽ đường cho hươu chạy
7e. Tự chủ và liên đới
7f. Tìm kiếm sự bình an
7g. Nhìn vào lý tưởng
7h. Trợ lực cảm thông
7i. Chia sẻ chữa trị
7j. Trợ giúp thiêng liêng
7k. Ý thức cam kết ơn gọi
7l. Sức mạnh của lời cầu nguyện
7m. Đồng hành tin cậy
Bài đọc thêm
THỦ DÂM TRẺ NÍT VÀ TUỔI DẬY THÌ
VI. VẤN ĐỀ ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI
1. NHẬN ĐỊNH
2. ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI LÀ GÌ?
2a. Hiện tượng đồng tính luyến ái trong Kinh Thánh 1) Kinh Thánh Cựu Ước
2) Thánh Kinh Tân Ước
2b. Nói rõ hơn về đồng tính luyến ái
2c. Thái độ đối xử tích cực
3. LẬP TRƯỜNG CỦA GIÁO HỘI
4. THÁI ĐỘ PHẢI CÓ
5. LÒNG CẢM THÔNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LẦM LỖI
VII. FEED-BACK, KỸ THUẬT CHỈ BẢO HUYNH ĐỆ
(Slideshow “Chiếc bình nứt”)
1. Vào đề
2. Cho và Nhận Feed-Back
2a. Ý nghĩa và mục đích
2b. Tám điều kiện của người cho Feed-Back
2c. Bốn điều kiện của người nhận Feed-Back
2d. Những lợi ích khi cho và nhận Feed-Back
2e. Chú ý trong sinh hoạt nhóm
(Slideshow “Mười một đường lối”).
VIII. NHỮNG YẾU TỐ NỒNG CỐT CỦA TRƯỞNG THÀNH TÌNH CẢM
1. DẤU HIỆU CỦA SỰ THIẾU TRƯỞNG THÀNH
1a. Sự bốc đồng, hấp tấp
1b. Sự khắt khe cứng cỏi
1c. Những chỉ dẫn của sự thiếu trưởng thành
1) Trong tương quan với bản thân
2) Trong tương quan với tha nhân
3) Trong tương quan với thực tại
1d. Kết quả đáng suy nghĩ của một cuộc nghiên cứu
2. TIẾN ĐẾN SỰ TRƯỞNG THÀNH
2a. Bốn đường lối căn bản để bảo vệ chính mình
1) Đường lối thứ nhất: PHỦ NHẬN
2) Đường lối thứ nhì: TRỐN CHẠY
3) Đường lối thứ ba: CHIẾN ĐẤU
4) Đường lối thứ tư: MĨM CƯỜI
2b. Bốn phương diện của sự trưởng thành
2c. Tiêu chuẩn để đánh giá sự trưởng thành tình cảm
1) Thái độ đối với bản thân
2) Thái độ đối với tha nhân
3) Thái độ đối với thực tại
IX. THẾ NÀO LÀ TRƯỞNG THÀNH?
1. Các đặc tính của sức khoẻ tinh thần
2. Các chuẩn mực của một con người trưởng thành
Một con người trưởng thành thể hiện tốt chính mình
CHƯƠNG HAI
CON ĐƯỜNG SỐNG THÁNH
A. ĐỊNH HƯỚNG TỔNG QUÁT
B. ĐỊNH NGHĨA ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG
C. CÁC MỐI TƯƠNG QUAN VÀ CON ĐƯỜNG SỐNG THÁNH
1. VẬY THÁNH THIỆN LÀ GÌ?
2. THÁNH THIỆN và TỘI LỖI
I. LIÊN HỆ VỚI THIÊN CHÚA, TƯƠNG QUAN NỀN TẢNG
II. TƯƠNG QUAN VỚI THA NHÂN
Tương quan với Giám Mục Bản Quyền
Tương quan với các linh mục đàn anh
Tương quan với các linh mục đàn em
Tương quan với các linh mục tương lai và các mầm non ơn gọi giáo sĩ
Tương quan với các tu sĩ nam nữ
Tương quan với các nữ tu lớn tuổi và có trách nhiệm
Tương quan với các nữ tu bằng tuổi và có trách nhiệm
Tương quan với các nữ tu trẻ
Tương quan với các mầm non ơn gọi tu sĩ
Tương quan với giáo dân nói chung
Tương quan với Ban Hành Giáo
Tương quan với các đoàn thể
Tương quan với những người già cả, bệnh tật và hấp hối
Tương quan với các góa phụ, nhất là góa phụ trẻ
Tương quan với giới trẻ
Tương quan với giới thiếu nhi
Tương quan với những người phục vụ trong nhà xứ, nhất là cô bếp
Tương quan với Chính Quyền
Tương quan với các tôn giáo bạn, nhất là các vị lãnh đạo
Tương quan với lương dân.
Tương quan với giới giàu có
Tương quan với giới nghèo
III. TƯƠNG QUAN VỚI CHÍNH MÌNH: MÔ HÌNH LINH MỤC HÔM NAY VÀ NGÀY MAI
Người được Chúa Thánh Thần thánh hiến, chiếm hữu và hướng dẫn.
Người của siêu nhiên và cầu nguyện.
Người của linh thánh.
Người có một nền tảng Kinh Thánh vững chắc.
Người mở ra với hiệp thông.
Người hăng say truyền giáo.
Người cởi mở đối thoại.
Người của truyền thông xã hội.
Người nhạy cảm với các vấn đề xã hội.
Người của sứ vụ tiên tri.
1. Linh Mục là người được Chúa Thánh Thần chiếm hữu và hướng dẫn
2. Linh Mục là người của siêu nhiên và cầu nguyện
3. Linh Mục là người của linh thánh
4. Linh Mục phải có nền tảng Thánh Kinh vững chắc
5. Linh Mục là người mở ra với Hiệp thông
6. Linh Mục là người hăng sau truyền giáo
7. Linh Mục là người của đối thoại
8. Linh Mục là người của truyền thông xã hội
9. Linh Mục nhạy bén với những đổi thay xã hội
10. Linh Mục là người của sứ vụ tiên tri
Kết luận
IV. TƯƠNG QUAN VỚI MÔI TRƯỜNG SỐNG VÀ THIÊN NHIÊN
V. TƯƠNG QUAN VỚI “TỨ CHUNG”
Cái chết
Phán xét
Thiên Đàng
Hỏa Ngục
NGHĨ VỀ CÁI CHẾT
1. CÁI CHẾT: MỘT CON ĐƯỜNG SỐNG THÁNH
2. CÁI CHẾT: HẠNH PHÚC TRỞ VỀ
PHỤ LỤC I
THẦY XỨ TUYỆT VỜI
1. TƯƠNG QUAN VỚI GIÁM MỤC BẢN QUYỀN
2. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC LINH MỤC ĐÀN ANH
3. TƯƠNG QUAN VỚI ANH EM CHỦNG SINH VÀ CÁC MẦM NON ƠN GỌI GIÁO SĨ
4. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC TU SĨ NAM NỮ
5. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC NỮ TU LỚN TUỔI VÀ CÓ TRÁCH NHIỆM
6. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC NỮ TU BẰNG TUỔI VÀ CÓ TRÁCH NHIỆM
7. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC NỮ TU TRẺ
8. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC MẦM NON ƠN GỌI TU SĨ
9. TƯƠNG QUAN VỚI GIÁO DÂN NÓI CHUNG
10. TƯƠNG QUAN VỚI BAN HÀNH GIÁO
11. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC ĐOÀN THỂ
12. TƯƠNG QUAN VỚI NHỮNG NGƯỜI GIÀ CẢ, BỆNH TẬT VÀ HẤP HỐI
13. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC GÓA PHỤ, NHẤT LÀ GÓA PHỤ TRẺ
14. TƯƠNG QUAN VỚI GIỚI TRẺ
15. TƯƠNG QUAN VỚI GIỚI THIẾU NHI
16. TƯƠNG QUAN VỚI NHỮNG NGƯỜI PHỤC VỤ TRONG NHÀ XỨ, NHẤT LÀ CÔ BẾP
17. TƯƠNG QUAN VỚI CHÍNH QUYỀN
18. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC TÔN GIÁO BẠN, NHẤT LÀ CÁC VỊ LÃNH ĐẠO
19. TƯƠNG QUAN VỚI LƯƠNG DÂN
20. TƯƠNG QUAN VỚI GIỚI GIÀU CÓ
21. TƯƠNG QUAN VỚI GIỚI NGHÈO
NHỮNG TRÔNG ĐỢI
1. LINH MỤC TƯƠNG LAI TRÔNG ĐỢI…
a) Nơi Giám Mục và Linh mục đoàn
b) Nơi bản thân mỗi linh mục
c) Nơi cha xứ
d) Nơi Cha phó
e) Nơi Thầy Xứ
f) Nơi Giáo dân
g) Nơi Chính quyền
2. GIÁO DÂN TRÔNG ĐỢI LINH MỤC
a) Trong tương quan với giáo dân
b) Trong căn tính linh mục
c) Trong đời sống tri thức
d) Trong tác phong linh mục
e) Trong các tương quan
3. Kết luận
CÁC CHƯƠNG KẾ TIẾP
a) Trong tương quan với giáo dân
b) Trong căn tính linh mục
c) Trong đời sống tri thức
d) Trong tác phong linh mục
e) Trong các tương quan
3. Kết luận
CÁC CHƯƠNG KẾ TIẾP
CHƯƠNG BA
CỦNG CỐ NHỮNG BƯỚC ĐẦU: PHÂN ĐỊNH VÀ SỐNG ƠN GỌI
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
B. CÁC KỸ NĂNG THÔNG THƯỜNG
I. BA YẾu TỐ Giúp Phân ĐInh Ơn GỌi
1. Ý Ngay Lành
2. Động Lực Thúc Đẩy Ý Hướng
a. Xác định động lực
b. Một ít động lực
c. Các loại ý hướng
3. Cam Kết Tự Biến Đổi Cho Sứ Vụ
CỦNG CỐ NHỮNG BƯỚC ĐẦU: PHÂN ĐỊNH VÀ SỐNG ƠN GỌI
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
B. CÁC KỸ NĂNG THÔNG THƯỜNG
I. BA YẾu TỐ Giúp Phân ĐInh Ơn GỌi
1. Ý Ngay Lành
2. Động Lực Thúc Đẩy Ý Hướng
a. Xác định động lực
b. Một ít động lực
c. Các loại ý hướng
3. Cam Kết Tự Biến Đổi Cho Sứ Vụ
II. BA VẤN ĐỀ CƠ BẢN VÀ QUYẾT ĐỊNH
1. Biết mình
2. Vấn đề thân mật tính dục
3. Vâng lời
III. VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI ƠN GỌI
1. Khía cạnh tích cực của bối cảnh gia đình
2. Khía cạnh ít tích cực: Mong đợi và hy vọng
1. Biết mình
2. Vấn đề thân mật tính dục
3. Vâng lời
III. VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI ƠN GỌI
1. Khía cạnh tích cực của bối cảnh gia đình
2. Khía cạnh ít tích cực: Mong đợi và hy vọng
IV. ĐÁNH GIÁ ĐỘNG LỰC NỘI TÂM
1. Tính hấp dẫn của ơn gọi
2. Biểu lộ cụ thể ý hướng ngay lành
1. Tính hấp dẫn của ơn gọi
2. Biểu lộ cụ thể ý hướng ngay lành
V. ỨNG SINH TỰ ĐÁNH GIÁ
1. Những điều kiện bên ngoài
2. Những điều kiện tự nhiên
3. Những điều kiện thiêng liêng
BẢNG CÂU HỎI CHI TIẾT GIÚP ỨNG SINH TỰ ĐÁNH GIÁ
1. Những Điều Kiện Bên Ngoài
2. Những Điều Kiện Tự Nhiên
3. Những Điều Kiện Thiêng Liêng
BẢNG ỨNG SINH TỰ KIỂM
1. Bảo Vệ Đời Sống Thiêng Liêng & Ơn Gọi
2. Tăng Trưởng Đời Sống Thiêng Liêng
3. Thao Thức Tông Đồ
VI. TIẾN TRÌNH VÀ NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ CUỐI CÙNG VÀ GỌI TUYÊN KHẤN
1. Những điều kiện bên ngoài
2. Những điều kiện tự nhiên
3. Những điều kiện thiêng liêng
BẢNG CÂU HỎI CHI TIẾT GIÚP ỨNG SINH TỰ ĐÁNH GIÁ
1. Những Điều Kiện Bên Ngoài
2. Những Điều Kiện Tự Nhiên
3. Những Điều Kiện Thiêng Liêng
BẢNG ỨNG SINH TỰ KIỂM
1. Bảo Vệ Đời Sống Thiêng Liêng & Ơn Gọi
2. Tăng Trưởng Đời Sống Thiêng Liêng
3. Thao Thức Tông Đồ
VI. TIẾN TRÌNH VÀ NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ CUỐI CÙNG VÀ GỌI TUYÊN KHẤN
VII. TRẮC NGHIỆM TÂM LY VÀ PHÂN ĐỊNH ƠN GỌI
1. Đông Lực và Những Giới Hạn
2. Tiến Trình
3. Trắc Nghiệm Tâm Lý Trong Việc Tuyển Lựa và Đào Tạo Ứng Sinh
4. Liên Quan Đến Độc Thân Thánh Hiến
1. Đông Lực và Những Giới Hạn
2. Tiến Trình
3. Trắc Nghiệm Tâm Lý Trong Việc Tuyển Lựa và Đào Tạo Ứng Sinh
4. Liên Quan Đến Độc Thân Thánh Hiến
VIII. ỨNG SINH KHÔNG THÍCH HỢP
C. KỸ NĂNG CHUYÊN BIỆT: LINH HƯỚNG
I. Những ý niệm khởi đầu
II. Định nghĩa
III. Các nguyên tắc chung
IV. Ba mối tương quan khép kín trong việc linh hướng:
1. Tương quan vị Linh hướng với Chúa
2. Tương Quan Ứng Sinh Với Chúa
3. Tương Quan Ứng Sinh Và Vị Linh Hướng
V. TƯƠNG TÁC TÒA TRONG VÀ TÒA NGOÀI
1. Định Nghĩa
2. Tiến Trình và Tương Tác Giữa Tòa Trong và Tòa Ngoài
3. Thinh Lặng trong tiến trình Tòa Trong
VI. SỰ CẦN THIẾT VÀ GIÁ TRỊ CỦA THINH LẶNG
1. Điều Kiện Thiết Yếu Cho Đời Sống Nội Tâm
2. Những hỗ trợ của thinh lặng
VII. NỘi Dung & TiẾn Trình GẶp Linh HưỚng
1. Lắng Nghe
2. Chú Tâm vào Hình Ảnh Thiên Chúa
3. Giúp Làm Sáng Tỏ Kinh Nghiệm
4. Nhận Ra và Làm Sáng Tỏ Hệ Thống Giá Trị
5. Khẳng Định Và Thách Đố
6. Giáo Huấn Và Hội Nhập
7. Trách Nhiệm
8. Trợ Giúp Trong Lúc Khó Khăn
9. Cầu Nguyện
VIII. NHỮNG Nguyên TẮc Thay ĐỔi VỊ Linh HưỚng
IX. VỊ LINH HƯỚNG TỐT
1. Các Đức Tính của Vị Linh Hướng Tốt
2. Những Gì Vị Linh Hướng Tốt Phải Tránh
3. Những Gì Vị Linh Hướng Tốt Phải Làm
CHƯƠNG BỐN
ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN VÀ ĐỜI SỐNG NỘI TÂM
A. NHẬP ĐỀ TỔNG QUÁT
1. Nhu cầu cầu nguyện
2. Vấn đề lo ra / chia trí
3. Nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện
B. CÁC CÁCH CẦU NGUYỆN
1. Cầu Nguyện Bằng Lời
2. Cầu Nguyện Bằng Trí
3. Cầu Nguyện Chiêm Niệm
4. Cầu Nguyện Độc Hữu và Cầu Nguyện Liên Lỉ
C. CÁC ĐẶC TÍNH CỦA LỜI CẦU NGUYỆN
1. Lời Cầu Nguyện Tín Hữu
2. Lời Cầu Nguyện Tông Đồ
3. Lời Cầu Nguyện Mục Vụ
4. Cầu nuyện thế nào?
5. Lời cầu nguyện biến đổi chúng ta
D. PHƯƠNG THẾ ĐÀO TẠO SỐNG CẦU NGUYỆN
1. Trách Nhiệm
2. Thời Khắc
3. Nơi Chốn
E. CÁC HÌNH THỨC CẦU NGUYỆN.
I. LIÊN QUAN ĐẾN LỜI CHÚA
1. Lời Chúa
2. Lectio divina
3. Phụng vụ các giờ kinh
4. Nguyện gẫm
5. Sách thiêng liêng
II. BIỂU TƯỢNG & NGHI THỨC
1. Bí tích Thánh Thể
2. Bí tích sám hối
3. Sùng kính Mẹ Maria
F. CÁCH CẦU NGUYỆN Á CHÂU VÀ VIỆT NAM
1. Thực tế không mong đợi
2. Cầu nguyện theo phong thái Á Châu
3. Ích Lợi của cách cầu nguyện Á Châu
4. Cầu Nguyện Tập Trung
5. Vượt Qua Những Khó Khăn
G. THINH LẶNG VÀ ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN
1. Thinh lặng cần thiết cho cầu nguyện
2. Thinh Lặng trong Phụng Vụ
3. Thinh Lặng Trong Nhà
4. Thinh Lặng Cấm Phòng hay Tĩnh Tâm
5. Thinh Lặng và Tiếng Chúa
H. SỨC MẠNH CỦA LỜI CẦU NGUYỆN
1. Qua Chúa Giêsu
2. Cầu nguyện là hiệp thông
3. Lời cầu nguyện làm ích cho bạn
4. Lời cầu nguyện sinh ích cho kẻ khác
5. Suy tư vầ cầu nguyện
I. ĐỂ THÀNH NGƯỜI ĐÀO TẠO VÀ HƯỚNG DẪN KẺ KHÁC CẦU NGUYỆN
1. Học Chủ Sự Cầu Nguyện
2. Học Hướng Dẫn Thiêng Liêng
Kết luận
PHỤ LỤC II
1. Cha Phó dễ thương
2. Cha Sở như lòng Chúa mong muốn
[1] MP. Trần Minh Huy, Đào tạo và tự đào tạo thiêng liêng… tr.283-291.
I. Những ý niệm khởi đầu
II. Định nghĩa
III. Các nguyên tắc chung
IV. Ba mối tương quan khép kín trong việc linh hướng:
1. Tương quan vị Linh hướng với Chúa
2. Tương Quan Ứng Sinh Với Chúa
3. Tương Quan Ứng Sinh Và Vị Linh Hướng
V. TƯƠNG TÁC TÒA TRONG VÀ TÒA NGOÀI
1. Định Nghĩa
2. Tiến Trình và Tương Tác Giữa Tòa Trong và Tòa Ngoài
3. Thinh Lặng trong tiến trình Tòa Trong
VI. SỰ CẦN THIẾT VÀ GIÁ TRỊ CỦA THINH LẶNG
1. Điều Kiện Thiết Yếu Cho Đời Sống Nội Tâm
2. Những hỗ trợ của thinh lặng
VII. NỘi Dung & TiẾn Trình GẶp Linh HưỚng
1. Lắng Nghe
2. Chú Tâm vào Hình Ảnh Thiên Chúa
3. Giúp Làm Sáng Tỏ Kinh Nghiệm
4. Nhận Ra và Làm Sáng Tỏ Hệ Thống Giá Trị
5. Khẳng Định Và Thách Đố
6. Giáo Huấn Và Hội Nhập
7. Trách Nhiệm
8. Trợ Giúp Trong Lúc Khó Khăn
9. Cầu Nguyện
VIII. NHỮNG Nguyên TẮc Thay ĐỔi VỊ Linh HưỚng
IX. VỊ LINH HƯỚNG TỐT
1. Các Đức Tính của Vị Linh Hướng Tốt
2. Những Gì Vị Linh Hướng Tốt Phải Tránh
3. Những Gì Vị Linh Hướng Tốt Phải Làm
CHƯƠNG BỐN
ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN VÀ ĐỜI SỐNG NỘI TÂM
A. NHẬP ĐỀ TỔNG QUÁT
1. Nhu cầu cầu nguyện
2. Vấn đề lo ra / chia trí
3. Nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện
B. CÁC CÁCH CẦU NGUYỆN
1. Cầu Nguyện Bằng Lời
2. Cầu Nguyện Bằng Trí
3. Cầu Nguyện Chiêm Niệm
4. Cầu Nguyện Độc Hữu và Cầu Nguyện Liên Lỉ
C. CÁC ĐẶC TÍNH CỦA LỜI CẦU NGUYỆN
1. Lời Cầu Nguyện Tín Hữu
2. Lời Cầu Nguyện Tông Đồ
3. Lời Cầu Nguyện Mục Vụ
4. Cầu nuyện thế nào?
5. Lời cầu nguyện biến đổi chúng ta
D. PHƯƠNG THẾ ĐÀO TẠO SỐNG CẦU NGUYỆN
1. Trách Nhiệm
2. Thời Khắc
3. Nơi Chốn
E. CÁC HÌNH THỨC CẦU NGUYỆN.
I. LIÊN QUAN ĐẾN LỜI CHÚA
1. Lời Chúa
2. Lectio divina
3. Phụng vụ các giờ kinh
4. Nguyện gẫm
5. Sách thiêng liêng
II. BIỂU TƯỢNG & NGHI THỨC
1. Bí tích Thánh Thể
2. Bí tích sám hối
3. Sùng kính Mẹ Maria
F. CÁCH CẦU NGUYỆN Á CHÂU VÀ VIỆT NAM
1. Thực tế không mong đợi
2. Cầu nguyện theo phong thái Á Châu
3. Ích Lợi của cách cầu nguyện Á Châu
4. Cầu Nguyện Tập Trung
5. Vượt Qua Những Khó Khăn
G. THINH LẶNG VÀ ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN
1. Thinh lặng cần thiết cho cầu nguyện
2. Thinh Lặng trong Phụng Vụ
3. Thinh Lặng Trong Nhà
4. Thinh Lặng Cấm Phòng hay Tĩnh Tâm
5. Thinh Lặng và Tiếng Chúa
H. SỨC MẠNH CỦA LỜI CẦU NGUYỆN
1. Qua Chúa Giêsu
2. Cầu nguyện là hiệp thông
3. Lời cầu nguyện làm ích cho bạn
4. Lời cầu nguyện sinh ích cho kẻ khác
5. Suy tư vầ cầu nguyện
I. ĐỂ THÀNH NGƯỜI ĐÀO TẠO VÀ HƯỚNG DẪN KẺ KHÁC CẦU NGUYỆN
1. Học Chủ Sự Cầu Nguyện
2. Học Hướng Dẫn Thiêng Liêng
Kết luận
PHỤ LỤC II
1. Cha Phó dễ thương
2. Cha Sở như lòng Chúa mong muốn
[1] MP. Trần Minh Huy, Đào tạo và tự đào tạo thiêng liêng… tr.283-291.
CHƯƠNG MỘT
SỐNG TỐT ĐỜI SỐNG ĐỘC THÂN LINH MỤC
TRONG BỐI CẢNH GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM HÔM NAY
Điều khẳng định căn để là bản chất đời sống độc thân linh mục vẫn là một đòi buộc không hề thay đổi trong Giáo Hội Công giáo Rôma và được các đương sự tự nguyện dấn thân vào. Nhưng trong bối cảnh xã hội hôm nay, nó phải được hiểu, được sống và được bảo vệ một cách tế nhị, cương quyết và khôn ngoan dù khó khăn hơn.
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Có một cái gì đó thức tỉnh và thúc giục chúng ta khi đọc những kết luận giật mình được công bố trong cuộc Hội thảo “Giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ở nước ta hiện nay - Thực trạng và Giải pháp” do Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam tổ chức tại Đồng Nai[1].
1. Càng lên cao, người trẻ càng... “hư”
a. Tỷ lệ quay cóp: Rất ngạc nhiên khi có tới 8% học sinh tiểu học đã... quay cóp. Con số này lên đến bậc THCS và THPT đã nhảy vọt thành 55% - 60% và đến bậc ĐH, CĐ đã thành 69%.
b. Tỷ lệ nói dối: Ở bậc Tiểu học, đã có tới 22% nói dối cha mẹ, còn ở bậc THCS và THPT thì có tới 50% - 64% học sinh lừa cha dối mẹ. Và ở bậc ĐH, CĐ có đến hơn 80% sinh viên sẵn sàng nói dối để qua mặt phụ huynh.
c. Tỷ lệ thiếu niên phạm pháp cũng ngày một tăng cao: năm 1986 có 3.607, năm 1996 có 11.726 em vị thành niên phạm tội bị phát hiện (gấp 3 lần). Trung bình mỗi năm trên cả nước có 4.746 thiếu niên phạm pháp.
d. Nạn ma túy học đường gia tăng đột biến ngày càng trở thành vấn đề nhức nhối: Năm 2004 chỉ có 600 học sinh, sinh viên nghiện ma túy, đến năm 2007 con số này đã tăng lên 1.234 học sinh, sinh viên.
2. Phong cách sống đạo đức của học sinh, sinh viên ngày càng “có vấn đề”: Kết quả cuộc điều tra khảo sát năm 2007 tại 30 trường ĐH-CĐ trong cả nước do Vụ Văn hóa - Ban Tư tưởng Văn hóa Trung Ương phối hợp với Vụ Công tác Học sinh Sinh viên (Bộ GD-ĐT) cho thấy 51,4% sinh viên cho rằng “sống thử trước hôn nhân là hiện tượng khá phổ biến” và được coi là “bình thường”
3. Áp đặt + Nhồi nhét = Hư?
- Chúng ta vẫn nặng về dạy chữ, nhẹ về dạy người. Nhiều giáo viên lên lớp chỉ lo truyền giảng kiến thức chuyên môn, chứ không chú trọng để uốn nắn chỉnh sửa những sai trái của học trò mình.
- Gia đình buông lỏng việc quản lý giáo dục con cái, để trẻ ngày càng tách khỏi thế giới thực và bị cuốn hút bởi những trò chơi bạo lực ly kì, hấp dẫn trên TV mà quên đi nhiệm vụ học tập, giúp đỡ gia đình.
- Việc giáo dục đạo đức trong nhà trường từ bậc phổ thông đến đại học còn nhiều bất ổn: Các chương trình giáo dục đạo đức còn nặng về lý thuyết, nhẹ giáo dục kỹ năng sống, không tạo được dấu ấn và điều kiện thuận lợi để hình thành nhân cách cho học sinh.
- Tác động của nền kinh tế thị trường, sự hội nhập các nền văn hóa và sự hấp dẫn của đời sống đô thị đã làm cho các giá trị đạo đức truyền thống bị xâm hại và mai một dần.
- Người trẻ càng lớn càng hư vì nhiều năm qua họ phải thụ hưởng một nền giáo dục đạo đức theo kiểu quan liêu, giáo điều, áp đặt, nhồi nhét và khô cứng mà không được tôn trọng thật sự.
- Cần coi trọng tính thực tiễn trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên: Thầy cô cần tích cực liên hệ thực tiễn, đưa ra nhiều tình huống để các em tự giải quyết, qua đó các em nhận thức được giá trị sống, học được kỹ năng cơ bản và định hướng hành vi. Nội dung chương trình các môn học khác cần được lồng ghép với nội dung giáo dục một cách phù hợp.
- Yếu tố kinh tế là vấn đề nổi cộm nhất, mà môi trường gia đình và xã hội có nhiều yếu tố xấu tác động trực tiếp đến nhân cách học sinh, đặc biệt là vấn đề đạo đức”.
4. Nhận định của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
“Ngày nay, một trong những điều gây nhức nhối lương tâm là sự gian dối trong nhiều lãnh vực, kể cả trong môi trường cần đến sự thật nhiều nhất là giáo dục học đường. Chắc chắn tất cả những ai tha thiết với tiền đồ của đất nước và dân tộc không thể không quan tâm đến tình trạng này... Do đó, việc giáo dục đạo đức và lương tâm phải là trách nhiệm hàng đầu của toàn xã hội, và cần đến sự tham gia tích cực của người dân cũng như các tổ chức xã hội”[2]
5. Chúng ta cùng ngẫm nghĩ và nỗ lực cải tiến
Cuộc sống đức tin, nhất là đời sống ơn gọi, luôn là lối đi ngược dòng với xu hướng thời đại của nền văn minh sự chết. Tuy nhiên, sống trong một bối cảnh xã hội như thế, chắc chắn các thanh thiếu niên nam nữ Công giáo cũng không thể không phải chịu ảnh hưởng.
Thật thế, trong Huấn Thị “Những chỉ dẫn về việc huấn luyện trong các dòng tu,” Bộ Tu sĩ nhận định: “… Thường có sự chênh lệch giữa những kiến thức đời, đôi khi rất chuyên môn, với sự tăng trưởng tâm lý và đời sống kitô… Họ cũng chịu ảnh hưởng của một xã hội tiêu thụ cùng với những thất vọng của nó. Khi đạt tới một địa vị xã hội, đôi khi rất vất vả, một số đã bị băng hoại do bạo lực, ma túy và dâm ô… Trong số những ứng sinh vào đời tu, càng ngày càng có không ít thanh niên đã có những kinh nghiệm thương đau trong lãnh vực vừa kể trên… đòi phải được thanh lọc và uốn nắn lại”[3]
SỐNG TỐT ĐỜI SỐNG ĐỘC THÂN LINH MỤC
TRONG BỐI CẢNH GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM HÔM NAY
Điều khẳng định căn để là bản chất đời sống độc thân linh mục vẫn là một đòi buộc không hề thay đổi trong Giáo Hội Công giáo Rôma và được các đương sự tự nguyện dấn thân vào. Nhưng trong bối cảnh xã hội hôm nay, nó phải được hiểu, được sống và được bảo vệ một cách tế nhị, cương quyết và khôn ngoan dù khó khăn hơn.
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Có một cái gì đó thức tỉnh và thúc giục chúng ta khi đọc những kết luận giật mình được công bố trong cuộc Hội thảo “Giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ở nước ta hiện nay - Thực trạng và Giải pháp” do Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam tổ chức tại Đồng Nai[1].
1. Càng lên cao, người trẻ càng... “hư”
a. Tỷ lệ quay cóp: Rất ngạc nhiên khi có tới 8% học sinh tiểu học đã... quay cóp. Con số này lên đến bậc THCS và THPT đã nhảy vọt thành 55% - 60% và đến bậc ĐH, CĐ đã thành 69%.
b. Tỷ lệ nói dối: Ở bậc Tiểu học, đã có tới 22% nói dối cha mẹ, còn ở bậc THCS và THPT thì có tới 50% - 64% học sinh lừa cha dối mẹ. Và ở bậc ĐH, CĐ có đến hơn 80% sinh viên sẵn sàng nói dối để qua mặt phụ huynh.
c. Tỷ lệ thiếu niên phạm pháp cũng ngày một tăng cao: năm 1986 có 3.607, năm 1996 có 11.726 em vị thành niên phạm tội bị phát hiện (gấp 3 lần). Trung bình mỗi năm trên cả nước có 4.746 thiếu niên phạm pháp.
d. Nạn ma túy học đường gia tăng đột biến ngày càng trở thành vấn đề nhức nhối: Năm 2004 chỉ có 600 học sinh, sinh viên nghiện ma túy, đến năm 2007 con số này đã tăng lên 1.234 học sinh, sinh viên.
2. Phong cách sống đạo đức của học sinh, sinh viên ngày càng “có vấn đề”: Kết quả cuộc điều tra khảo sát năm 2007 tại 30 trường ĐH-CĐ trong cả nước do Vụ Văn hóa - Ban Tư tưởng Văn hóa Trung Ương phối hợp với Vụ Công tác Học sinh Sinh viên (Bộ GD-ĐT) cho thấy 51,4% sinh viên cho rằng “sống thử trước hôn nhân là hiện tượng khá phổ biến” và được coi là “bình thường”
3. Áp đặt + Nhồi nhét = Hư?
- Chúng ta vẫn nặng về dạy chữ, nhẹ về dạy người. Nhiều giáo viên lên lớp chỉ lo truyền giảng kiến thức chuyên môn, chứ không chú trọng để uốn nắn chỉnh sửa những sai trái của học trò mình.
- Gia đình buông lỏng việc quản lý giáo dục con cái, để trẻ ngày càng tách khỏi thế giới thực và bị cuốn hút bởi những trò chơi bạo lực ly kì, hấp dẫn trên TV mà quên đi nhiệm vụ học tập, giúp đỡ gia đình.
- Việc giáo dục đạo đức trong nhà trường từ bậc phổ thông đến đại học còn nhiều bất ổn: Các chương trình giáo dục đạo đức còn nặng về lý thuyết, nhẹ giáo dục kỹ năng sống, không tạo được dấu ấn và điều kiện thuận lợi để hình thành nhân cách cho học sinh.
- Tác động của nền kinh tế thị trường, sự hội nhập các nền văn hóa và sự hấp dẫn của đời sống đô thị đã làm cho các giá trị đạo đức truyền thống bị xâm hại và mai một dần.
- Người trẻ càng lớn càng hư vì nhiều năm qua họ phải thụ hưởng một nền giáo dục đạo đức theo kiểu quan liêu, giáo điều, áp đặt, nhồi nhét và khô cứng mà không được tôn trọng thật sự.
- Cần coi trọng tính thực tiễn trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên: Thầy cô cần tích cực liên hệ thực tiễn, đưa ra nhiều tình huống để các em tự giải quyết, qua đó các em nhận thức được giá trị sống, học được kỹ năng cơ bản và định hướng hành vi. Nội dung chương trình các môn học khác cần được lồng ghép với nội dung giáo dục một cách phù hợp.
- Yếu tố kinh tế là vấn đề nổi cộm nhất, mà môi trường gia đình và xã hội có nhiều yếu tố xấu tác động trực tiếp đến nhân cách học sinh, đặc biệt là vấn đề đạo đức”.
4. Nhận định của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
“Ngày nay, một trong những điều gây nhức nhối lương tâm là sự gian dối trong nhiều lãnh vực, kể cả trong môi trường cần đến sự thật nhiều nhất là giáo dục học đường. Chắc chắn tất cả những ai tha thiết với tiền đồ của đất nước và dân tộc không thể không quan tâm đến tình trạng này... Do đó, việc giáo dục đạo đức và lương tâm phải là trách nhiệm hàng đầu của toàn xã hội, và cần đến sự tham gia tích cực của người dân cũng như các tổ chức xã hội”[2]
5. Chúng ta cùng ngẫm nghĩ và nỗ lực cải tiến
Cuộc sống đức tin, nhất là đời sống ơn gọi, luôn là lối đi ngược dòng với xu hướng thời đại của nền văn minh sự chết. Tuy nhiên, sống trong một bối cảnh xã hội như thế, chắc chắn các thanh thiếu niên nam nữ Công giáo cũng không thể không phải chịu ảnh hưởng.
Thật thế, trong Huấn Thị “Những chỉ dẫn về việc huấn luyện trong các dòng tu,” Bộ Tu sĩ nhận định: “… Thường có sự chênh lệch giữa những kiến thức đời, đôi khi rất chuyên môn, với sự tăng trưởng tâm lý và đời sống kitô… Họ cũng chịu ảnh hưởng của một xã hội tiêu thụ cùng với những thất vọng của nó. Khi đạt tới một địa vị xã hội, đôi khi rất vất vả, một số đã bị băng hoại do bạo lực, ma túy và dâm ô… Trong số những ứng sinh vào đời tu, càng ngày càng có không ít thanh niên đã có những kinh nghiệm thương đau trong lãnh vực vừa kể trên… đòi phải được thanh lọc và uốn nắn lại”[3]
Chúng ta phải quan tâm đến các mối liên hệ và đời sống độc thân thanh khiết của các ứng sinh trước khi vào Chủng viện hay Dòng tu.[4] Cần phải giúp họ nhận ra được lý tưởng cao cả của chức linh mục và đời sống tu sĩ, cùng những yêu sách tất nhiên của nó ở trong Giáo Hội, hầu kiên trì sử dụng mọi phương thế tự nhiên và siêu nhiên để theo đuổi cho đến cùng.
Đồng thời cũng phải giúp họ thẳng thắn nhìn nhận những cản trở và chiến đấu không thể vượt qua được để lượng sức mình mà đổi hướng sớm, vì con đường linh mục hay tu sĩ không phù hợp cho họ.[5]
Đối với người Việt Nam chúng ta, lãnh vực tính dục rất tế nhị, những người đồng hành, nhất là vị linh hướng, phải làm cho mình trở thành người biết nhẫn nại lắng nghe và khả tín hầu ứng sinh dễ dàng bộc lộ sự thật, đồng thời đừng để mình dễ bị “sốc” và có ngay biện pháp khiến ứng sinh lo sợ và co mình lại, hoặc nói dối, kẻo một lần đã nói dối thì họ sẽ có khuynh hướng nói dối mãi.
Chúng ta cũng phải xét lại đường lối sư phạm của mình còn quá nặng về các môn học kiến thức và nhẹ về môn tu đức. Có dạy và học về tu đức thì cũng còn quá nặng lý thuyết hơn là đưa tu đức vào cuộc sống thực tế hằng ngày. Các môn học khác phải giúp được học viên chiêm ngắm, cầu nguyện và sống tu đức ở trong và qua các môn học đó. Nói cách khác phải kết hợp được hài hòa giữa học và hành, giữa biết và sống, giữa đào tạo và tự đào tạo thiêng liêng.
Biết các thanh niên thiếu nữ Công giáo không phải là những ngoại lệ sống trong thời đại mình, chúng ta phải giúp họ hiểu và sống tốt nguyên vẹn cuộc đời mình trước khi đi vào lựa chọn đời sống hôn nhân hay đời sống linh mục và tu sĩ đúng như Chúa muốn và Giáo Hội dạy. Vì thế, thật hữu ích trong thời gian đầu này, ứng sinh cần được trình bày rõ và tự mình có trách nhiệm đối mặt với những gì đã xảy ra cho mình và giải quyết chúng cùng với vị linh hướng. Có thế thì sự chọn lựa đời sống linh mục hay tu sĩ có hướng dứt khoát ngay từ đầu, để tiến trình đào tạo và tự đào tạo được thanh thản và hiệu quả.
Ứng sinh nào bị phát hiện là không thích hợp, vì khiếm khuyết thể lý, quân bình tâm lý hay luân lý, thì nên nhanh chóng đưa đương sự ra khỏi con đường theo đuổi ơn gọi. Cả hai phía, các nhà đào tạo và ứng sinh, không được phép nuôi dưỡng những hy vọng hảo huyền và những ảo tưởng nguy hiểm, dù biết rằng mỗi vị thánh đều có một quá khứ và mỗi tội nhân đều có một tương lai. Cũng không ai được tự phụ rằng ơn thánh sẽ thay thế cho những khiếm khuyết tự nhiên.
B. Ý NIỆM VỀ ĐỜI SỐNG ĐỘC THÂN LINH MỤC
I. CÁI NHÌN TIÊU CỰC VỀ ĐỘC THÂN LINH MỤC
Người thời nay không tin là người ta có thể sống độc thân khiết tịnh được (x. PDV số 29), và chúng ta cũng phải khiêm tốn nhìn nhận là lắm khi phải chiến đấu cam go, cần nhiều ơn Chúa và khôn ngoan tỉnh thức (x. Câu chuyện “Tôi chịu không nổi…ở Nam Đông”).
Thánh Phaolô chia sẻ: “Có ai trong anh em yếu đuối mà tôi không cảm thấy yếu đuối; có ai trong anh em sa ngã mà tôi không cảm thấy như thiêu như đốt”. Và chính Chúa Giêsu cũng đã dạy: “Các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn để khỏi sa chước cám dỗ, vì tinh thần thì nhẹ nhàng chóng vánh, nhưng xác thịt lại nặng nề yếu đuối.”
Độc thân thánh hiến không phải chỉ là một mình, vì có nhiều người độc thân không sống một mình, nhưng sống với những người khác. Vì thế ở một mình không phải là một định nghĩa tốt về độc thân thánh hiến.
Độc thân thánh hiến không phải là không kết hôn, vì độc thân thánh hiến chẳng những có nghĩa là không kết hôn mà còn là kiêng tính dục sinh dục. Do đó ‘không kết hôn’ không phải là một định nghĩa tốt của độc thân thánh hiến, dù độc thân thánh hiến cấm linh mục và tu sĩ không được kết hôn.
Độc thân thánh hiến không phải là đơn lẻ, vì một người đơn lẻ hay đơn chiếc thì sẵn sàng để kết hôn. Nhưng một người độc thân thánh hiến thì không sẵn sàng để kết hôn. Do đó, độc thân thánh hiến không thể được định nghĩa là sự thoát khỏi người khác phái, con cái, gia đình v.v…
Như thế chúng ta không thể định nghĩa độc thân thánh hiến là đơn lẻ, đơn chiếc, ở một mình, không kết hôn, kiêng cữ thân mật nhục dục v.v… Đó là những cách nhìn tiêu cực về độc thân linh mục.
II. CÁI NHÌN ĐÚNG ĐẮN VỀ ĐỘC THÂN LINH MỤC
Chúng ta phải nhìn độc thân linh mục một cách tích cực hơn: không phải theo cái gì nó không là, nhưng chỉ theo cái gì nó là.
Độc thân linh mục là một lựa chọn đời sống tích cực vì Nước Thiên Chúa. Như thế, độc thân linh mục là một món quà đặc biệt Thiên Chúa ban và được đón nhận vì Nước Trời.
Đoạn Tin Mừng đã trở thành nền tảng cho độc thân thánh hiến là Mt 19,12: “Vì có nhiều lý do khác nhau tại sao người ta trở nên yêm hoạn và không thể kết hôn:
- một số người được sinh ra như thế;
- những người khác, vì người ta làm cho họ ra như vậy;
- và những người khác yêm hoạn vì Nước Trời”
Độc thân khiết tịnh vì Nước Trời mà các linh mục được mời gọi và bị bó buộc phải là một món quà ân sủng đặc biệt được quí chuộng.
Nó giải thoát trái tim con người (1 Cor 7,32-35), để người ấy trở nên sốt sắng hơn trong lòng kính mến Chúa và yêu thương mọi người: “Đàn ông không có vợ thì chuyên lo việc Chúa: họ tìm cách làm đẹp lòng Người. Còn người có vợ thì lo lắng việc đời: họ tìm cách làm đẹp lòng vợ, thế là họ bị chia đôi. Cũng vậy, đàn bà không có chồng và người trinh nữ thì chuyên lo việc Chúa, để thuộc trọn về Người, cả hồn lẫn xác. Còn người có chồng thì lo lắng việc đời: họ tìm cách làm đẹp lòng chồng” (1 Cor 7,32-34).
Vì lý do này, độc thân thánh hiến là biểu tượng cho lợi ích trên trời, và đối với linh mục, tu sĩ thì nó là phương tiện hữu hiệu nhất để hết lòng hiến dâng mình cho việc phụng sự Chúa và các công cuộc tông đồ.[6]
Đời Sống Độc Thân Linh Mục được nêu bật như ân huệ và quà tặng đặc biệt của Thiên Chúa, là lựa chọn một tình yêu không chia sẻ và mạnh mẽ hơn vì Chúa Kitô và vì Nước Thiên Chúa. Đời sống độc thân cần được trình bày rõ ràng, không hàm hồ và theo cách tích cực.
Các chủng sinh cần đạt được mức trưởng thành về tính dục và tâm lý đầy đủ, cùng một cuộc sống cầu nguyện siêng năng và đích thực, dưới sự hướng dẫn của vị linh hướng. Những điều đó sẽ hàm dưỡng khả năng đánh giá giá trị của hi sinh, xả kỷ, tự hiến hết mình, tự giác kỷ luật, đón nhận sự cô tịch và thập giá.
Mọi công việc đào tạo nội tâm phải sinh hoa kết trái trong chính lối sống của ứng sinh: Các ứng sinh phải tìm kiếm Thiên Chúa nơi người khác qua việc phục vụ thừa tác vụ được trao ban nhưng không và đức bác ái mục tử. Do hồng ân này, linh mục và tu sĩ có thể gần gũi hơn với Chúa Giêsu với một trái tim không phân chia, và có thể cống hiến đời mình một cách tròn đầy hơn cho Nước Thiên Chúa.[7]
Optatam Totius[8] muốn Đời Sống Độc Thân Linh Mục phải được trình bày hết sức kỹ lưỡng cho các chủng sinh như là một món quà quí giá của Thiên Chúa, với tình yêu không chia sẻ vì Nước Trời.
Công tác đào tạo này cần được bổ sung bằng những khám phá mới nhất của khoa sư phạm và tâm lý lành mạnh, nhằm biết làm thế nào tránh được những hiểm nguy đe doạ đức trong sạch, làm thế nào đạt tới mức trưởng thành về nhân bản và làm chủ suy nghĩ, cơ thể, bản năng, tình cảm và những đam mê của mình.
Các chủng sinh cần được huấn luyện trong tinh thần vâng phục của linh mục, tinh thần sống giản dị và từ bỏ, để họ có thể tự nguyện từ bỏ ngay cả những thứ hợp pháp nhưng không thiết thực. Họ phải khiêm tốn hướng tới và đáp lại đời sống độc thân linh mục một cách tự do và quảng đại dưới ơn trợ giúp và tác động của Chúa Thánh Thần, với những phẩm chất tốt đẹp như thành thật, lòng yêu mến lẽ công bình, lòng trung thành với những lời cam kết, thái độ lịch lãm trong hành động, lòng khiêm tốn và bác ái trong lời nói.
Presbyterorum Ordinis[9] cũng nhắc nhở rằng được Hội thánh Latinh quyết định và bó buộc, Đời Sống Độc Thân Linh Mục được gìn giữ và đánh giá như là món quà của Thiên Chúa, được đón nhận và tuân giữ như một giá trị cao quí của đời sống linh mục. Nó là một dấu chỉ của đức ái mục tử và là một suối nguồi đặc biệt của sự phong phú thiêng liêng.
Thực ra, đời sống độc thân có nhiều khía cạnh thích hợp với chức linh mục. Qua đời sống độc thân, được tuân giữ vì Nước Trời, các linh mục kết hợp với Chúa Kitô dễ dàng hơn bằng một con tim không san sẻ (1 Cr 7,32-34). Qua Chúa Kitô, họ hiến dâng bản thân để phục vụ Thiên Chúa và Dân Ngài, và như thế các ngài dễ dàng trở nên dấu chỉ sống động của một thế giới tương lai.
Các linh mục phải khiêm tốn và nhiệt thành cầu nguyện cho đời sống độc thân và đón nhận đời sống ấy như là một món quà thuộc về ân sủng Thiên Chúa. Cùng với Hội Thánh, họ phải khiêm tốn và kiên định cầu nguyện cho ơn trung thành và sử dụng mọi sự trợ giúp siêu nhiên cũng như tự nhiên, đặc biệt là lối thực hành khổ chế đã được trải nghiệm và chấp thuận trong Hội Thánh. Cả các linh mục và tín hữu đều phải ấp ủ và nài xin Thiên Chúa quà tặng quí giá là đời sống độc thân linh mục cho Giáo Hội.
Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis[10] khẳng định đời sống độc thân linh mục, một nguyên tắc được Hội Thánh Latinh đặt ra cho những ai, nhờ ân sủng Thiên Chúa, tự nguyện đón nhận vì Nước Trời. Ở tình trạng này, các linh mục dễ dàng ở gần Chúa Kitô hơn với một trái tim không chia sẻ; tự do hơn trong việc trao hiến chính mình phục vụ Chúa và Dân Chúa, và đón nhận chức linh mục với lòng quảng đại.
Bởi vậy, các linh mục tương lai phải ý thức và đón nhận đời sống độc thân như là một món quà đặc biệt Chúa ban. Nhờ đời sống dành trọn cho việc cầu nguyện, cho mối hiệp nhất với Chúa Kitô, cho đức ái huynh đệ chân thành, họ có thể giữ gìn cách hân hoan và trọn vẹn đời sống độc thân của mình. Họ cần có được tự do hoàn toàn về tâm lý, cả bề trong lẫn bề ngoài, và đạt mức ổn định về tình cảm, để hiểu rõ và sống đời độc thân như là sự kiện toàn bản thân vì Nước Trời. Một nền giáo dục thích đáng về giới tính sẽ dẫn đưa họ tới một tình yêu trong trắng đối với con người hơn là một nỗi lo âu nhằm tránh tội, như vậy nhằm chuẩn bị cho họ dấn thân vững vàng vào tác vụ mục vụ trong tương lai.
(Hát TRÔNG CẬY CHÚA)
III. HỆ LUẬN
Vậy, lý do quan trọng để chọn độc thân khiết tịnh là “vì Nước Trời.” Độc thân khiết tịnh được một cá nhân đảm nhận là vì cá nhân ấy bị Nước Trời hấp dẫn mãnh liệt. Việc Nước Trời thu hút cá nhân ấy mạnh đến đỗi cá nhân ấy vui lòng hy sinh mọi sự, kể cả đời sống và tình yêu gia đình, để sở hữu Nước ấy. Việc từ bỏ mọi sự này không phải bị cưỡng bách mà là tự nguyện.
Việc nói ‘không’ với đời sống và tình yêu gia đình tìm được ý nghĩa của nó trong bối cảnh thưa ‘vâng’ với Nước Thiên Chúa.
Người ta nên nói ‘không’ với sự vật và con người, khi những sự vật và con người ấy gây trở ngại cho việc linh mục sống cam kết với Chúa và Giáo Hội. Linh mục nói ‘Không’ như vậy là vì Chúa, vì Nước Trời, vì Phúc âm, vì các linh hồn.
Các dụ ngôn về Nước Trời thật hấp dẫn: Kho tàng giấu trong ruộng và Viên ngọc quí (Mt 13,44-45); Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan theo Chúa (Mt 4,18-22).
Vậy Đời Sống Độc Thân Linh mục được nêu bật:
- như ân huệ và quà tặng đặc biệt của Thiên Chúa,
- là lựa chọn tự nguyện và tự do của chính đương sự cho một tình yêu không chia sẻ và mạnh mẽ hơn, vì Chúa Kitô và vì Nước Thiên Chúa.
- Đời sống độc thân linh mục cần được trình bày rõ ràng, không hàm hồ và theo cách tích cực là một kỷ luật của Giáo Hội được tự nguyện chấp nhận,
- Các ứng sinh cần đạt mức trưởng thành về tính dục và tâm lý, với một cuộc sống cầu nguyện siêng năng và đích thực, dưới sự hướng dẫn của vị linh hướng.
Tóm lại: Độc thân thánh hiến phải được hiểu theo những liên hệ tình yêu của con người.Công tác đào tạo này cần được bổ sung bằng những khám phá mới nhất của khoa sư phạm và tâm lý lành mạnh, nhằm biết làm thế nào tránh được những hiểm nguy đe doạ đức trong sạch, làm thế nào đạt tới mức trưởng thành về nhân bản và làm chủ suy nghĩ, cơ thể, bản năng, tình cảm và những đam mê của mình.
Các chủng sinh cần được huấn luyện trong tinh thần vâng phục của linh mục, tinh thần sống giản dị và từ bỏ, để họ có thể tự nguyện từ bỏ ngay cả những thứ hợp pháp nhưng không thiết thực. Họ phải khiêm tốn hướng tới và đáp lại đời sống độc thân linh mục một cách tự do và quảng đại dưới ơn trợ giúp và tác động của Chúa Thánh Thần, với những phẩm chất tốt đẹp như thành thật, lòng yêu mến lẽ công bình, lòng trung thành với những lời cam kết, thái độ lịch lãm trong hành động, lòng khiêm tốn và bác ái trong lời nói.
Presbyterorum Ordinis[9] cũng nhắc nhở rằng được Hội thánh Latinh quyết định và bó buộc, Đời Sống Độc Thân Linh Mục được gìn giữ và đánh giá như là món quà của Thiên Chúa, được đón nhận và tuân giữ như một giá trị cao quí của đời sống linh mục. Nó là một dấu chỉ của đức ái mục tử và là một suối nguồi đặc biệt của sự phong phú thiêng liêng.
Thực ra, đời sống độc thân có nhiều khía cạnh thích hợp với chức linh mục. Qua đời sống độc thân, được tuân giữ vì Nước Trời, các linh mục kết hợp với Chúa Kitô dễ dàng hơn bằng một con tim không san sẻ (1 Cr 7,32-34). Qua Chúa Kitô, họ hiến dâng bản thân để phục vụ Thiên Chúa và Dân Ngài, và như thế các ngài dễ dàng trở nên dấu chỉ sống động của một thế giới tương lai.
Các linh mục phải khiêm tốn và nhiệt thành cầu nguyện cho đời sống độc thân và đón nhận đời sống ấy như là một món quà thuộc về ân sủng Thiên Chúa. Cùng với Hội Thánh, họ phải khiêm tốn và kiên định cầu nguyện cho ơn trung thành và sử dụng mọi sự trợ giúp siêu nhiên cũng như tự nhiên, đặc biệt là lối thực hành khổ chế đã được trải nghiệm và chấp thuận trong Hội Thánh. Cả các linh mục và tín hữu đều phải ấp ủ và nài xin Thiên Chúa quà tặng quí giá là đời sống độc thân linh mục cho Giáo Hội.
Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis[10] khẳng định đời sống độc thân linh mục, một nguyên tắc được Hội Thánh Latinh đặt ra cho những ai, nhờ ân sủng Thiên Chúa, tự nguyện đón nhận vì Nước Trời. Ở tình trạng này, các linh mục dễ dàng ở gần Chúa Kitô hơn với một trái tim không chia sẻ; tự do hơn trong việc trao hiến chính mình phục vụ Chúa và Dân Chúa, và đón nhận chức linh mục với lòng quảng đại.
Bởi vậy, các linh mục tương lai phải ý thức và đón nhận đời sống độc thân như là một món quà đặc biệt Chúa ban. Nhờ đời sống dành trọn cho việc cầu nguyện, cho mối hiệp nhất với Chúa Kitô, cho đức ái huynh đệ chân thành, họ có thể giữ gìn cách hân hoan và trọn vẹn đời sống độc thân của mình. Họ cần có được tự do hoàn toàn về tâm lý, cả bề trong lẫn bề ngoài, và đạt mức ổn định về tình cảm, để hiểu rõ và sống đời độc thân như là sự kiện toàn bản thân vì Nước Trời. Một nền giáo dục thích đáng về giới tính sẽ dẫn đưa họ tới một tình yêu trong trắng đối với con người hơn là một nỗi lo âu nhằm tránh tội, như vậy nhằm chuẩn bị cho họ dấn thân vững vàng vào tác vụ mục vụ trong tương lai.
(Hát TRÔNG CẬY CHÚA)
III. HỆ LUẬN
Vậy, lý do quan trọng để chọn độc thân khiết tịnh là “vì Nước Trời.” Độc thân khiết tịnh được một cá nhân đảm nhận là vì cá nhân ấy bị Nước Trời hấp dẫn mãnh liệt. Việc Nước Trời thu hút cá nhân ấy mạnh đến đỗi cá nhân ấy vui lòng hy sinh mọi sự, kể cả đời sống và tình yêu gia đình, để sở hữu Nước ấy. Việc từ bỏ mọi sự này không phải bị cưỡng bách mà là tự nguyện.
Việc nói ‘không’ với đời sống và tình yêu gia đình tìm được ý nghĩa của nó trong bối cảnh thưa ‘vâng’ với Nước Thiên Chúa.
Người ta nên nói ‘không’ với sự vật và con người, khi những sự vật và con người ấy gây trở ngại cho việc linh mục sống cam kết với Chúa và Giáo Hội. Linh mục nói ‘Không’ như vậy là vì Chúa, vì Nước Trời, vì Phúc âm, vì các linh hồn.
Các dụ ngôn về Nước Trời thật hấp dẫn: Kho tàng giấu trong ruộng và Viên ngọc quí (Mt 13,44-45); Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan theo Chúa (Mt 4,18-22).
Vậy Đời Sống Độc Thân Linh mục được nêu bật:
- như ân huệ và quà tặng đặc biệt của Thiên Chúa,
- là lựa chọn tự nguyện và tự do của chính đương sự cho một tình yêu không chia sẻ và mạnh mẽ hơn, vì Chúa Kitô và vì Nước Thiên Chúa.
- Đời sống độc thân linh mục cần được trình bày rõ ràng, không hàm hồ và theo cách tích cực là một kỷ luật của Giáo Hội được tự nguyện chấp nhận,
- Các ứng sinh cần đạt mức trưởng thành về tính dục và tâm lý, với một cuộc sống cầu nguyện siêng năng và đích thực, dưới sự hướng dẫn của vị linh hướng.
Độc thân thánh hiến là một liên hệ đặc sủng của linh mục, tu sĩ:
- với Thiên Chúa,
- với chính mình,
- với các phần tử của cộng đoàn,
- với mọi người trong thừa tác vụ
- và với cả thiên nhiên.
Độc thân thánh hiến là một đặc sủng của Chúa Thánh Thần ban qua Giáo Hội để làm cho liên hệ tình yêu đích thực giữa linh mục, tu sĩ và các người mình thi hành sứ vụ được dễ dàng.
Độc thân thánh hiến là một lời kêu gọi làm chứng cho những đòi hỏi nội tâm đích thực của tất cả tình yêu con người.
Cái sẽ chiếu tỏa ra qua đời sống độc thân thánh hiến không phải là sự tự chủ của chúng ta, hay sự chúng ta siêu thoát khỏi những đường lối thế trần, nhưng là khả năng yêu thương của chúng ta.
Những mối liên hệ nhân loại lành mạnh không có hại, nhưng đúng hơn nó có lợi cho việc sống độc thân thánh hiến.
Độc thân thánh hiến không phải là chướng ngại vật đối với các liên hệ của chúng ta.
Độc thân thánh hiến không phải là phủ nhận liên hệ con người và tình cảm con người.
Độc thân thánh hiến không rút lui khỏi những liên hệ, nhưng thăng tiến các mối liên hệ.
Độc thân thánh hiến không chối bỏ thân xác, cảm xúc, tình dục v.v…
Độc thân thánh hiến không phải là cái gì làm cho chính bản thân mình thành không còn là con người nữa.
Đúng hơn độc thân thánh hiến giải thoát, để giúp chúng ta yêu tốt hơn, quảng đại hơn, vì độc thân thánh hiến là một lời mời gọi yêu thương mọi người.
Lời mời gọi sống đời độc thân thánh hiến là lời mời gọi tới liên hệ thánh thiện.
Như thế, độc thân thánh hiến là:
- liên hệ “tình yêu bao gồm” hơn là liên hệ “tình yêu loại trừ”
- lời mời gọi yêu người mà không có quyền sở hữu;
- liên hệ tình yêu và chăm sóc người khác, trong đó một người tập trung vào nhiều người hơn là vào một người;
- liên hệ mà trong đó chúng ta yêu người một cách thâm thúy, chân tình, sâu lắng, nồng ấm và vui tươi mà không đi vào nhục dục.
(Hát TÔI XIN CHỌN NGƯỜI)
[1] Trích Tin Việt Nam ngày 7/8/2008
[2] Quan điểm của HĐGMVN về một số vấn đề trong hoàn cảnh hiện nay, I, 2&3, làm tại Xuân Lộc ngày 25/9/2008.
[3] Bộ Tu Sĩ, Huấn thị Những chỉ dẫn về việc huấn luyện trong các Hội Dòng, 2/2/1990 số 88-89.
[4] Micae-Phaolô Trần Minh Huy, Đào tạo và tự đào tạo thiêng liêng của các Linh mục tương lai trong bối cảnh Việt Nam ngày nay, 2006, tr. 51-52.
[5] Xin xem Ephesô 2,1-10.
[6] Vaticanô II, Đức Ái hoàn hảo, 28/10/1965, số 12.
[7] JP II, Pastores Dabo Vobis, 25/3/1992, số 29.
[8] Vaticanô II, Optatm Totius, 28/10/1965, số 9-11.
[9] Vaticanô II, Presbyterorum Ordinis, 7/12/1965, số 15-16.
[10] Bộ Giáo dục Công giáo, Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis, 6/1/1970, số 48.
IV. TRỞ THÀNH ỨNG SINH LINH MỤC
1. Con đường ơn gọi phát sinh từ một cuộc đổi đời và trở thành
1) Trở thành Ứng sinh Linh mục là:
a. Chia cắt với cái đi trước, nghĩa là người đang trở thành ứng sinh linh mục từ bỏ một cách sống, một cách hiểu biết đối với Thiên Chúa, với vũ trụ, với chính mình và tha nhân, tức là con người trần thế bấy lâu nay của mình. Thánh Phaolô khuyên “quên hẳn đàng sau, nhắm phía trước mà chạy tới.”
b. Mở ra với những gì đang đến, nghĩa là một hiện hữu mới, một ý nghĩa độc đáo và bất ngờ đối với cái đi trước. Như thế, sự trở thành mở đường vào cuộc sống ứng sinh linh mục là một sự xé rách, một thứ cái chết, nhưng rách để lành, chết để sống; đó là một thứ biến đổi một mất một còn. NHU CHIM PHUONG HOANG.ppt
Dường như có một đổ vỡ giữa người thanh niên và ứng sinh linh mục. Thật thế, khi anh đang bước vào đời ứng sinh linh mục, anh dường như không còn sống như một thanh niên bình thường nữa, mà sống như một con người thiêng liêng, dù vẫn còn có con người trần tục trong chính mình.
Tính lưỡng diện này vẫn tồn tại lâu dài, có khi suốt cả cuộc đời nữa, trải qua những chiến đấu, dòn mỏng… với thành công và có khi thất bại nữa: “Ai từng chiến thắng mà không hề chiến bại? Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần? Nhưng đây chưa phải trận sau cùng chiến đấu!” (Nguyễn Thái Học).
2) Một kinh nghiệm đổ vỡ
Ta có thể nhìn kinh nghiệm đổ vỡ (sự chia cắt và cái chết) nầy qua hình ảnh Abraham cắt đứt mọi mối quan hệ cộng đồng và yêu thương với gia đình, với đồng bào và thiên nhiên, rời bỏ quê hương để đi tìm một quê hương mới, hầu được triển nở thành thủ lãnh / cha một dân tộc.
Như thế, hành trình theo ơn gọi bẻ gãy tính thuần nhất của những gì đã nhận lãnh trong cuộc đời, ghi khắc một đổ vỡ và thay đổi các giá trị vốn có.
a. Một cuộc đổ vỡ lịch sử và nền tảng
Ứng sinh không sợ nói lên kinh nghiệm bản thân để mô tả thứ thanh tẩy cần thiết hầu đi vào hành trình thiêng liêng, chuẩn bị tiến tới chức linh mục.
Muốn thế, cần có tín nhiệm lẫn nhau thực sự trong việc linh hướng.
Cái quan trọng là có nơi mỗi người một biến cố lịch sử đánh dấu thời khắc trở thành ứng sinh linh mục, và thời khắc đó được sống thường xuyên trong tất cả công cuộc tìm kiếm và thực thi thánh ý Chúa: Linh mục sống căn tính linh mục suốt cả đời.
b. Đổ vỡ là sự khởi đầu
Biện chứng pháp dẫn ta từ đối chọi tiền đề – phản đề đến một quan điểm mới (hợp đề).
Cũng thế, mỗi một đổ vỡ mở ra một khởi đầu mới:
Tiền đề ↔ Phản đề → Hợp đề
Hợp đề này = Tiền đề mới ↔ Phản đề mới → Hợp đề mới = Tiền đề mới ….
c. Sống ơn gọi như sự chia tách:
Sự kiện người đi tu xem ra hiện hữu tách biệt với người đời khiến người ta than phiền đi tu là cắt khỏi cuộc sống (xuất thế).
Nhưng một cách nào đó đời tu đòi lại sự chia tách nầy (nhập thế) và khoảng cách giữa tu và không tu là một dữ kiện có một ý nghĩa hữu lý: sống một cách khác hợp với chọn lựa của đời mình.
Như thế, đổ vỡ nầy đánh dấu sự khởi đầu của tất cả mọi cuộc đời.
2. Chết cho cái cũ và sống cho cái mới
Phải chăng tu và không tu có mâu thuẫn và loại trừ lẫn nhau, và mối tương quan được định nghĩa bằng cái chết?
Có thể nói đây là một bạo lực ngọt ngào: giết chết cái chất trần tục trong con người mình, để cuối cùng được sinh ra trong con người tu: “Anh em hãy mặc lấy con người mới đã được Đức Kitô Phục Sinh biến đổi” - “Phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thọ tạo mới. Cái cũ đã qua đi và cái mới đã có đây rồi” (2 Cr 5:17).
Trong sự thay đổi đó, tinh thần theo Chúa Kitô là chủ đạo: thay đổi con tim, tâm thức, lối sống và cuộc sống.
Luật của sự sống và sinh trưởng là thay đổi, và mỗi chặng đường sinh trưởng của con người đều được ghi dấu bằng những thay đổi quyết định. Và đó là tiến trình lâu dài của một công cuộc hợp tác giữa đào tạo và tự đào tạo, vừa thần linh vừa nhân loại.
Đời sống ơn gọi sẽ theo tiến trình này:
- Chính Chúa cất tiếng gọi.
- Ứng sinh đích thân đáp lại và cam kết theo chính Chúa Kitô.
- Ứng sinh biến đổi cho phù hợp với đời sống ơn gọi.
- Ứng sinh dấn thân phục vụ Chúa trong tha nhân qua việc chịu chức.
Việc biện phân nghiêm túc sẽ dẫn tới hai kết quả này:
- Hoặc anh không có ơn gọi: anh nên đổi hướng sống trong bình an, đồng thời bước theo con đường Chúa mời gọi anh đi với can đảm và hạnh phúc.
- Hoặc anh có ơn gọi: anh tiếp tục đi tới với niềm vui tươi, hy vọng và hạnh phúc, mặc dù anh sẽ gặp thấy những khó khăn và đen tối trong cuộc sống lữ hành của anh.
Tuy nhiên, mặc dù anh tự kiểm một cách nghiêm túc, anh vẫn không thể tuyệt đối chắc chắn về ơn gọi của mình. Anh cần được sự linh hướng thích hợp.
Sự chấp thuận của Bề Trên Giáo Hội sẽ hoàn tất chọn lựa này và làm cho anh an tâm.
Nói cách khác, sự chọn lựa và quyết định với tự do nội tâm của anh (tòa trong) phải được xác lập và công nhận bởi thẩm quyền Giáo Hội (tòa ngoài): Hội đồng Chủng viện bỏ phiếu quyết định (biểu lộ sự kêu gọi của Chúa), có thể được trợ giúp bởi việc tham khảo (lượng định) của Cộng đoàn Dân Chúa.
Muốn cho việc hướng tới đời sống mới này thành công, chúng ta phải đặt mình trong tay Chúa DU NGON CAY VIET CHI.ppt
1. Con đường ơn gọi phát sinh từ một cuộc đổi đời và trở thành
1) Trở thành Ứng sinh Linh mục là:
a. Chia cắt với cái đi trước, nghĩa là người đang trở thành ứng sinh linh mục từ bỏ một cách sống, một cách hiểu biết đối với Thiên Chúa, với vũ trụ, với chính mình và tha nhân, tức là con người trần thế bấy lâu nay của mình. Thánh Phaolô khuyên “quên hẳn đàng sau, nhắm phía trước mà chạy tới.”
b. Mở ra với những gì đang đến, nghĩa là một hiện hữu mới, một ý nghĩa độc đáo và bất ngờ đối với cái đi trước. Như thế, sự trở thành mở đường vào cuộc sống ứng sinh linh mục là một sự xé rách, một thứ cái chết, nhưng rách để lành, chết để sống; đó là một thứ biến đổi một mất một còn. NHU CHIM PHUONG HOANG.ppt
Dường như có một đổ vỡ giữa người thanh niên và ứng sinh linh mục. Thật thế, khi anh đang bước vào đời ứng sinh linh mục, anh dường như không còn sống như một thanh niên bình thường nữa, mà sống như một con người thiêng liêng, dù vẫn còn có con người trần tục trong chính mình.
Tính lưỡng diện này vẫn tồn tại lâu dài, có khi suốt cả cuộc đời nữa, trải qua những chiến đấu, dòn mỏng… với thành công và có khi thất bại nữa: “Ai từng chiến thắng mà không hề chiến bại? Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần? Nhưng đây chưa phải trận sau cùng chiến đấu!” (Nguyễn Thái Học).
2) Một kinh nghiệm đổ vỡ
Ta có thể nhìn kinh nghiệm đổ vỡ (sự chia cắt và cái chết) nầy qua hình ảnh Abraham cắt đứt mọi mối quan hệ cộng đồng và yêu thương với gia đình, với đồng bào và thiên nhiên, rời bỏ quê hương để đi tìm một quê hương mới, hầu được triển nở thành thủ lãnh / cha một dân tộc.
Như thế, hành trình theo ơn gọi bẻ gãy tính thuần nhất của những gì đã nhận lãnh trong cuộc đời, ghi khắc một đổ vỡ và thay đổi các giá trị vốn có.
a. Một cuộc đổ vỡ lịch sử và nền tảng
Ứng sinh không sợ nói lên kinh nghiệm bản thân để mô tả thứ thanh tẩy cần thiết hầu đi vào hành trình thiêng liêng, chuẩn bị tiến tới chức linh mục.
Muốn thế, cần có tín nhiệm lẫn nhau thực sự trong việc linh hướng.
Cái quan trọng là có nơi mỗi người một biến cố lịch sử đánh dấu thời khắc trở thành ứng sinh linh mục, và thời khắc đó được sống thường xuyên trong tất cả công cuộc tìm kiếm và thực thi thánh ý Chúa: Linh mục sống căn tính linh mục suốt cả đời.
b. Đổ vỡ là sự khởi đầu
Biện chứng pháp dẫn ta từ đối chọi tiền đề – phản đề đến một quan điểm mới (hợp đề).
Cũng thế, mỗi một đổ vỡ mở ra một khởi đầu mới:
Tiền đề ↔ Phản đề → Hợp đề
Hợp đề này = Tiền đề mới ↔ Phản đề mới → Hợp đề mới = Tiền đề mới ….
c. Sống ơn gọi như sự chia tách:
Sự kiện người đi tu xem ra hiện hữu tách biệt với người đời khiến người ta than phiền đi tu là cắt khỏi cuộc sống (xuất thế).
Nhưng một cách nào đó đời tu đòi lại sự chia tách nầy (nhập thế) và khoảng cách giữa tu và không tu là một dữ kiện có một ý nghĩa hữu lý: sống một cách khác hợp với chọn lựa của đời mình.
Như thế, đổ vỡ nầy đánh dấu sự khởi đầu của tất cả mọi cuộc đời.
2. Chết cho cái cũ và sống cho cái mới
Phải chăng tu và không tu có mâu thuẫn và loại trừ lẫn nhau, và mối tương quan được định nghĩa bằng cái chết?
Có thể nói đây là một bạo lực ngọt ngào: giết chết cái chất trần tục trong con người mình, để cuối cùng được sinh ra trong con người tu: “Anh em hãy mặc lấy con người mới đã được Đức Kitô Phục Sinh biến đổi” - “Phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thọ tạo mới. Cái cũ đã qua đi và cái mới đã có đây rồi” (2 Cr 5:17).
Trong sự thay đổi đó, tinh thần theo Chúa Kitô là chủ đạo: thay đổi con tim, tâm thức, lối sống và cuộc sống.
Luật của sự sống và sinh trưởng là thay đổi, và mỗi chặng đường sinh trưởng của con người đều được ghi dấu bằng những thay đổi quyết định. Và đó là tiến trình lâu dài của một công cuộc hợp tác giữa đào tạo và tự đào tạo, vừa thần linh vừa nhân loại.
Đời sống ơn gọi sẽ theo tiến trình này:
- Chính Chúa cất tiếng gọi.
- Ứng sinh đích thân đáp lại và cam kết theo chính Chúa Kitô.
- Ứng sinh biến đổi cho phù hợp với đời sống ơn gọi.
- Ứng sinh dấn thân phục vụ Chúa trong tha nhân qua việc chịu chức.
Việc biện phân nghiêm túc sẽ dẫn tới hai kết quả này:
- Hoặc anh không có ơn gọi: anh nên đổi hướng sống trong bình an, đồng thời bước theo con đường Chúa mời gọi anh đi với can đảm và hạnh phúc.
- Hoặc anh có ơn gọi: anh tiếp tục đi tới với niềm vui tươi, hy vọng và hạnh phúc, mặc dù anh sẽ gặp thấy những khó khăn và đen tối trong cuộc sống lữ hành của anh.
Tuy nhiên, mặc dù anh tự kiểm một cách nghiêm túc, anh vẫn không thể tuyệt đối chắc chắn về ơn gọi của mình. Anh cần được sự linh hướng thích hợp.
Sự chấp thuận của Bề Trên Giáo Hội sẽ hoàn tất chọn lựa này và làm cho anh an tâm.
Nói cách khác, sự chọn lựa và quyết định với tự do nội tâm của anh (tòa trong) phải được xác lập và công nhận bởi thẩm quyền Giáo Hội (tòa ngoài): Hội đồng Chủng viện bỏ phiếu quyết định (biểu lộ sự kêu gọi của Chúa), có thể được trợ giúp bởi việc tham khảo (lượng định) của Cộng đoàn Dân Chúa.
Muốn cho việc hướng tới đời sống mới này thành công, chúng ta phải đặt mình trong tay Chúa DU NGON CAY VIET CHI.ppt
C. TÍNH THÂN MẬT CỦA ĐỜI SỐNG ĐỘC THÂN LINH MỤC
I. TÍNH DỤC VÀ KHOÁI CẢM
Tính dục là hồng ân của Thiên Chúa ban như một chiều kích tích cực và lành mạnh của nhân cách. Tính dục có thể là tính dục tình ý hay tính dục sinh dục (tình dục).
1. Tính dục tình ý
Tính dục tình ý là phần tình cảm của nhân cách. Nó là khía cạnh liên hệ nhân bản và bao gồm tính nhạy cảm, sự hiểu biết, sự đón nhận, sự nồng ấm, sự cảm kích, lòng trắc ẩn, sự nâng đỡ, sự săn sóc v.v…
Tính dục tình ý biểu lộ cảm giác yêu mến, gồm những đặc tính tinh thần, xã hội, dễ xúc động với tâm lý riêng cho nam và nữ.
2. Tính dục sinh dục
Tính dục sinh dục hay tình dục ám chỉ những gì liên quan đến kích thích hay sử dụng bộ phận sinh dục của thân thể con người (tự mình hay bởi người khác và cho người khác).
Tính dục Sinh dục gồm hai khía cạnh/mức độ: Tình yêu sinh dục và Ứng xử sinh dục
a1. Tình yêu sinh dục
Tình yêu sinh dục là có những ham muốn sinh dục, cảm giác sinh dục, tư tưởng sinh dục, tưởng tượng sinh dục… nhưng không được thực hiện thành ứng xử.
Cảm nhận tình yêu sinh dục là điều bình thường vì tất cả chúng ta đều là những con người. Tình yêu sinh dục có thể xảy ra, được hoạt hóa tự nhiên hoặc thăng tiến một cách tự phát hay chủ ý.
Cuộc sống hiên ngang đầy can đảm,
Mưu thần chước quỷ biết phòng xa,
Khổ đau không để chồn chân bước,
Nẻo chính hằng theo bỏ lối tà.
Không ngừng bảo vệ luôn gìn giữ,
Thể xác tâm linh mãi vẹn toàn,
Đốt lửa cháy bừng tin cậy mến,
Tiểu trừ tà ý khỏi tâm can.
Đoan trang đức hạnh ngay từ sớm,
Tựa buổi ban mai dệt nắng hồng,
Lửa nóng tin yêu thành chính ngọ,
Tâm thần sẽ thoát cảnh hoàng hôn.
Thánh Thi Kinh Sáng Thứ Hai Tuần I
a2. Cách xử lý tình yêu sinh dục
1) Làm hài lòng
Con người có thể làm hài lòng những cảm giác sinh dục của mình qua ứng xử sinh dục. Nhưng làm hài lòng những cảm giác sinh dục không có chỗ trong đời sống độc thân linh mục: "Về điểm này, đừng ai làm tổn thương hay lừa dối anh chị em mình, vì Chúa là Đấng trừng phạt tất cả những cái đó, như chúng tôi đã từng báo trước và cảnh cáo anh em. Thật vậy, Thiên Chúa đã không kêu gọi chúng ta sống ô uế, nhưng sống thánh thiện" (1 Th 4: 6-7)
2) Ức chế
Ức chế là cách thức xô ngã những cảm giác sinh dục vào vô thức. Nó là phương pháp loại trừ khỏi ý thức những thúc đẩy, cảm nhận, cảm giác làm xáo trộn tâm lý. Đây là sự cố tình không chú ý tới, quên lãng đi, hay hướng qua một cái gì khác.
3) Đàn áp
Đàn áp là hành vi ý thức kiểm soát và kiềm chế một ý nghĩ, một cảm giác và không chấp nhận nó. Người ta ý thức và cố ý gạt bỏ những cảm giác sinh dục, không cho chúng biểu hiện, dựa trên lý trí và có cân nhắc, nghĩa là khi đàn áp những cảm giác sinh dục, chúng ta quyết định không tác động chúng.
Đàn áp những cảm giác sinh dục đôi khi là tốt, nhưng nó cũng có thể gây phiền phức. Trong việc đàn áp những cảm giác sinh dục, nghị lực tâm linh cũng tác động bên trong cơ thể chúng ta.
Đường anh anh đi,
I. TÍNH DỤC VÀ KHOÁI CẢM
Tính dục là hồng ân của Thiên Chúa ban như một chiều kích tích cực và lành mạnh của nhân cách. Tính dục có thể là tính dục tình ý hay tính dục sinh dục (tình dục).
1. Tính dục tình ý
Tính dục tình ý là phần tình cảm của nhân cách. Nó là khía cạnh liên hệ nhân bản và bao gồm tính nhạy cảm, sự hiểu biết, sự đón nhận, sự nồng ấm, sự cảm kích, lòng trắc ẩn, sự nâng đỡ, sự săn sóc v.v…
Tính dục tình ý biểu lộ cảm giác yêu mến, gồm những đặc tính tinh thần, xã hội, dễ xúc động với tâm lý riêng cho nam và nữ.
2. Tính dục sinh dục
Tính dục sinh dục hay tình dục ám chỉ những gì liên quan đến kích thích hay sử dụng bộ phận sinh dục của thân thể con người (tự mình hay bởi người khác và cho người khác).
Tính dục Sinh dục gồm hai khía cạnh/mức độ: Tình yêu sinh dục và Ứng xử sinh dục
a1. Tình yêu sinh dục
Tình yêu sinh dục là có những ham muốn sinh dục, cảm giác sinh dục, tư tưởng sinh dục, tưởng tượng sinh dục… nhưng không được thực hiện thành ứng xử.
Cảm nhận tình yêu sinh dục là điều bình thường vì tất cả chúng ta đều là những con người. Tình yêu sinh dục có thể xảy ra, được hoạt hóa tự nhiên hoặc thăng tiến một cách tự phát hay chủ ý.
Cuộc sống hiên ngang đầy can đảm,
Mưu thần chước quỷ biết phòng xa,
Khổ đau không để chồn chân bước,
Nẻo chính hằng theo bỏ lối tà.
Không ngừng bảo vệ luôn gìn giữ,
Thể xác tâm linh mãi vẹn toàn,
Đốt lửa cháy bừng tin cậy mến,
Tiểu trừ tà ý khỏi tâm can.
Đoan trang đức hạnh ngay từ sớm,
Tựa buổi ban mai dệt nắng hồng,
Lửa nóng tin yêu thành chính ngọ,
Tâm thần sẽ thoát cảnh hoàng hôn.
Thánh Thi Kinh Sáng Thứ Hai Tuần I
a2. Cách xử lý tình yêu sinh dục
1) Làm hài lòng
Con người có thể làm hài lòng những cảm giác sinh dục của mình qua ứng xử sinh dục. Nhưng làm hài lòng những cảm giác sinh dục không có chỗ trong đời sống độc thân linh mục: "Về điểm này, đừng ai làm tổn thương hay lừa dối anh chị em mình, vì Chúa là Đấng trừng phạt tất cả những cái đó, như chúng tôi đã từng báo trước và cảnh cáo anh em. Thật vậy, Thiên Chúa đã không kêu gọi chúng ta sống ô uế, nhưng sống thánh thiện" (1 Th 4: 6-7)
2) Ức chế
Ức chế là cách thức xô ngã những cảm giác sinh dục vào vô thức. Nó là phương pháp loại trừ khỏi ý thức những thúc đẩy, cảm nhận, cảm giác làm xáo trộn tâm lý. Đây là sự cố tình không chú ý tới, quên lãng đi, hay hướng qua một cái gì khác.
3) Đàn áp
Đàn áp là hành vi ý thức kiểm soát và kiềm chế một ý nghĩ, một cảm giác và không chấp nhận nó. Người ta ý thức và cố ý gạt bỏ những cảm giác sinh dục, không cho chúng biểu hiện, dựa trên lý trí và có cân nhắc, nghĩa là khi đàn áp những cảm giác sinh dục, chúng ta quyết định không tác động chúng.
Đàn áp những cảm giác sinh dục đôi khi là tốt, nhưng nó cũng có thể gây phiền phức. Trong việc đàn áp những cảm giác sinh dục, nghị lực tâm linh cũng tác động bên trong cơ thể chúng ta.
Đường anh anh đi,
đường em em đi,
tình nghĩa đôi ta có thế thôi,
đã quyết không mong sum họp nữa,
bận lòng chi nữa lúc chia phôi
(Nữa Chừng Xuân)
4) Thăng hoa
Thăng hoa là tiến trình của nghị lực tâm linh chuyển những cảm giác không chấp nhận được sang hành động và cách ứng xử được xã hội chấp nhận, tán thành: (xem Hồn Bướm Mơ Tiên: “Yêu nhau trong tinh thần, trong lý tưởng…”).
Thăng hoa có lẽ là cơ chế hiệu quả nhất trong việc xử lý những cảm xúc sinh dục. Chúng ta có thể thăng hoa những cảm giác sinh dục bằng cách tái hướng nghị lực đến hành động thăng tiến đời sống tu trì đích thực (“bắt đầu và lại bắt đầu”)
Chúa đã gọi anh,
Chúa đã gọi em.
Chúa đã gọi sao còn một tiếng gọi?!
Lòng như lòng can đảm dẹp mến thương,
Vâng tiếng Chúa,
Quyết giúp nhau sống cho tròn sứ mệnh.
(Hát XIN GIỮ CON)
b. Ứng xử sinh dục
Chính con người mới có tình yêu sinh dục. Nhưng để là con người thì không nhất thiết phải ứng xử theo tình dục. Một người trưởng thành có thể không tự cho phép mình ứng xử theo tình dục, huống chi là một người sống đời thánh hiến trưởng thành.
Ứng xử sinh dục đòi sự cam kết hôn nhân, nên chỉ hôn nhân mới được đòi liên hệ ứng xử sinh dục. Như thế, ứng xử sinh dục không có chỗ trong đời sống độc thân linh mục và trong tình bạn độc thân thánh hiến, vì tình bạn của người độc thân thánh hiến luôn luôn là không có ứng xử sinh dục. Ứng xử sinh dục đối với một người độc thân thánh hiến là không trong sạch.
3. Khoái cẢm
(Slideshow CHÚA ĐÃ CHIẾM ĐOẠT CON RỒI)
Biết loại khoái cảm mà chúng ta cảm nhận trong mình và tìm cách tốt nhất để xử lý chúng là điều tốt.
1) Khoái cảm tinh thần
Khoái cảm này nổi lên từ sự vận hành của trí tuệ con người, nghĩa là trí năng và ý chí (đọc một cuốn sách hay, thưởng thức một bản nhạc ý nghĩa, ngắm một phong cảnh đẹp, v.v…). Không nên lẫn lộn khoái cảm tinh thần với khoái cảm sinh dục.
2) Khoái cảm giác quan
Khoái cảm này đi theo sự vận hành của các giác quan như thị giác, xúc giác, thính giác, vị giác và khứu giác. Có hai loại khoái cảm giác quan:
a. Khoái cảm giác quan đơn thuần
Nổi lên từ hoạt động của các giác quan và thường không liên kết với khoái cảm sinh dục. Không nên lẫn lộn khoái cảm giác quan đơn thuần với khoái cảm sinh dục.
b. Khoái cảm giác quan liên quan đến tình dục
Nổi lên từ sự vận hành của các giác quan và dẫn đến khoái cảm sinh dục.
Lạy Cha cực thánh, nguyện hồng ân vô hạn,
4) Thăng hoa
Thăng hoa là tiến trình của nghị lực tâm linh chuyển những cảm giác không chấp nhận được sang hành động và cách ứng xử được xã hội chấp nhận, tán thành: (xem Hồn Bướm Mơ Tiên: “Yêu nhau trong tinh thần, trong lý tưởng…”).
Thăng hoa có lẽ là cơ chế hiệu quả nhất trong việc xử lý những cảm xúc sinh dục. Chúng ta có thể thăng hoa những cảm giác sinh dục bằng cách tái hướng nghị lực đến hành động thăng tiến đời sống tu trì đích thực (“bắt đầu và lại bắt đầu”)
Chúa đã gọi anh,
Chúa đã gọi em.
Chúa đã gọi sao còn một tiếng gọi?!
Lòng như lòng can đảm dẹp mến thương,
Vâng tiếng Chúa,
Quyết giúp nhau sống cho tròn sứ mệnh.
(Hát XIN GIỮ CON)
b. Ứng xử sinh dục
Chính con người mới có tình yêu sinh dục. Nhưng để là con người thì không nhất thiết phải ứng xử theo tình dục. Một người trưởng thành có thể không tự cho phép mình ứng xử theo tình dục, huống chi là một người sống đời thánh hiến trưởng thành.
Ứng xử sinh dục đòi sự cam kết hôn nhân, nên chỉ hôn nhân mới được đòi liên hệ ứng xử sinh dục. Như thế, ứng xử sinh dục không có chỗ trong đời sống độc thân linh mục và trong tình bạn độc thân thánh hiến, vì tình bạn của người độc thân thánh hiến luôn luôn là không có ứng xử sinh dục. Ứng xử sinh dục đối với một người độc thân thánh hiến là không trong sạch.
3. Khoái cẢm
(Slideshow CHÚA ĐÃ CHIẾM ĐOẠT CON RỒI)
Biết loại khoái cảm mà chúng ta cảm nhận trong mình và tìm cách tốt nhất để xử lý chúng là điều tốt.
1) Khoái cảm tinh thần
Khoái cảm này nổi lên từ sự vận hành của trí tuệ con người, nghĩa là trí năng và ý chí (đọc một cuốn sách hay, thưởng thức một bản nhạc ý nghĩa, ngắm một phong cảnh đẹp, v.v…). Không nên lẫn lộn khoái cảm tinh thần với khoái cảm sinh dục.
2) Khoái cảm giác quan
Khoái cảm này đi theo sự vận hành của các giác quan như thị giác, xúc giác, thính giác, vị giác và khứu giác. Có hai loại khoái cảm giác quan:
a. Khoái cảm giác quan đơn thuần
Nổi lên từ hoạt động của các giác quan và thường không liên kết với khoái cảm sinh dục. Không nên lẫn lộn khoái cảm giác quan đơn thuần với khoái cảm sinh dục.
b. Khoái cảm giác quan liên quan đến tình dục
Nổi lên từ sự vận hành của các giác quan và dẫn đến khoái cảm sinh dục.
Lạy Cha cực thánh, nguyện hồng ân vô hạn,
Chặn đứng ngay những khoái cảm bên ngoài,
Lẻn vào hồn xúi dục tình náo loạn,
Ép tinh thần sa chước độc trần ai.
(Thánh Thi Kinh Sáng thứ Ba tuần IV)
Này ngôn ngữ, xin dằn cho êm lại,
(Thánh Thi Kinh Sáng thứ Ba tuần IV)
Này ngôn ngữ, xin dằn cho êm lại,
Nỗi bất bình, thu xếp gọn một bên,
Còn đôi mắt, ngăn đừng cho cuồng dại,
Thu bóng hình những ảo ảnh phù vân.
Cho tấc dạ trinh bạch như tuyết trắng,
Cho tấc dạ trinh bạch như tuyết trắng,
Mãi can trường trong thử thách đau thương,
Khi tiết độ, khi cầu kinh nguyện ngắm,
Vững tâm theo đường đạo lý luân thường.
(Thánh thi kinh Sáng Thứ Nam tuần IV)
3) Khoái cảm sinh dục
Khoái cảm sinh dục nổi lên là kết quả của sự kích thích cơ quan sinh dục. Sự vận hành của các giác quan cũng có thể kích thích khoái cảm sinh dục nơi một người. Hai loại khoái cảm sinh dục:
a. Khoái cảm sinh dục được muốn trực tiếp
Nếu mục đích chính của một hành động là để có khoái cảm sinh dục thì đó là khoái cảm sinh dục được muốn trực tiếp (ứng xử tình dục). Độc thân thánh hiến loại trừ khoái cảm sinh dục được muốn trực tiếp.
Xin thương bảo vệ hương thanh khiết,
Sợ lúc đêm về giữa cô đơn,
Lợi dụng tối tăm thần quỷ quyệt,
Phóng tên ác độc giết tâm hồn.
Xin che chở trí lòng luôn thoát khỏi,
Dục tình cường bạo cứ đuổi theo,(Thánh thi kinh Sáng Thứ Nam tuần IV)
3) Khoái cảm sinh dục
Khoái cảm sinh dục nổi lên là kết quả của sự kích thích cơ quan sinh dục. Sự vận hành của các giác quan cũng có thể kích thích khoái cảm sinh dục nơi một người. Hai loại khoái cảm sinh dục:
a. Khoái cảm sinh dục được muốn trực tiếp
Nếu mục đích chính của một hành động là để có khoái cảm sinh dục thì đó là khoái cảm sinh dục được muốn trực tiếp (ứng xử tình dục). Độc thân thánh hiến loại trừ khoái cảm sinh dục được muốn trực tiếp.
Xin thương bảo vệ hương thanh khiết,
Sợ lúc đêm về giữa cô đơn,
Lợi dụng tối tăm thần quỷ quyệt,
Phóng tên ác độc giết tâm hồn.
Xin che chở trí lòng luôn thoát khỏi,
Và muôn cảm nghĩ đầy tội lỗi,
Cho mảnh hồn thiêng mãi yêu kiều
(Thánh thi Kinh Chiều thứ Ba tuần IV)
b. Khoái cảm sinh dục được muốn gián tiếp
Nếu khoái cảm sinh dục nổi lên như một phó phẩm của một hành động không trực tiếp muốn, thì đó là khoái cảm sinh dục được muốn gián tiếp (không phải ứng xử tình dục).
Ở đây mục đích chính của hành động là cái gì khác, chứ không phải để tìm khoái cảm sinh dục. Thí dụ vào dịp sinh nhật của một người bạn, bạn mang quà đến tặng diễn tả tình cảm của bạn với người bạn ấy, bạn có thể cảm nhận khoái cảm sinh dục nơi bạn, vì bạn là một con người. Nhưng khoái cảm bạn đang cảm nhận chỉ là phó phẩm của việc bạn bày tỏ tình thương mến.
II. CÁC LOẠI THÂN MẬT CỦA LINH MỤC
1. Thân mật không dành riêng
Thân mật dành riêng là tình bạn được tập trung vào một người duy nhất, có khả năng dẫn đến ứng xử sinh dục.
Sự thân mật người độc thân thánh hiến phải luôn luôn là không dành riêng, bởi vì tình yêu người độc thân thánh hiến không chỉ hướng tới một người duy nhất, nhưng luôn luôn phải mở ra đối với mọi người.
Sự thân mật dành riêng là kẻ thù đối với sự thân mật của người độc thân thánh hiến.
2. Thân mật không sở hữu
Người đang yêu muốn được sở hữu đối tượng. Ghen tương là khuynh hướng sở hữu trong thân mật.
Ghen tuơng nổi lên là kết quả của so sánh. So sánh dẫn đến những mặc cảm tự ti. Không có so sánh thì không có ghen tương. Không có ghen tương có nghĩa là không có sở hữu.
Timothy Radcliffe chỉ ra rằng tình bạn mời gọi những người độc thân thánh hiến giúp đỡ người khác mà không tìm cách sở hữu. Chấp nhận bạn như bạn là, và chấp nhận người bạn yêu như người ấy là, lòng bạn sẽ bình an và đời sống thiêng liêng của bạn sẽ tiến bộ.
3. Thân mật có chọn lựa
Chúng ta được kêu gọi để yêu thương mọi người, nam cũng như nữ. Một người cố gắng sống thân mật với mọi người thì không cảm nghiệm thân mật với riêng một ai cả. Do đó sự thân mật của chúng ta có tính cách chọn lựa. Song chọn lựa ở đây không có nghĩa là chỉ có một người.
Nếu chỉ một người mà thôi, thì đó là tình bạn dành riêng. Nhưng thân mật dành riêng không có chỗ trong đời sống người độc thân thánh hiến, nhất là đối với người khác phái.
4. Khoảng cách và sự riêng tư
Trong sự thân mật của người độc thân thánh hiến, người ta phải giữ khoảng cách trong một số liên hệ, để duy trì tình bạn với những người khác.
Cũng như cuộc sống cá nhân đòi hỏi sự riêng tư thì tình bạn cũng cần sự riêng tư. Bạn bè có quyền có sự riêng tư và tín cẩn gần như tòa trong vậy.
5. Độc lập trong thân mật
Dấu hiệu của sự trưởng thành trong liên hệ tình bạn là tính cách độc lập. Bạn bè phải có sự độc lập của mình. Quá tùy thuộc trong thân mật cũng là dấu hiệu của sự thiếu trưởng thành, vì nó dẫn đến thái độ bất cập hoặc thái quá.
6. Đụng chạm và thân mật
Liên hệ đụng chạm không sinh dục là điều có thể được trong thân mật của người độc thân thánh hiến. Nhưng nên nhớ rằng đụng chạm cũng có thể dẫn tới ứng xử sinh dục.
Khả năng đụng chạm là một hồng ân Chúa ban, và việc đụng chạm có thể thật đằm thắm, nên dùng nó với đúng người và vào đúng lúc.
Sự thân mật người độc thân thánh hiến không đòi đụng chạm thể lý, nhưng nó cũng không loại trừ hay ngăn ngừa.
7. Đối đầu trong thân mật
Đối đầu là một cố gắng chủ ý để giúp người kia khảo sát những hậu quả của một ứng xử nào đó của mình. Do đó đối đầu là một lời mời gọi xét mình, kiểm điểm đời sống.
Mục tiêu của đối đầu là một cách diễn tả tình yêu và sự quan tâm của ta đối với người kia. Nó cũng là một cách tăng cường mối tương quan với người ấy. Và vì vậy, chúng ta không mong giúp đỡ được người bạn, nếu chúng ta không cố ý tăng cường tình bạn của chúng ta với nguời ấy.
Phê bình, chỉ trích, trách mắng, thi hành kỷ luật v.v… sẽ không mang lại sự thay đổi nơi người kia, vì thay đổi là kết quả của sự đối đầu cộng với tình yêu và ơn Chúa.
Cần lưu ý rằng rất thường chúng ta thấy đối đầu với người mà chúng ta không thích thì dễ, còn đối đầu với những người chúng ta yêu mến thật khó. Do đó, đối đầu trong thân mật của người độc thân thánh hiến rất quan trọng để lớn lên trong tình bạn.
8. Cởi mở trong thân mật
Cần phải cởi mở về sự thân mật đối với Chúa, cha giải tội, vị linh hướng, bề trên và bạn thân.
Có thể có những thời gian chúng ta phải đối mặt với những vấn đề, khó khăn, nghi ngờ trong các mối tương quan. Trong những thời gian này, chúng ta nên chia sẻ những khó khăn của chúng ta với một người tín cẩn nào đó để có được sự giúp đỡ của họ.
9. Trung thành với ơn gọi
Người độc thân thánh hiến phải bén rễ sâu trong ơn gọi độc thân thánh hiến của mình với Chúa Giêsu, với Giáo hội, và với thừa tác vụ của mình.
Khi lớn lên trong thân mật thì ta cũng phải lớn lên trong sự mộ mến độc thân linh mục. Tình bạn độc thân thánh hiến cho ta nghị lực tâm lý và thiêng liêng để thực hiện thừa tác vụ của mình tốt hơn và sống xứng ơn gọi của mình.
Để sống tốt đời độc thân linh mục, chúng ta phải thực hành cầu nguyện, suy niệm và khổ chế cá nhân dựa trên các nhân đức được sống trong đời sống hằng ngày.
Đời sống độc thân linh mục vì Nước Trời phải được trình bày như một chọn lựa rất thuận lợi cho việc hân hoan loan báo Chúa Kitô Phục Sinh. Ở tình trạng này, chúng ta dễ dàng ở gần Chúa Kitô hơn, với một trái tim không chia sẻ, và được tự do hơn trong việc trao hiến chính mình phục vụ Chúa và Dân Chúa với lòng quảng đại.
Nhờ đời sống cầu nguyện, hiệp nhất với Chúa Kitô và tình huynh đệ chân thành, ta có thể giữ gìn cách hân hoan và trọn vẹn đời sống độc thân linh mục của mình.
Cùng với Hội Thánh, ta phải khiêm tốn và kiên định cầu nguyện cho ơn trung thành và sử dụng mọi sự trợ giúp siêu nhiên cũng như tự nhiên, đặc biệt là lối thực hành khổ chế đã được trải nghiệm và chấp nhận trong Hội Thánh.
(Hát NIỀM XÁC TÍN CỦA CON)
D. TÌNH BẠN KHÁC PHÁI CỦA NGƯỜI ĐỘC THÂN THÁNH HIẾN
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Người sống đời độc thân thánh hiến có thể có tình bạn khác giới không?
Nếu Chúa Kitô, trong nhân tính của Ngài, đã làm bạn với phụ nữ để lôi kéo họ tới thiên tính của Ngài, thì tình bạn giữa người nam và nữ sống đời độc thân thánh hiến đã được Thiên Chúa phê chuẩn. Và Chúa Giêsu trở thành mẫu gương hoàn hảo của tình bạn khác giới của người sống đời độc thân thánh hiến.
Mẫu gương sống động về tình bạn của Chúa Giêsu với phụ nữ có căn bản Thánh Kinh cho loại liên hệ này trong cuộc đời con người. Cha Felix M. Padimatham nói rằng Chúa Giêsu trở thành mẫu gương hoàn hảo của tình bạn khác tính luyến ái. Ngài cũng chỉ ra nhiều mẫu gương các Thánh và Chân Phước đã có loại tình bạn này trong cuộc đời các ngài, như:
- thánh Hiêrônimô và bà quả phụ Paula,
- thánh Gioan Kim Khẩu và nữ trợ tế Olympias,
- thánh Phanxicô Assisi và thánh nữ Clara,
- thánh nữ Catarina Siena và Chân Phước Raymon Capua,
- thánh nữ Têrêsa Avila và thánh Gioan Thánh Giá, v.v…
Và mẫu gương của Chúa Giêsu vẫn còn có giá trị cho những người theo Ngài, trong tất cả mọi chiều kích nhân bản và thiêng liêng của đời sống ơn gọi và sứ vụ.
Rõ ràng, sự yếu đuối và những nguy hiểm đã không đe dọa Chúa Giêsu, nhưng có thể đe dọa những người nam và người nữ sống đời thánh hiến trong những liên hệ như vậy. Do đó, chúng ta phải biết cân nhắc các giới hạn cần thiết.
Chúng ta đừng bao giờ quên rằng mọi thân xác đều mang giới tính và bất cứ tương quan nam nữ nào cũng có yếu tố phái tính (“trai khôn không ở với mạ, má khôn không ở với trưa”).
Vì thế, quà tặng độc thân thánh hiến có thể bị nguy hiểm, nhất là trong quan hệ độc hữu, khi mà một người nam đơn độc ở với một người nữ đơn độc (solus cum sola) lâu giờ trong một nơi kín đáo cửa khóa chặt, chẳng ai biết và trông thấy, mà không có bất cứ khoảng cách nào, cùng với những biên giới cần thiết về thể lý, tâm lý và thiêng liêng, nhất là ý thức về sự hiện diện thường hằng của Chúa (x. Câu chuyện “Một nơi kín đáo không ai thấy”).
Người độc thân thánh hiến không có sự quân bình tự nhiên của người sống đời đôi bạn, nên phải thiết lập cho được và sống thế quân bình siêu nhiên bằng đời sống cầu nguyện, mật thiết với Chúa, đời sống huynh đệ, tận tụy với sứ vụ, cảnh giác toàn bộ cách ứng xử và cảm xúc của mình, ý thức rằng mình “gìn giữ kho tàng ấy trong những chiếc bình sành” dễ vỡ (2 Cor 4,7).
Sự thiếu quân bình trong đời sống và sứ vụ cộng với những khó khăn, thử thách đau khổ, yếu đuối nhân loại bên trong và cám dỗ lôi cuốn từ bên ngoài, khiến người ta có khi đi tìm lại sự quân bình tự nhiên kia mà vấp ngã.
Kinh nghiệm cho thấy những linh mục, tu sĩ bỏ đời sống cầu nguyện, thiếu tình huynh đệ cộng đoàn và bỏ bê bổn phận sớm muộn gì cũng sẽ sa ngã, bỏ cuộc. Vì thế, chúng ta được thúc đẩy thiết lập mối tương quan trưởng thành, lành mạnh, hài hòa và quân bình giữa cả hai phái. Người ta nên tốt hay không đều do các mối tương quan của họ.
TÌNH HUYNH ĐỆ
Tình anh em sẽ là:
một sự đoàn kết bên nhau để cùng tiến bước,
một cuộc đối thoại thường xuyên trong cuộc sống đa nguyên đa diện,
một cuộc gặp gỡ cởi mở hơn cho cuộc hành trình đầy gian khó và nguy hiểm,
một sự có mặt khích lệ hay một nâng đỡ hỗ trợ tinh thần,
một lời vui, một tiếng cười thanh thỏa cùng chia sẻ tình thương dâng lên vời vợi,
một cái nhìn cảm thông khi vướng trở ngại, hay khi bị thất bại chua cay,
một “tôi khác” để mỗi người có dịp phản tỉnh nhìn lại bộ mặt của mình, có khi đã hoen ố bụi đời,
một bạn đồng hành để con đường thập giá bớt nỗi đơn côi,
một Simong vác đỡ hay một Vêrônica lau mặt,
một cái gì khỏa lấp chỗ trống vắng tình thương sau tình yêu Thầy Chí Thánh,
một hiện diện và hiện thân của Thiên Chúa cao xa vô hình.
Mỗi người chúng ta trước hết hãy là người bạn như thế cho kẻ khác.
(slideshow TÌNH BẠN LÀ GÌ?)
II. CÁC MỐI TƯƠNG QUAN CỦA LINH MỤC VỚI NGƯỜI NỮ[1]
1. Linh Mục Tương Quan với Phụ Nữ: Trợ Lực hay là Vấn Đề cho Cuộc Sống và Sứ Vụ?
Theo sách Sáng Thế (St 2, 18-24) và theo quan niệm Á Đông về Âm-Dương, người nam và người nữ rất gắn bó nhau, hấp dẫn nhau và bổ túc cho nhau. Người nam không thể là một con người nếu không có người nữ và ngược lại. Điều này đã khởi sự ở trong gia đình và ngay từ thời niên thiếu: người nam và người nữ bổ túc cho nhau, và sự sống, cả nhân bản và thiêng liêng, vẫn tiếp tục trải ra và phát triển.
Sự việc cũng như thế với các linh mục và phụ nữ, nữ tu hay nữ giáo dân. Trong những mối tương quan này, có nhiều phương diện của cuộc sống thật ý nghĩa và đẹp đẽ và có nhiều công việc thật tuyệt vời. Tuy nhiên, họ không luôn luôn là trợ lực, nhưng lắm khi cũng là vấn đề và sa lầy không lối thoát cho một số linh mục.
Mọi thân xác đều mang giới tính. Quà tặng độc thân của linh mục có thể bị nguy hiểm, nhất là khi một người nam đơn độc ở với một người nữ đơn độc lâu giờ trong một nơi cửa khóa chặt, mà không có bất cứ khoảng cách nào, cùng với những biên giới cần thiết về thể lý, tâm lý và thiêng liêng. Và, vì một người đàn bà, một số linh mục đã từ bỏ thừa tác vụ, nhất là trong bối cảnh hiện nay của nền văn minh lấy cái tôi làm trọng tâm, vật chất, hưởng thụ, khoái lạc, phim con heo và nhục dục.
Vì thế, đời sống độc thân linh mục cần được bảo vệ cách ý thức bằng việc đặc biệt giữ cảnh giác cảm xúc và toàn bộ cách cư xử của mình, với ý thức rằng “chúng ta gìn giữ kho tàng ấy trong những chiếc bình sành” dễ vở (2 Cor 4,7). “Cách thực tế, một lối sống phù hợp với chức linh mục không thể được phát triển, nếu chủng sinh dấn thân vào một mối quan hệ độc hữu với một phụ nữ.”
Do hoàn cảnh cuộc sống, nhất là học hành từ nhiều thập niên qua trong các trường đời, vì trường đạo không được phép tồn tại, bên cạnh các bạn đồng giới, các ứng sinh linh mục có nhiều bạn là con gái từ nhà trẻ, mẫu giáo, lên bậc tiểu học, rồi trung học, cao đẳng, đại học, cũng như trong các sinh hoạt xã hội và ngành nghề; thậm chí có một số ứng sinh không chỉ có bạn là con gái, mà là «bạn gái» nữa.
Đối diện với những vấn đề này, các ứng sinh được thúc đẩy thiết lập một mối tương quan trưởng thành, lành mạnh, hài hoà và quân bình giữa cả hai phái. Các ứng sinh có thể tự hỏi về quan niệm của mình đối với người khác phái, về cách quan hệ với họ và về những ảnh hưởng hổ tương? Có mối quan hệ riêng biệt nào không? Đâu là nguyên nhân của mối quan hệ này? Có cảm nhận gì hay triệu chứng nào đáng nghi không?
2. Tương quan của Linh Mục với Nữ Tu:
Phải Khôn Ngoan và Tỉnh Thức
Linh mục hãy giữ trong trí óc và tâm hồn sự lệ thuộc của chính mình, cũng như sự lệ thuộc của các nữ tu đối với Chúa, và luôn ý thức phải “trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa” (x. Mc 12,17): Cái đã cho rồi, không lấy lại mà cho người khác!
Do lý tưởng hiến dâng và môi trường mục vụ chung, linh mục và nữ tu có thể có mối tương quan thân mật, bằng sự cởi mở tâm sự cho nhau, bằng sự hiểu nhau và chia sẻ sứ vụ, những thành công cũng như những khó khăn thất bại, tin tưởng nhau, cảm thông nhau, dịu dàng và ân cần chăm sóc nhau.
Cũng trong tinh thần này, phải kể đến những người nữ cùng làm việc tông đồ với linh mục trong các đoàn hội, hay ân nhân, bảo trợ, mạnh thường quân: “Em ngồi em kể công ơn, bạc vàng nặng ít nghĩa nhơn nặng nhiều.” Không ai cho cái gì mà cho không cả, và nhiều khi ÂN đòi được trả bằng TÌNH !
Chính từ sự thân mật này, một cảm nhận “yêu thương” có thể dễ dàng phát sinh và phát triển, rồi tình trạng có thể trở nên nguy hiểm hơn, với những hình thức được bộc lộ ra theo tiến trình: muốn chiếm hữu - ghen tuông - và muốn độc quyền.
Linh mục đừng quên lời khuyên của Chúa Giêsu (x. Mt 26,41; Mc 14,38): là những con người thánh hiến, nhưng linh mục vẫn không thôi là những con người với những yếu đuối nhân loại. Thánh Phaolô chia sẻ: “Có ai trong anh em yếu đuối mà tôi không cảm thấy yếu đuối, có ai trong anh chị em sa ngã mà tôi không cảm thấy như thiêu như đốt?”
Linh mục cũng phải ý thức rằng sự thân mật là nhu cầu của con người, nhưng sự thân mật trong đời sống độc thân thánh hiến không cần (và không được) biểu lộ có tính cách thể lý phái tính, cùng với hoạt động truyền sinh.
Sự thân mật độc thân thánh hiến có mức độ thích hợp của nó. Chính mức độ riêng biệt này cung ứng cho linh mục đủ tự do để yêu thương mọi người và không vượt qua các giới hạn.
Linh mục hãy khuôn đúc các mối tương quan nam nữ của mình theo gương mẫu đời sống của Chúa Ba Ngôi và kêu xin ơn can đảm để thăng tiến, vượt thắng và thánh hoá “tiếng gọi nhân loại” này, ngõ hầu giúp nhau sống và chu toàn những gì đã cam kết trong ơn gọi và sứ vụ của mỗi người, vì tình yêu nhiều khi không có tuổi và giờ hẹn:
Chúa đã gọi cha,
Chúa đã gọi con.
Chúa đã gọi, sao còn một tiếng gọi?
Trong trường hợp ấy, linh mục phải biết tôn trọng: nơi chốn - thời gian - thời lượng - khoảng cách và giới hạn cần thiết, về thể lý cũng như tâm lý, của các cuộc gặp gỡ. Có thế mới mong:
Lòng như lòng can đảm dẹp mến thương,
Vâng tiếng Chúa, sống cho tròn sứ mệnh.
Linh mục phải rõ ràng và thành thật với chính mình, với người khác và với Chúa, bởi vì lắm khi sự “hẹn hò yêu thương ấy” thường được che giấu dưới những cớ hợp pháp và chính đáng của các công tác và hoạt động mục vụ, nhưng “thực tế đó là những nghiêng chiều nguy hiểm của con tim.” Và chớ gì đừng vì thế mà dại dột can thiệp giữ lại hay cản trở việc thuyên chuyển chính đáng của Nhà Dòng.
“Đức Giê-su quay lại bảo ông Phê-rô: "Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Con làm cớ cho Thầy vấp phạm, vì con không nghĩ đến việc của Thiên Chúa, mà chỉ nghĩ đến việc của loài người” (Mt 16,23). Mỗi linh mục hãy nhớ rằng mình không thôi là con người: Chúng ta có thể làm cớ cho người khác vấp phạm, và người khác cũng có thể làm cớ cho chúng ta vấp phạm: “Tại cả anh, tại cả ả, tại cả và hai!”
Trong hoàn cảnh tế nhị này, sự hiện diện yêu thương và đời sống huynh đệ cộng đoàn sẽ mang lại sự trợ giúp cần thiết. Nhờ tình bạn dâng hiến và nhiệt tình, mỗi người có thể là sự trợ giúp lớn lao cho người khác, trong việc soi sáng và khích lệ lẫn nhau, khi phải chịu đựng những hoàn cảnh nguy hại khác nhau, cũng như sự lây nhiễm một thứ tinh thần thế tục nào đó.
Hơn nữa, linh mục cũng đừng cả dám tự phụ quên đi cái nghịch lý mà thánh Phaolô đã trăn trở: «có những điều tốt tôi muốn làm thì tôi lại không làm được, và có những điều xấu tôi không muốn làm thì tôi lại làm !»
Linh mục không được quên nhu cầu cầu nguyện, khổ chế, ăn chay và chiêm niệm: “Người ta không thể đi theo con đường khó nếu không có một thứ khổ chế đặc biệt.” Chúa Giêsu tha thiết cầu nguyện với Chúa Cha cho linh mục: “Con không còn ở trong thế gian nữa, nhưng họ còn ở trong thế gian... Con không xin Cha cất họ ra khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian. Xin Cha lấy sự thật mà thánh hóa họ. Lời Cha là sự thật. Như Cha đã sai con đến thế gian thì con cũng sai họ đến thế gian. Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật họ cũng được thánh hiến” (Ga 17,11,15-19)
Mặc trần thế ngày ngày giăng cạm bẫy
Đây một lòng xin tuân phục ý Cha
Đã tốn công gieo rắc chẳng nề hà
Hương ngào ngạt Chúa Kitô khắp cõi.
Bắt thân xác phải hy sinh đền tội
Lấy lời kinh mà nuôi dưỡng tâm thần
Những coi thường các lợi lộc phù vân
Tìm ân thưởng phúc trường sinh chân thật.
Thánh Thi Kinh Sáng Lễ Chung Thánh Nữ
Cho tấc dạ trinh bạch như tuyết trắng
Mãi can trường trong thử thách đau thương
Khi tiết độ, khi cầu kinh nguyện ngắm
Vững tâm theo đường đạo lý luân thường
Thánh Thi Kinh Sáng Thứ Tư Tuần IV
Nhưng trên hết, mỗi người phải tin rằng tình yêu của Thiên Chúa lớn hơn tình yêu nhân loại (một tình yêu lớn hơn vượt thắng tình yêu nhỏ hơn và những hấp dẫn của nó); rằng chỉ có Thiên Chúa mới làm thoả mãn được con tim chúng ta và chúng ta thế nào thì Ngài yêu thương chúng ta thế ấy, và Ngài yêu thương chúng ta cho đến tận cùng; và rằng chúng ta cũng phải yêu thương Ngài đến tận cùng như vậy. Chúa luôn hiện diện trong cuộc đời chúng ta như là “người canh giữ”, như là “bóng mát” của cột mây ban ngày và cột lửa ban đêm để soi đường trong sa mạc, và như là “cánh tay uy quyền” của người bảo vệ.
3. Những Con Đường Tương Quan Tốt
a. Tương Quan với Mẹ và Chị Em của Mình
Mối quan hệ đầu tiên và cơ bản nhất của linh mục với các phụ nữ phải kể cụ thể là mối quan hệ với chính mẹ và chị em của mình. Mẹ linh mục là người phụ nữ mà ngài đã nhận được sự sống, và nhờ mẹ mà ngài có được ơn kêu gọi. Sự dịu dàng và chăm sóc yêu thương của tình mẹ nâng đỡ và bảo vệ ngài, giúp ngài lớn lên trong đời sống nhân bản cũng như đời sống thiêng liêng. Mẹ và chị em luôn tiếp tục đồng hành với ngài, với tình yêu thương, cầu nguyện, với chăm sóc canh phòng nhưng đầy kính trọng. Một linh mục tốt luôn giữ mối liên hệ mật thiết với mẹ và các chị em mình, đặc biệt trong thời gian dao động tình cảm và bị cám dỗ.
b. Đối xử với các Cụ Bà như là mẹ, và với các thiếu nữ như chị em với tấm lòng trong sạch” (1 Tm 5,2):
Để sống hồng ân quí giá là đời sống độc thân linh mục vì Nước Trời trong con đường trưởng thành và trong sáng, điều xem ra đặc biệt quan trọng là linh mục phải phát triển cách sâu xa trong chính mình, hình ảnh của các phụ nữ như mẹ và chị em mình, với cùng một lòng yêu thương và kính trọng như đối với mẹ và chị em mình.
Trong thời đại hôm nay, linh mục phải biết “khám phá ra phẩm giá và ơn gọi của phụ nữ trong Giáo Hội và trong thế giới.” Sự thăng tiến này làm cho người nam và người nữ cảm thấy bình đẳng và biết tôn trọng nhau trong mọi khía cạnh.
Nhưng, Đức Phaolô VI cũng nhắc Dân Chúa trách nhiệm của họ là cầu nguyện và chân thành trợ giúp các linh mục vượt qua mọi nỗi khó khăn, tận tình yêu thương các ngài với tình con thảo và sẵn sàng cộng tác với các ngài, với kính trọng và tế nhị dè giữ, khích lệ và an ủi, vì các ngài là những người hoàn toàn tận hiến cho Chúa Kitô và Giáo Hội.
c. Nhìn Cách Ứng Xử và Mối Tương Quan Hài Hoà của Chúa Giêsu với Phụ Nữ
Phúc Âm cho chúng ta biết rằng thái độ ứng xử của Chúa Giêsu mang lại tự do và hòa điệu giữa Ngài và các phụ nữ. Chúng ta hãy xem vài khuôn mặt chính:
Mẹ Maria, người mà Ngài đã tỏ lòng yêu thương của một người con và hết lòng kính trọng vâng phục; và Mẹ đã trở nên bản đối chiếu mật thiết của Ngài trong việc lắng nghe và thực thi ý Chúa;
Mattha và Maria ở Bethania, nơi mà Chúa thường ghé qua trong cuộc hành trình truyền giáo; và Ngài đã trở nên rất gần gũi với họ;
Người phụ nữ xứ Samaria, được hoán cải và đổi mới, đã giới thiệu Chúa Giêsu cho dân chúng vốn không biết đến căn tính đích thực của Ngài;
Maria Madalena, người được cứu sống và hoàn toàn biến đổi nhờ Chúa Giêsu; cô đã thấy Chúa Phục Sinh và nhận lãnh trực tiếp từ Ngài sứ vụ loan báo sự sống lại;
Người phụ nữ vô danh mà Chúa đã dạy cho biết hạnh phúc lớn lao là lắng nghe và thực hành lời Chúa;
Các con gái thành Giêrusalem đã theo Chúa trên con đường thánh giá.
Linh mục cần học từ Chúa Giêsu, là Thầy và Chủ của mình, cách thức quan hệ và ứng xử thế nào cho đúng mực với các phụ nữ.
III. KẾT LUẬN
Tóm lại, trong các mối tương quan của tình bạn khác phái, dù với người tu hay ở giữa thế gian, linh mục phải luôn qui hướng về Chúa Kitô, khiêm tốn nhìn nhận những điều kiện con người yếu đuối của mình, lắng nghe sự khôn ngoan và kinh nghiệm của kẻ khác, đừng bao giờ dám tự phụ cho mình là mạnh, trái lại nhớ luôn rằng «con chim nhát là con chim sống» hay «tam thập lục kế, vi tẩu thượng sách».
Ngoài ra, phải phát huy tình huynh đệ linh mục. Khi mà linh mục thực sự yêu thương nhau, ai cũng thỏa mãn được nhu cầu tâm lý căn bản yêu và được yêu của con người, thì chẳng ai thèm đi tìm bù trừ hay đón nhận một tình cảm nào khác.
Thế nhưng trong bất cứ cuộc chiến đấu nào cũng có chiến thắng và chiến bại. Nếu gặp phải trường hợp chiến bại, hãy cư xử theo lòng nhân hậu của Chúa Kitô, giúp chuyển bại thành thắng, chỗi dậy đứng lên tiếp tục hành trình với bài học kinh nghiệm và tâm hồn đổi mới. Hãy coi lầm lỗi như một lúc con tàu bị trật bánh ra khỏi đường ray. Nếu khéo léo điều chỉnh, bánh xe sẽ lại trở về đúng vị trí để con tàu tiếp tục vận hành. Người lầm lỗi được chân thành thương yêu, quảng đại tha thứ và nhân từ nâng đỡ sẽ đủ nghị lực kiên trì biến đổi nên tốt, với sự trợ giúp của ơn thánh Chúa.
Tâm lý chung của những người cầu toàn khi phát hiện một lầm lỗi là muốn làm om sòm lên. Nhưng liệu sự om sòm ấy có làm thay đổi được tình hình hay nó lại càng "vạch áo cho người xem lưng“ về tình trạng thiếu yêu thương của mình. Trước hết nên bình tĩnh, nhìn lại chính mình. Ai cũng có thể bị « vi-rút » tình cảm và tình dục tấn công. Vấn đề là cần có sức đề kháng tốt để tránh được bệnh. Sức đề kháng đó nằm ở chính sự kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu và tình huynh đệ bí tích của linh mục với nhau, là nhân tố làm thỏa mãn nhu cầu yêu và được yêu trong bối cảnh của đời sống ơn gọi, được đặt trọng tâm nơi Chúa Giêsu.
(Hát CHÚNG CON CẦN ĐẾN CHÚA)
E. KHÍA CẠNH TÂM LÝ VÀ TÍNH DỤC
TRONG ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tự nhiên, chúng ta được tự do một phần trong sự chọn lựa sử dụng ý muốn, lý trí hầu có thể làm chủ bản thân, điều khiển chính mình đến một đối tượng khao khát nhằm mục đích tối hậu là được biến đổi trong Chúa Kitô thành một lời đáp trả trọn vẹn với ân sủng và hội nhập vào chính cuộc sống mình.
Bản thân (Cái Tôi) mỗi người là điểm gặp gỡ của Tâm lý học và Thần học: Như những con người, chúng ta đáp lại Thiên Chúa qua các định luật tâm lý mà Ngài đã ghi khắc trong chúng ta.
Trong tiến trình đáp trả đó, chúng ta bị thách đố đặt trật tự vào cuộc đời chúng ta: « Nhân đức là tình yêu có trật tự » (thánh Augustinô). Nhưng khi tình yêu bị rối loạn (mất trật tự), chúng ta nhận ra qua các dấu hiệu này: sự đi trệch định hướng cuộc đời và tìm tự tôn vinh mình.
Các cấp độ của cái Tôi được mô tả qua bốn vòng tròn đồng tâm :
- Vòng ngoài cùng: Thế giới, các thực tại bên ngoài (tha nhân, xã hội, tạo thành, các biến cố …)
- Vòng kế tiếp: Thân xác – tâm sinh lý
- Vòng tiếp theo: Tâm thể - tâm lý xã hội
- Vòng tâm: Tinh thần con người – tâm lý tinh thần hay tinh thần hữu lý, gồm có:
· khả năng hiểu biết - cảm nhận - trực giác - tưởng tượng – ký ức – ý muốn
· Khả năng cho các nhân đức như tình yêu – tha thứ - niềm vui - nhẫn nại …
“Chỉ có người có khả năng làm chủ mình có thể trở thành một quà tặng cho kẻ khác, một quà tặng cho Chúa trọn vẹn đến nỗi người ấy thành chiếc bình trong suốt cho ánh sáng của Chúa chiếu qua” (J. Riddick)
Cái Tôi có hai định hướng:
Định hướng sai lầm: Tình yêu cho thế gian… một đời sống trống rỗng “Anh em đừng yêu thế gian và những gì ở trong thế gian. Kẻ nào yêu thế gian thì nơi kẻ ấy không có lòng mến Chúa Cha, vì mọi sự trong thế gian như dục vọng của tính xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của, tất cả những cái đó không phát xuất từ Chúa Cha, nhưng phát xuất từ thế gian; mà thế gian đang qua đi, cùng với dục vọng của nó. Còn ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa thì tồn tại mãi mãi” (1 Ga 2, 15-17). Cái nổi bật trong định hướng sai lầm này là tính chất trần tục: khoái lạc, của cải, địa vị / quyền lực.
Định hướng đích thực: Sự sống dồi dào “Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá hủy. Phần tôi, tôi đến để chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Cái nổi bật trong định hướng đích thực này là sự sống trở nên giống Chúa Kitô trong các thiên hướng – thái độ - nhân đức dẫn tới lời mời gọi của mọi tín hữu.
Cuộc chiến đấu: Chúng ta trải nghiệm những sức lôi cuốn và thúc đẩy đến từ hai hướng đối nghịch nhau: cái tôi bị thống trị bởi các nhu cầu và cái tôi bị thống trị bởi các giá trị.
Ơn gọi vào đời sống thánh hiến là triệt để đi theo Chúa Giêsu. Đó là lời kêu gọi tới một sự biến đổi con tim nhân loại qua các Lời Khuyên Phúc Âm.
Mỗi người sống kinh nghiệm ơn gọi đều trải qua kinh nghiệm sống cái tôi của mình, hoặc đặt trọng tâm nơi mình hoặc đặt trọng tâm nơi Chúa, mà có định hướng đúng hay định hướng sai lầm:
· Định hướng sai lầm đi theo hình ảnh cái Tôi: khoái lạc, sở hữu của cải, địa vị/quyền lực.
· Định hướng đích thực họa theo hình ảnh Thiên Chúa: Thanh Khiết, Khó Nghèo, Vâng Lời.
· Chiến đấu: Trong cả hai định hướng này, chúng ta kinh nghiệm sự có mặt của những thúc đẩy của con người tự nhiên: vui thích, tăng trưởng, cho đi và lãnh nhận.
II. LINH MỤC CŨNG LÀ CON NGƯỜI
1. NHU CẦU TÌNH YÊU
Nhu cầu là một cái gì cần phải có để làm đầy đủ nhân cách của chúng ta. Nó là một đòi hỏi bên trong cần phải được thỏa mãn một cách phải lẽ, nếu chúng ta muốn có hạnh phúc trong đời sống mình.
Khi nhu cầu được thỏa mãn thì có sự điều chỉnh thích hợp, còn khi không được thỏa mãn thì có sự điều chỉnh không ăn khớp trong nhân cách của chúng ta.
Kết quả của việc không thỏa mãn nhu cầu là chúng ta cảm thấy hụt hẫng, căng thẳng, mất quân bình, không ổn định v.v… trong đời sống, ảnh hưởng đến đời sống thiêng liêng và sứ vụ.
Mọi con người đều có một ước nguyện nội tâm và nhu cầu tình yêu, một nhu cầu tâm lý cơ bản. Một trong những thúc đẩy sâu xa nhất của bản tính tự nhiên của con người là yêu và được yêu.
Yêu một người nào có nghĩa là lắng nghe, hiểu biết, thấu cảm, chấp nhận, tôn trọng, và săn sóc người đó. Được yêu có nghĩa là được người khác chọn làm đối tượng đặc biệt của cảm giác yêu mến và thích thú của họ. Được yêu làm cho người ta hạnh phúc, và càng được yêu, người ta càng trở nên tự do hơn để yêu chính mình và yêu những người khác.
Khi nhu cầu tâm lý này không được thỏa mãn, bị bỏ bê, bị lờ đi thì một sự trống rỗng sâu xa phát triển nơi một người, và kết quả là người ấy cảm nghiệm những chán nản, khó chịu, thiếu hạnh phúc, tha hóa, vỡ mộng, cô đơn v.v… tác động tiêu cực lên đời sống thiêng liêng và sứ vụ.
Do không thỏa mãn nhu cầu yêu thương này, người ta đau khổ vì thiếu dinh dưỡng tâm lý và tình yêu; có thể nhiễm chứng căng thẳng thần kinh, bị stress, cản trở việc tăng trưởng thiêng liêng.
Con người cố gắng đáp ứng những nhu cầu tâm lý qua cách ứng xử của mình. Và việc thiết lập tình bạn thân mật sẽ thỏa mãn nhu cầu tâm lý căn bản yêu và được yêu của mình. Nhưng sự thỏa mãn đó phải được biểu lộ trong bối cảnh của đời sống ơn gọi thánh hiến.
(xin đọc “Tình BẠn Như NhiỆm TÍch”).
2. NHU CẦU THÂN MẬT
Thân mật là một tình cảm đặc biệt đối với một người nào đó. Mọi người cần đến loại thân mật này để sống nhân bản lành mạnh. Tuy nhiên cấp độ của sự thân mật này có thể thay đổi từ người này đến người khác.
Người độc thân cũng ước mong sự liên hệ này, tức là muốn yêu thương một người nào đó và muốn được người ấy yêu thương mình.
Là người độc thân, chúng ta cũng nên thừa nhận rằng chúng ta cũng có những nhu cầu này trong cuộc sống, và những nhu cầu này phải được đáp ứng bên trong bối cảnh ơn gọi của chúng ta.
Nếu mỗi người chân thành yêu thương người khác và cảm nhận được người khác yêu thương thì nhu cầu kia được thỏa mãn và tình cảm con tim được bảo hòa.
Chúng ta nên nhớ rằng tất cả chúng ta đều là những con người bất toàn, chứ không phải những con người hoàn hảo. Chúng ta không thể nói rằng chúng ta đã được giải thoát khỏi mọi nhu cầu này, vì chúng ta đã hiến dâng cuộc đời vì Nước Thiên Chúa. Chúng ta không thể nói rằng những nhu cầu này không có ảnh hưởng gì trên cuộc đời chúng ta vì chúng ta được Thiên Chúa kêu gọi để thi hành sứ mệnh của Người. Hãy nhìn nhận sự kiện chúng ta trước hết là con người, rồi là linh mục; và những nhu cầu này phải được kiện toàn trong bối cảnh ơn gọi của mình.
(video TÌNH YÊU VÀ SỨ MỆNH)
Trước Vatican II, sự quen thân và tình bạn thân mật chỉ được chia sẻ với Chúa Kitô, chứ không được chia sẻ với con người nào khác. Nhưng sau Vatican II, người ta hiểu rằng chúng ta không được lơ là thân mật với Chúa, nhưng đồng thời được khuyến khích thân mật với con người.
Quả thế, Hiến Chế Mục Vụ Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Nay nói: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ... Họ phải cảm thấy thực sự liên hệ mật thiết với loài người và lịch sử nhân loại”[2]
Đôi khi chúng ta chia ra từng ngăn đời sống bằng cách nói rằng chúng ta, những linh mục và tu sĩ, phải kính mến một mình Thiên Chúa thôi, con người không được xen vào: “… Người không kết bạn thì chuyên lo việc Chúa và tìm cách làm đẹp lòng Người. Còn người kết bạn thì lo lắng việc đời và tìm cách làm đẹp lòng bạn mình, thế là bị phân chia.” (1 Cor 7,32)
Thánh Gioan Tông Đồ nhấn mạnh tính cách quan trọng của lòng kính mến Chúa và yêu thương cận nhân: “Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được?” (1Ga 3, 17)
“Thiên Chúa chưa ai được chiêm ngưỡng bao giờ. Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, và tình yêu của Người nơi chúng ta mới nên hoàn hảo” (1Ga 4, 12)
“Nếu ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối, vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy.” (1Ga 4, 20)
Vậy mệnh đề trái tim không phân chia không làm tương phản liên hệ hay tình yêu của người độc thân thánh hiến và người có gia đình đối với Thiên Chúa và tha nhân, đúng hơn nó biểu thị phẩm tính của mối liên hệ tình yêu nơi người tín hữu và người độc thân thánh hiến: Thiên Chúa là nguyên ủy và là trọng tâm.
(Slideshow TÌNH YÊU ĐÃ CHỌN)
3. NHU CẦU HẠNH PHÚC
Con người luôn luôn khao khát hạnh phúc, tìm kiếm hạnh phúc và dừng lại để thụ hưởng hạnh phúc, từ hạnh phúc cao khiết của tinh thần, cho đến cảm khoái vật chất và nhục dục. Nhưng không bao giờ con người cảm nhận được thỏa mãn hạnh phúc trọn vẹn ở trong những sự đời này.
Từ chỗ đó, con người đi tìm hạnh phúc vĩnh cửu và bắt gặp được Thiên Chúa. Thánh Augustinô cảm nghiệm sâu sắc điều đó khi ngài nói: “Linh hồn tôi khắc khoải cho đến khi nào được nghỉ yên trong Chúa.”
III. NĂM ĐỊNH LUẬT TÂM SINH LÝ NAM NỮ
1. LUẬT ƯU TIÊN
Nơi người nữ: trái tim ưu tiên. Điều ưu tiên là một quả tim, một tình cảm. Một trái tim muốn được hòa nhịp với trái tim khác, một tình cảm tha thiết muốn hiến trọn cho người mình yêu. Nó ẩn chứa một cái gì thanh nhã trong đó: Người nữ muốn mang đến cho người mình yêu một trái tim muốn yêu và muốn được yêu đến cực độ.
Nơi người nam, thể xác ưu tiên. Khi người nam nghĩ đến người nữ thường hình dung tới thân hình, đường nét, sắc diện thể chất… Do đó, đứng trước một thiếu nữ đẹp, người thanh niên sẽ thấy thể xác xúc động trước, rồi sau đó tình cảm và trái tim mới hoà nhịp theo. Người nam dễ bị lôi cuốn bởi thể xác người nữ, và thường mau chóng hướng tới việc kết hợp thể xác.
Sự sai biệt này có thể gây nên những khó khăn, những nguy hiểm...
Người nữ dễ dàng bị chinh phục bằng tình cảm: nể nang, tội nghiệp, thương hại…, để rồi dễ dàng mất tự chủ trước tiếng gọi của con tim, đưa đến nguy cơ nhượng bộ đòi hỏi thể xác của phái nam.
Người nam dễ bị chinh phục bởi những đường nét duyên dáng nơi thân xác người nữ, khó lòng tự kiềm chế và thường đòi hỏi kết hợp thể xác, coi đó như một bằng chứng tình yêu.
Người nữ nên để ý điểm này để tránh những nhượng bộ gây lỡ làng, với hậu quả đáng tiếc khiến phải ân hận suốt đời.
Người nam nên để ý điểm yếu của mình để làm chủ bản thân, kính trọng người nữ, hiểu rằng người nữ nặng về tình cảm, sự săn sóc tế nhị, lời âu yếm, cử chỉ thân mật, dịu dàng, kính trọng. Do đó, người nam đừng quá chú ý tới thể xác hoặc vội vàng đốt giai đoạn trong khi gần gũi với...
Người nữ dễ bị chi phối bởi tình cảm, tính nhẹ dạ hay thay đổi, óc lý luận thường hướng về hành động mau chóng... Chị hãy thận trọng trước những xúc cảm đầu tiên hay trước hành động của mình, đừng nghe lời dỗ ngọt của các anh, đừng nhượng bộ.
Chị hãy lưu ý tới óc lý luận của anh để bổ khuyết cho nhau cho có tình có lý, không nên bắt anh theo tình cảm của mình mà nhiều khi rất vô lý.
Anh nên tránh những cuộc cãi lý với chị, chị không nghe anh lý luận đâu, nói nhiều vô ích. Hãy khơi dậy tình cảm, lòng trắc ẩn của chị sẽ thành công.
Trong đời sống hôn nhân, người vợ biết tâm lý đàn ông như vậy thì nên thực tế, đừng quá khắt khe, đừng buồn khi thấy anh quá chú ý tới thể xác, việc ăn ở, hoặc quá lý tưởng khi yêu đương.
Chị nhớ chăm sóc thân hình gọn gàng, sạch sẽ, dễ thương… Đừng có coi thường chồng, nghĩ rằng mình chỉ là một thân xác để anh thỏa mãn, từ đó sinh ra lạnh nhạt, bất mãn. Có khi vì thế mà người chồng sinh ra nghi ngờ tình yêu của vợ đối với mình: có thể vợ không yêu mình nữa hay đã có người yêu khác nên mới xử sự như vậy!!!
2. LUẬT PHÂN CÁCH
Trái tim người nữ chỉ có một ngăn và dành hết cho tình yêu. Trái tim người phụ nữ có thể nói là một toàn thể dành hết cho người mình yêu, không có phân cách.
Trong đời sống yêu đương, mối tình dành cho anh chiếm hết trái tim chị. Chị chỉ nghĩ đến anh, sống chỉ vì anh, sống để yêu và được yêu. Vì thế khi không yêu nữa thì lập tức anh bị tống khứ hoàn toàn ra khỏi trái tim chị, và đứa con hoặc nhân tình sẽ thay thế.
Tình yêu chi phối mọi hoạt động. Một trái tim, một tình yêu. Hai mối tình không thể chung sống hòa bình. Đó là đặc điểm trái tim phụ nữ.
Trái tim người nam có tới bốn ngăn và dành cho bốn lãnh vực độc lập với nhau:
- Tình yêu,
- Lý tưởng,
- Sự nghiệp
- Giải trí.
Các chuyên gia tâm lý nói trái tim người nam thì lại khác: rắc rối, nhiều chuyện, có tới 4 ngăn và các ngăn ấy hoàn toàn biệt lập nhau, khiến cho người nữ không hiểu nổi.
- Ngăn thứ nhất: dành cho vợ. Anh yêu chị và khi ở với chị là không nghĩ tới gì khác.
- Ngăn thứ hai: dành cho sự nghiệp. Trong đời người nam sự nghiệp chiếm địa vị quan trọng: Có nhiều người vì sự nghiệp mà quên cả vợ con, gia đình.
- Ngăn thứ ba: dành cho những việc anh làm vì sở thích, vì lý tưởng, chính trị, xã hội, giáo dục…
- Ngăn thứ tư: dành cho giải trí, nghỉ ngơi.
Chị hãy an tâm tin rằng anh yêu chị, thương gia đình. Đừng thấy anh say mê những công việc khác mà nghĩ rằng anh thờ ơ với gia đình, rồi đâm ra nghi ngờ, khó chịu. Chị hãy tập cảm thông với anh, chia sẻ với anh và trong mọi lúc hãy tươi cười đón anh, lo âu với anh, an ủi anh và khuyến khích anh. Đừng ngăn cấm hoặc cản trở công việc của anh.
Anh không nên bắt chị phải theo những hoạt động anh thích, và phải chừng mực trong công việc. Biết dùng tình yêu để dung hòa những dị đồng. Nếu được, nên để chị tham gia công việc với mình. Biết đền bù cho chị bằng lời nói, thái độ, cử chỉ yêu thương, hành vi phụ giúp công việc của chị. Nhớ rằng chị coi trọng gia đình hơn nghề nghiệp, quan tâm đến con người hơn công việc.
3. LUẬT THÍNH GIÁC
Người nữ có lỗ tai to. Chị không chỉ là một trái tim mà còn là một lỗ tai: Một lỗ tai to gắn liền với trái tim. Những gì vào lỗ tai rơi thẳng ngay vào tim. Do đó chị có nhược điểm này: thích nghe và dễ tin những điều người ta nói.
Chị dễ tin những lời tán tỉnh, dịu ngọt; dễ chú ý đến điều người ta nói hơn là việc người ta làm: “Chuông già đồng điếu chuống kiêu, anh già lời nói em xiêu tấm lòng!” Chị muốn được yêu bằng những lời âu yếm dịu dàng tâm sự. Anh làm những công việc này nọ giúp chị mà không nói gì, chị vẫn cho là anh không thương chị hoặc chưa thương trọn vẹn. Tóm lại: chị thích NGHE.
Người nam lại ngắn lưỡi. Người nam ở trong gia đình nhiều khi lại là người thiếu cái lưỡi. Ở quán xá hoặc ở những nơi khác anh nói thao thao bất tuyệt về những chuyện chính trị, xã hội, nghề nghiệp… vì những chuyện đó có tính cách chung chung, vô thưởng vô phạt. Ở nhà thì ngược lại: miệng anh câm như hến, ít nói, trầm ngâm, vì anh không thích những chuyện vụn vặt, chi tiết. Anh ngại tâm sự, bộc lộ có đụng chạm tới bản thân mình.
Trong đời sống gia đình, sự im lặng thường tạo nên bầu không khí nặng nề. Người chồng vì thế thích ra quán cà phê hay đến một nơi vui nhộn. Còn bà vợ sẽ thích la cà bên nhà hàng xóm để chuyện trò (ngồi lê đôi mách, vuốt râu cha nọ đặt cằm bà kia…)
Vì thế muốn tránh bầu không khí nặng nề, nguyên nhân đưa tới xa cách, các bạn nên chú ý đến luật tâm lý này. Giữa vợ chồng phải có đối thoại, trao đổi. Đối thoại sẽ giúp tránh được những nghi ngờ, hiểu lầm, xích mích. Vậy phải tập đối thoại với nhau.
Yêu là nói, là nghe. Nghe vợ tâm sự, nói chuyện nhà cửa, gạo cơm, con cái, bạn bè… Nghe chồng nói chuyện về chính trị, xã hội, thể thao… Yêu là đối thoại, là mở tâm hồn và lý trí để cùng đón nhận, tham dự, chia sẻ tâm tình của nhau.
Anh phải tập nói, phải phá tan bầu không khí nặng nề trong gia đình. Anh phải nói gì? Những câu nói yêu thương, tỏ tình… Nhắc lại những kỷ niệm đẹp, êm đềm ngày trước, vì chị thích sống lại những quá khứ đẹp. Anh phải nói với cung điệu nhẹ nhàng ôn tồn. Những gì anh nói với giọng dịu dàng, âu yếm, kính trọng, chị sẽ cho là đúng, chị sẽ chấp nhận.
Những gì anh nói với giọng gắt gỏng, khó chịu hoặc khinh khỉnh, chị sẽ cho là sai, khó chấp nhận mặc dầu đó là những điều đúng. Vậy khi phải chỉ trích, xây dựng những khuyết điểm của chị, anh phải áp dụng như thế; đừng bao giờ chê trách hoặc chế diễu chị, nhất là trước mặt người khác.
4. LUẬT CHI TIẾT
Người nữ để ý đến các chi tiết, hay chú ý đến những cái cỏn con của sự việc, thích những mẫu tin vụn vặt.
Người nam quan tâm đến điều cốt yếu, chỉ nhớ đến những nét đại cương, những chuyện đáng để ý, lại thích những tin chính trị, xã hội, quốc sự…
Sự sai biệt tâm lý này là nguyên do nhiều vui buồn, đau khổ
Chị chú ý, quan sát và nhớ kỹ những chi tiết trong đời sống của anh, của gia đình trong khi anh ít để ý và hay quên (sinh nhật, kỷ niệm...)
Chúa sinh ra chị có giác quan nhạy cảm về chi tiết để chị có khả năng chu toàn sứ mạng làm vợ, làm mẹ, săn sóc gia đình, nuôi con… đòi hỏi phải làm bao nhiêu việc nhỏ, bao nhiêu chi tiết.
Một việc nhỏ cũng làm chị bực mình, đau khổ. Một quên sót của anh đối với chị làm chị buồn tủi, giận dữ, nghi ngờ. Anh thường dễ bực bội, cáu kỉnh khi vợ hay than phiền về những chuyện nhỏ nhặt, hoặc khó chịu khi thấy chị hay dò xét…
Hiểu như vậy, chị hãy rộng lượng với anh, thông cảm với những dự tính công việc, những sinh hoạt hoặc giao tế của anh.
Vì thế anh hãy chịu khó để ý đến chị, nhẫn nại nghe chị nói, dầu là những chuyện nhỏ mọn. Hãy lợi dụng những cơ hội, những chi tiết làm chị vui: quà tặng ngày sinh nhật, ngày kỷ niệm, những ngày vui buồn của chị, một lời khen, một quan tâm, một giúp đỡ…
Cả hai phải biết rằng Yêu là nghĩ đến người yêu và tìm hạnh phúc cho người yêu.
5. LUẬT BẤT ĐỒNG CẢM
Người nữ phản ứng chậm, nhưng kéo dài. Trong phạm vi tình cảm, người nữ như một trái bom nổ chậm. Chị không phản ứng cùng lúc, nhưng sau anh. Tuy nhiên khi đã xúc cảm thì nỗi cảm xúc ấy kéo dài hơn anh. Người nữ như một đầu máy xe lửa: chuyển bánh chậm, khi có đà đi rất nhanh, nhưng ngưng lại chậm.
Người nam phản ứng nhanh, nhưng cũng mau dứt. Nơi người nam, tình cảm chóng bộc phát mà cũng chóng nguội tàn. Vì vậy mà “cú sét ái tình” thường xảy ra nơi thanh niên hơn nơi thiếu nữ. Trong mọi việc, anh hãy kiên nhẫn, chờ đợi, chuẩn bị... Trong tình yêu thân mật cũng vậy: tránh những cử chỉ vội vàng, hấp tấp, mà nên dịu dàng, tế nhị.
Hiếu biết định luật tâm lý này để biết tha thứ cho nhau, tránh những xích mích nghi kỵ.
(Slideshow TRUYỀN THUYẾT TẠO DỰNG NGƯỜI NỮ)
6. KẾT LUẬN
Những định luật vừa nói trên không áp dụng riêng rẻ nhưng bổ túc, liên hệ với nhau và là những định luật rất quan trọng chi phối đời sống vợ chồng, nam nữ. Đó không phải là tất cả những sự khác biệt, bởi mỗi cá nhân là một “huyền nhiệm” không dò thấu.
Những định luật này rất hữu ích để giúp các đôi bạn hiểu được nhau và khi nắm vững được những khác biệt tâm lý này sẽ tránh được những phán đoán, những thái độ chủ quan thường đưa đến bất hòa.
IV. TƯƠNG QUAN NAM NỮ IỚI TÍNH
1. TƯƠNG QUAN NAM NỮ
Tương quan nam nữ khởi sự từ đầu khi Thiên Chúa sáng tạo con người: người nam và người nữ là một phần của nhau, bổ túc cho nhau và sự sống vẫn tiếp tục trải ra và phát triển, cả nhân bản và thiêng liêng.
Thiên Chúa đã dựng nên con người có nam có nữ.
Biểu tượng Âm-Dương chứa đựng tất cả triết lý về cuộc sống con người. Vòng tròn mô tả tính phổ quát của âm dương. Phần màu đen tượng trưng cho Âm, còn phần màu trắng tượng trưng cho Dương.
Âm Dương tách biệt nhau, không phải bằng một đường thẳng, song bởi một đường cong hòa điệu và mềm mại. Do đó, tất cả những gì tiến tới, hoạt động và sáng là dương, còn những gì lùi lại, tiếp nhận và tối là âm.
Dương tượng trưng cho trời, ngày, mặt trời, đàn ông, lửa, hành động, sức mạnh, niềm vui. Ngược lại, Âm tượng trưng cho đất, đêm, mặt trăng, đàn bà, nước, nghỉ ngơi, yếu đuối, đau khổ.
2. THÂN MẬT GIỚI TÍNH
Desmond Morris (người Anh) chia các hành vi của các bộ phận cơ thể đối ứng tương tác với nhau theo hai giai đoạn yêu thương:
1) Giai đoạn yêu thương chia sẻ:
. Mắt đối với cơ thể
. Mắt đối mắt
. Lời đối lời
2) Giai đoạn yêu thương có tiếp xúc cơ thể trực tiếp:
. Bàn tay đối bàn tay
. Cánh tay đối vai
. Cánh tay đối eo
. Miệng đối miệng
. Tay đối ngực
. Miệng đối ngực
. Tay đối cơ quan sinh dục
. Cơ quan sinh dục đối cơ quan sinh dục
Khi đôi bạn chuyển từ giai đoạn yêu thương chia sẻ sang giai đoạn yêu thương có tiếp xúc cơ thể trực tiếp bằng một thứ ngôn ngữ không lời, thì tình cảm giữa họ càng sâu đậm hơn.
Các hành vi đầu giúp thắt chặt thêm tình cảm giữa hai người, còn giai đoạn cuối cùng là hiệu ứng nảy sinh từ những hành vi thân thiết ấy, có tác dụng kết tinh tình cảm và tình dục của cả hai.
Đối với loài người, hành vi tình dục đem lại những cảm nghiệm sâu đậm đến tận xương tủy, gắn liền với những yếu tố nền tảng của luân lý và đạo đức.
Hãy dành thời gian học cách yêu thương, học cách nhận biết và đáp đền. Hai bên hãy kìm giữ tốc độ chậm lại, ngay cả sức lực định dồn vào chuyện yêu đương cũng nên chuyển thành dịu dàng và kiên nhẫn, đồng thời tăng mức độ và thời gian suy nghĩ, cảm nhận, hướng về nhau.
Tình dục không nằm trong sự bảo trợ của tình yêu nồng thắm thì không những không thúc đẩy tình yêu thăng hoa, mà ngược lại còn có thể giết chết tình yêu.
Sự phát triển tâm lý giới tính thường trải qua 3 giai đoạn:
- thời kỳ phân cảm giới tính dẫn đến xa lánh người khác phái,
- thời kỳ cảm tình với ngưới khác phái,
- và thời kỳ luyến ái lãng mạn.
Những xúc động, xao xuyến của tình cảm đầu đời nếu được sẻ chia, nâng đỡ, định hướng đúng sẽ là con đường đạt tới sự nếm trải trọn vẹn hạnh phúc làm người.
Nếu không được quan tâm và giáo dục đúng, để mặc các em mò mẫm tự tìm cho mình lờì giải đáp, sẽ dễ bị sa ngã dưới sức ép của bản năng.
Thân thể của ta chỉ thuộc về ta, ta phải chịu trách nhiệm về nó. Biết trân trọng thân thể của mình, biết yêu lấy chính mình là ta biết cách ứng phó với mọi tình huống, có cách nhìn nhận về tình bạn, tình yêu, quan hệ giới tính một cách nghiêm túc, tránh được sa ngã và những hậu quả thương tổn đến đời sống thể lý, tâm lý, thiêng liêng và hành trình ơn gọi.
Do đó, mỗi người cần được trang bị những kiến thức đúng đắn về giới tính. Không chỉ là những kiến thức khoa học về sinh lý, sự thai nghén sinh nở, di truyền, các bệnh tình dục...
Mà điều quan trọng chính là giáo dục về nhân bản, tình bằng hữu, tình yêu thương, sự tự do, ý thức trách nhiệm, lòng thuỷ chung với chọn lựa và cam kết cuộc đời.
V. VẤN ĐỀ THỦ DÂM
1. ĐỊnh nghĩa VÀ ThỰc trẠng
a. Nhận thức
MASTURBATION: Manus (tay) – Turbatio (kích thích). Thủ dâm là dùng tay kích thích bộ phận sinh dục để tìm đạt được khoái cảm sinh dục.
b. Cảm nhận
Sau hành động thủ dâm, phần đông cảm thấy ngượng ngập, mặc cảm tội lỗi, lo lắng, chán nản, hận mình.
c. Thực tế
Thủ dâm được thực hành khá phổ biến, nhất là nơi người độc thân, có người coi như không có gì sau hành động ấy, còn người khác lại bị lương tâm ray rứt vì hành động tính dục đơn độc riêng tư và do căng thẳng trầm trọng này (x. Giải mã giấc mơ tình dục)
Thủ dâm có thể xảy ra cùng với những liên hệ khác tính luyến ái (KTLA) hay đồng tính luyến ái (ĐTLA): làm cho mình, làm cho người khác và để người khác làm cho mình.
Có người coi thủ dâm là sự dữ nhỏ hơn trong hai sự dữ (minus malum): cái thay thế cho hoạt động ĐTLA hay KTLA; hoặc để điều hướng cái tôi của mình hơn là dính líu với trẻ em hay một người nào đó.
Thủ dâm không kéo dài suốt đời người độc thân, cũng như giao hợp không kéo dài suốt đời người có gia đình (x. St 18,12: Sara cười thầm tự bảo ‘Mình đã cằn cỗi rồi còn tìm lạc thú nữa sao? Ông nhà mình lại là một ông lão!)
Đó là một cuộc chiến đấu và phải đi vào cuộc chiến đấu ấy: Bỏ được là lý tưởng, để việc tận hiến cho Chúa được chu toàn và hoàn toàn trao hiến cho Chúa.
Cầu nguyện cho bỏ được thủ dâm như một phần cần thiết cho tăng trưởng và phát triển con người.
Ngày sáu khắc êm trôi lặng lẻ, Chúa ngăn ngừa chẳng để phút giây, Tay chân miệng lưỡi hình hài, Buông theo tội lỗi mà đầy bợn nhơ.
Thánh Thi Kinh Sáng Thứ Năm Tuần I TN
2. Các loẠi thỦ dâm
1) Thủ dâm trẻ nít
Trẻ, trước tuổi dậy thì, tìm khám phá cơ thể, trong đó có vùng sinh dục của mình, như một phần tăng trưởng bình thường.[3]
2) Thủ dâm thiếu niên
Xảy ra trong tuổi dậy thì và đa số trường hợp thủ dâm thuộc thời kỳ này.
3) Thủ dâm trưởng thành
Loại thủ dâm này phổ thông với người trưởng thành (người độc thân, người chưa kết hôn tránh giao hợp trước hôn nhân) và như một lối thoát căng thẳng.
4) Thủ dâm xúc phạm
Chọn bộ phận sinh dục để giao hợp “một mình.” Có tính cách tác hại vì phân rã hơn là hiệp nhất nhân vị.
3. MỘt sỐ quan điỂm
1) Freud và William Fleiss:
Thủ dâm là biểu hiệu bệnh thần kinh phổ quát, có thể có hậu quả mù, điên, bất lực.
2) Fenichel:
Thủ dâm là triệu chứng bệnh hoạn, là khả năng làm thỏa mãn bị xáo trộn.
3) Những biện pháp vô nhân đạo:
Mang giây lưng thanh khiết hành xác, thiến hoạn (nam) và cắt bỏ âm vật (nữ).
4) Xã hội học và tâm lý học hiện đại:
Thủ dâm là phát triển bình thường vào một thời kỳ nào đó trong đời người, dẫn tới sự chín mùi tâm lý tính dục lành mạnh; là tiền thân của ứng xử tính dục liên nhân vị.
5) Quan điểm của Giáo Hội:
Trước Vaticanô: thủ dâm là điều xấu trầm trọng và là trọng tội, vì vi phạm bản tính tự nhiên và ích kỷ.
Huấn thị của Bộ Giáo lý Đức Tin, “Tuyên bố về một số vấn nạn liên quan đến đạo đức tính dục”: Thủ dâm là một hành vi bóp méo và trái ngược của khả năng tính dục, là sự thiếu trưởng thành, thiếu quân bình tâm lý, và do thói quen. Thủ dâm không luôn luôn là lỗi nặng, nhưng vẫn là nguồn mặc cảm tội lỗi và lo lắng.
4. Nguyên do và mỤc tiêu
1) Do ngứa ngáy; buồn chán, lo lắng, tâm trạng vở mộng, cô đơn.
2) Lối thoát dễ dàng để xả căng thẳng.
3) Thay thế cho quan hệ tình dục.
4) Đối phó và trốn thoát sự thân mật tính dục liên nhân vị
5) Bắt im lặng lời mời gọi vào tình dục yêu đương liên nhân vị.
5. NhỮng thỎa hiỆp
1) Sợ đàn bà:
Không muốn bị liên lụy tình dục hay tình cảm với đàn bà (sợ hậu quả), hay vì không được liên hệ với đàn bà, nên tìm thỏa hiệp với những hình thức tính dục khác (đồng tính ái), gây nên một tâm lý tính dục thiếu trưởng thành.
2) Sách báo, phim ảnh khiêu dâm:
Nhằm kích thích tính dục do:
- miêu tả các đối tượng và những tình cảnh gợi tình (tác phẩm, hình vẽ, điêu khắc, trình diễn…)
- mô tả sự lạm dụng phụ nữ (nếu không tàn bạo thì cũng xuống cấp) và vì vị nễ mà chìu, rồi sau đó cứ bị ám ảnh.
- đồi trụy: phá hoại phẩm tính tương quan tính dục, đưa tới khai thác và kinh doanh tính dục, lạm dụng tình dục trẻ em.
- Bù trừ: nhòm lỗ khóa/nhìn chỗ kín/thích xem phim khiêu dâm, nhất là giới nam (mở đầu/tăng cường hoạt động tính dục, thủ dâm, lạm dụng trẻ em).
3) Phô bày bộ phận sinh dục của mình (cho người khác phái) để được khoái lạc tính dục bởi sự nhìn xem.
4) Mặc y phục của người khác phái, thay thế vai kề vai với người khác phái mong ước, rồi thủ dâm để xả căng thẳng.
5) Hành động thú tính: ham muốn và thực hiện tính dục với súc vật.
6) Bạo động với chính mình (thường là phái nam) để bảo vệ độc thân: Origène; nhiều vị tử đạo sẵn lòng chịu chết để bảo vệ trinh tiết/đức tin: hai cha truyền giáo ở Lào.
6. TiẾn trình phát triỂn lành mẠnh
1) Trẻ khám phá hết mọi chỗ trong cơ thể nó, trong đó có vùng bộ phận sinh dục: tiến trình tăng trưởng bình thường (x. Chuyện hai bà mẹ tắm cho con: “Con gái dở quá, có một cái mà cũng làm vỡ” – “Sao con không có một cái như thằng đó?”)
2) Trò chơi sinh dục/Táy máy chân tay (do liên hệ khắng khít mẹ/con, cha/con) thiết lập ý thức về bản thân. Bé trai có ý thức nhạy bén về khả năng cương cứng đưa tới làm chủ bản thân, đụng chạm dương vật để tự trấn an.
3) Chưa trưởng thành: Thủ dâm là một hoạt động tính dục thiếu trưởng thành, nhưng trẻ dùng thủ dâm để học điều khiển bản năng tính dục của nó (chơi đùa có tính chất thăng hoa mà thủ dâm không có).
4) Can thiệp khôn khéo: Nếu bắt trẻ chận đứng thủ dâm cách không khôn khéo, nó sẽ có ý tưởng rằng tính dục là xấu xa và nguy hiểm, khiến trẻ có thể bị chứng loạn thần kinh chức năng và biến dạng nhân cách.
5) Can thiệp thiếu thích hợp: Những cấm kỵ thủ dâm có thể đưa tới những hình thức bệnh hoạn. Nhưng nếu thủ dâm với lương tâm xấu và lo lắng cũng đưa tới hậu quả bệnh hoạn.
7. HưỚng dẪn hỮu hiỆu và chỮa lành
1) Quan tâm thích đáng: Phải khảo sát tỉ mỉ trong một khung cảnh rộng lớn hơn, (tiểu sử gia đình, cá nhân đương sự để tìm biết những động lực sâu hơn), chứ không phải chỉ là nhục dục (bệnh cơ quan sinh dục cần chữa trị bằng y khoa; chớ gì có nữ tu bác sĩ chuyên ngành phụ khoa cho các nữ tu)
2) Lắng nghe để hiểu: Phải lắng nghe chăm chú và nhạy cảm đối với người có những hình ảnh tưởng tượng kèm theo thủ dâm (trước và sau)
3) Nhìn lại để thương: Thủ dâm là cách thức dễ dàng để làm dịu sức ép và căng thẳng. Do đó phải khảo sát những nguồn sức ép và căng thẳng để tiêu diệt/giảm thiểu chúng: ăn một thực đơn cân bằng, nghỉ ngơi và giải trí thích hợp.
4) Đừng vẽ đường cho hươu chạy: Những phơi bày thái quá trước những kích thích tính dục thường thúc đẩy thủ dâm. Do đó, tránh những kích thích đó sẽ giảm thiểu tính thường xuyên của thủ dâm.
5) Tự chủ và liên đới: Tập tự chủ bản thân; mở rộng liên hệ với người khác (không chỉ qui về mình và yêu mình). Phải phát triển những tình bạn sâu xa với nhiều người nam lẫn nữ, đừng để bị sự cô lập xã hội và khó khăn trong các mối tương quan dồn ép.
6) Tìm kiếm sự bình an: Không nên để bị tâm trạng lo lắng trầm trọng xâu xé, mà nên tìm chữa lành và bình an qua việc xưng tội.
7) Nhìn vào lý tưởng: Từ bỏ gia đình vì Nước Trời là sự thăng hoa bản năng tính dục: hãy thành thật nhìn nhận thất bại: [Hai sức mạnh đối nghịch hằng giao chiến trong tôi khiến những điều tốt tôi muốn làm tôi lại không làm được và những điều xấu tôi không muốn làm thì tôi lại làm. Ai cứu tôi khỏi cái xác hay chết này? – Ơn Ta đủ cho con] (x. 2 Cr 12:7-9)
8) Trợ lực cảm thông: Tình bạn chia sẻ đem lại khuây khỏa và nâng đỡ chống lại chiến đấu bên trong và áp lực bên ngoài. Đã có chiến đấu là có chiến thắng và chiến bại. Hãy lấy thất bại làm bài học chiến thắng: thua keo này bày keo khác! [“Ai từng chiến thắng mà không hề chiến bại? Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần? Nhưng đây chưa phải trận sau cùng chiến đấu!”]
9) Chia sẻ chữa trị: Thái độ mới thích hợp của việc điều trị nhóm: Những tình bạn sâu sắc khiến người ta cởi mở chia sẻ những cuộc chiến đấu, công khai nhìn nhận mình thủ dâm, nhóm không bối rối hay bình luận tiêu cực gì, là một nâng đỡ rất lớn trong việc hội nhập tính dục với tu đức, thăng tiến đời sống thiêng liêng.
10) Trợ giúp thiêng liêng: Tính dục là một chiều kích của đời sống con người ảnh hưởng đến cuộc hành trình thiêng liêng một cách sâu xa. Những can thiệp thiêng liêng cũng ảnh hưởng trên tính dục một cách sâu xa. Sự trợ giúp thiên linh là một khí cụ hùng mạnh trong việc biến đổi sự yếu hèn và chán nản của con người.
Do đó, phải khuyến khích chạy đến với sức mạnh của cầu nguyện, của các bí tích, của khổ chế, của việc linh hướng thường xuyên.
Xin thương bảo vệ hương thanh khiết, Sợ lúc đêm về giữa cô đơn, Lợi dụng tối tăm thần quỷ quyệt, Phóng tên ác độc giết tâm hồn.
Che chở trí lòng luôn thoát khỏi, Dục tình cường bạo cứ đuổi theo, Và muôn cảm nghĩ đầy tội lỗi, Cho mảnh hồn thiêng mãi yêu kiều.
Thánh Thi Kinh Chiều Thứ Ba Tuần IV TN
11) Ý thức cam kết ơn gọi: Chú tâm sống cam kết độc thân, rèn luyện tỉnh thức, điều độ.
12) Sức mạnh của lời cầu nguyện: Dĩ nhiên phải luôn khiêm tốn cầu nguyện. Chúa Giêsu dạy: “Các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn để khỏi sa chước cám dỗ, tinh thần thì nhẹ nhàng chóng vánh, nhưng xác thịt lại nặng nề yếu đuối”
Thánh Phaolô chia sẻ: “Ai trong anh em yếu đuối mà tôi không cảm thấy yếu đuối, ai trong anh em sa ngã mà tôi không cảm thấy như thiêu như đốt” (2Cr 11,29).
13) Đồng hành tin cậy: Người trợ giúp phải tỏ ra đáng tin cậy, niềm nở đón tiếp vô điều kiện và sẵn sàng đồng hành với đương sự trong những chiến đấu của đương sự khiến đương sự cảm thấy thoải mái và tin tưởng. Có thế mới giúp hội nhập tính dục và ơn gọi độc thân.
(Slideshow NỞ HOA CHO CUỘC ĐỜI)
BÀI ĐỌC THÊM
THỦ DÂM TRẺ NÍT VÀ TUỔI DẬY THÌ
Hiện tượng bé trai 3, 4 tuổi sờ mó cơ quan sinh dục không phải là biểu hiện phát dục sớm. Sự trưởng thành tâm sinh lý của con người là một quá trình phát triển liên tục, nên một số vùng hưng phấn trên thân thể (bộ phận sinh dục) bị đánh thức trước tuổi dậy thì.
Trẻ mới sinh khi bú mẹ giống như quá trình hưng phấn tính dục của người lớn. Trẻ 7-8 tháng mân mê bộ phận sinh dục, làm một số động tác kẹp đùi,… Trẻ trai 3, 4 tuổi phát hiện cảm giác dễ chịu, là lạ ở "chồi nụ" của mình qua một kinh nghiệm ngẫu nhiên: lúc mắc tiểu, được cha mẹ kỳ cọ làm vệ sinh khi tắm rửa, cọ xát vào quần khi đùa nghịch, đi lại,…hoặc cũng có thể do bệnh tật (phimosis - chít hẹp bao da quy đầu gây viêm nhiễm ngứa ngáy phải gãi liên tục) từ đó chợt phát hiện và khơi dậy tiềm năng hưng phấn tính dục, dẫn đến thích thú và đòi hỏi loại khoái cảm này.
Xét về bản chất, mục đích trò chơi tính dục của trẻ là phi tính dục, vui chơi và giao hữu nhưng trong chiều sâu nội tâm không lý giải và ý thức được điều đó. Đừng áp đặt "Tabu văn hoá" của mình lên trẻ, không la mắng trách phạt trẻ, mà nên làm phong phú sinh hoạt của trẻ một cách đa dạng, thú vị:
- hướng trẻ vào những trò chơi trí tuệ: vẽ, nặn, xếp giấy…
- hạn chế không để trẻ bị kích thích trong môi trường dẫn đến hoạt động tính dục (trèo cây, ôm gối, ngủ chung giường với cha mẹ...).
- hướng dẫn một số thường thức về tính dục bình thường, dạy cách giữ vệ sinh, giúp trẻ hiểu về cơ quan sinh dục, cách tự bảo vệ mình tránh khỏi bệnh tật, những thói quen xấu, tránh bị xâm hại tình dục.
Để giải đáp mọi thắc mắc hóc búa của trẻ về tính dục:
- Nên có thái độ tự nhiên ôn hoà, thẳng thắn, không nói dối, không cần trả lời quá tỉ mỉ.
- Giải thích ngắn gọn về cơ quan sinh dục, khuyên trẻ tự bảo vệ mình như thế nào, không thể tự tiện đùa nghịch "cái ấy''.
- Trả lời kiên quyết, rõ ràng, không nên dài dòng, liên tưởng.
- Nên nói nhẹ nhàng, không nên mắc cỡ hoặc gây cảm giác sợ hãi hay thần bí.
`
Ai cũng trải qua thời kỳ "khủng hoảng" của tuổi dậy thì, những thay đổi về tâm sinh lý gây cho ta tinh thần bất an và khơi gợi trí tò mò về những điều không biết trước được.
So với thế hệ trước, lớp trẻ thời nay dậy thì sớm hơn, nghĩa là độ chín về mặt giới tính đến sớm hơn. Nhưng có một điều là sự chín chắn về mặt xã hội và tâm lý lại chậm hơn so với thế hệ trước. Tuổi trẻ hôm nay dường như nông nổi hơn, tự do hơn trong việc quyết định cuộc sống của mình.
Những nét đặc trưng tâm lý của tuổi hoa niên thì bao đời nay vẫn thế:
. Một số bạn gái xuất hiện kinh nguyệt từ 10-12 tuổi,
. Một số bạn trai 12-14 tuổi đã có những giọt tinh trùng đầu tiên trong những giấc mơ (mộng tinh) hoặc do thủ dâm.
Tâm trạng của người trong cuộc phụ thuộc vào hiểu biết của bản thân về hiện tượng này, nếu được đọc sách hoặc được cha mẹ thầy cô và người đi trước chỉ dẫn thì sẽ bớt lo âu, sợ hãi, chỉ còn lại sự hồi hộp.
Các em gái lúc này vóc dáng đã mềm mại uyển chuyển hơn, làn da mịn màng hơn, đã quan tâm đến bộ ngực của mình, e thẹn khi mặc thêm chiếc áo lá hoặc chiếc nịt ngực bên trong lần áo ngoài, hơi chùng người xuống hoặc ôm cặp phía trước để che đi phần nào độ lớn của chúng. Một số em khác lại ngượng ngùng, thậm chí cảm thấy bất hạnh, khi đến tuổi này mà ngực vẫn phẳng lì "trước sau như một". Cả hai trường hợp đều bộc lộ sự thiếu tự tin.
Tình cảm lứa tuổi này rất dễ biến đổi, dễ xúc động và biểu hiện tính hai cực rõ rệt: các em thường tự khép kín thế giới nội tâm của mình đồng thời lại có cảm giác mình cô độc. Nếu không được giải toả tâm lý dễ dẫn đến trầm cảm.
Ngoài ra xuất hiện những đặc điểm này: Tính đối kháng và tính phục tùng, tính độc lập và tính ỷ lại, tâm lý ất an, thích kết bạn, lòng tự trọng cao…
Nhiều cô còn hay ghen tị với người khác hoặc mặc cảm tự ti về bản thân một cách thái quá...
Con trai khi bước vào tuổi dậy thì cũng có một số biến đổi về cơ thể và tâm lý để dần trở nên người đàn ông trưởng thành: lông tóc mọc rậm và mau dài hơn, mọc ria mép và râu ("nam tu nữ nhũ"), cục yết hầu nổi lên ở cổ, "vỡ giọng", mọc mụn trứng cá ở trên mặt..., tăng chiều cao và bắp thịt tạo nên dáng vẻ riêng của phái mạnh. Các cậu bắt đầu quan tâm đến nửa kia của mình và luôn sẵn sàng ra tay giúp đỡ người khác, thể hiện chí khí nam nhi của mình.
Tâm tính thay đổi thất thường: hay nổi nóng, lòng tự ái cao, hay chống đôi người cùng phái (cha, anh, thầy giáo...); có bạn hay chải chuốt, ăn diện gây sự chú ý cho mọi người, có bạn lại ăn mặc xuề xoà - "bụi bụi" đến mức... phủi ra bụi - vì cho rằng chỉ có phe tóc dài mới hay đi shopping và quan tâm đến vẻ bề ngoài.
Vì tâm lý bốc đồng hay nổi máu anh hùng nên các cậu dễ bị sa đà hoặc bị kẻ xấu lôi kéo, lợi dụng.
Cũng có những bạn gặp "trục trặc" trong tiến trình phát triển giới tính mà chúng ta quen gọi là những người thuộc "giới tính thứ ba“ (á nam á nữ).
VI. VẤN ĐỀ ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI
(Slideshow DẪU CON LÀ AI)
Nằm vắt tay lên trán ta nghĩ đến chuyện cuộc đời, ngồi bấm đốt ngón tay ta nghĩ đến chuyện ngày qua. Nằm vắt tay lên trán ta nghĩ đến chuyện bây giờ, ngồi bấm đốt ngón tay ta nghĩ đến chuyện ngày mai.
1. NHẬN ĐỊNH
Theo trình thuật sáng tạo loài người trong sách Sáng Thế (St 2,18-24) và theo quan niệm Âm-Dương Á đông, người nam và người nữ hấp dẫn nhau, cần nhau, gắn bó nhau và bổ túc cho nhau, tạo một thế quân bình tự nhiên, được biểu lộ đặc biệt trong đời sống hôn nhân.
Cuộc sống tu trì thiếu mất sự quân bình tự nhiên đó. Nếu không thiết lập được và sống trong một thế quân bình siêu nhiên trong các môi trường đồng giới nam và đồng giới nữ (bằng đời sống cầu nguyện, đời sống huynh đệ cộng đoàn, tận tụy với sứ vụ), thì sự cuốn hút đó có thể được bù trừ bởi một sự chuyển hóa tâm lý, vì trong mỗi con người đều có cả hai yếu tố nam và nữ; yếu tố này có thể trội hơn yếu tố kia tùy người
Sự chuyển hóa tâm lý này có thể đưa tới một mối tương quan thiếu quân bình hay lệch lạc trong ứng xử tình cảm và giới tính ở một số đôi bạn đồng giới, nhưng không hẳn đã là đồng tính luyến ái thực thụ, dù có thể đưa tới đồng tính luyến ái.
Ngày nay, nền văn minh lấy cái tôi làm trọng tâm, tôn thờ vật chất, hưởng thụ khoái lạc nhục dục, suy thoái đạo đức làm nảy sinh và gia tăng tình trạng đồng tính luyến ái (như sẽ trình bày dưới đây).
Trong bối cảnh ấy, người ta nghi ngại và lo sợ đến đỗi nhầm lẫn với cả những tình bạn thân thiết tốt lành, vốn mang lại nhiều lợi ích lớn lao trong mọi lãnh vực cuộc sống, nhất là khi có được người bạn tri âm tri kỷ, có thể nói được với nhau bất cứ điều gì hầu giúp nhau sửa chữa nên tốt: “Thầy không còn gọi các con là tôi tớ nữa, Thầy gọi các con là bạn hữu của Thầy, vì tất cả những gì nghe biết nơi Cha Thầy thì Thầy tỏ cho các con biết”
Tuy nhiên cũng có những tình bạn làm tha hóa cuộc đời con người. Vì thế mà có sự lo lắng trước những biểu hiện tình bạn thân thiết trong các môi trường đồng giới nam hay nữ, khiến những người có trách nhiệm đào tạo, đánh giá và cất nhắc các ứng sinh thường lo lắng và đề phòng trước những biểu hiện tình cảm giới tính không phù hợp với đời sống linh mục và tu sĩ, đặc biệt vấn đề đồng tính luyến ái.
Nỗi lo của các ngài là chính đáng. Chúng ta kính trọng, cảm thông chia sẻ trách nhiệm của các ngài và nhận ra động lực yêu thương của các ngài.
Nhưng cách hiểu và đánh giá chính xác bản chất đồng tính luyến ái là gì? thế nào? cũng như cách thức và mức độ của các biện pháp phòng ngừa và giải quyết thì cần được quan tâm làm sáng tỏ, đưa tới hiệu quả tích cực, trong đào tạo cũng như trong cuộc sống sứ vụ.
2. ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI LÀ GÌ?
a. Hiện tượng đồng tính luyến ái trong Kinh Thánh 1) Kinh Thánh Cựu Ước.
Tính dục đồng giới hay đồng tính luyến ái không phải là điều mới lạ, nhưng đã có từ xưa vì bản tính tội lỗi của con người. Trong tiếng Anh có danh từ sodomy (từ tên thành Sôđoma) mô tả những hành động kết hợp tội lỗi giữa những người nam với nhau.
Trong Kinh Thánh Cựu Ước, thuật ngữ này phát xuất từ tên thành phố Sôđôma là thành phố tội lỗi đã bị Chúa hủy diệt bằng lửa. Khi Chúa sai hai thiên thần đến giải cứu gia đình ông Lót, cháu ông Ábraham, cư ngụ tại Sôđôma thì dân thành Sôđôma đã đòi có những hành động tội lỗi với hai thiên sứ mà họ nghĩ là hai người đàn ông:
“Hai sứ thần đến thành Xơ-đôm vào buổi chiều; ông Lót lúc ấy đang ngồi ở cửa thành Xơ-đôm. Vừa thấy các ngài, ông Lót đứng lên ra đón các ngài và cúi sấp mặt xuống đất.2 Ông nói: "Thưa các ngài, kính xin các ngài ghé lại nhà tôi tớ các ngài đây để nghỉ đêm và rửa chân, rồi sớm mai các ngài tiếp tục đi đường." Họ đáp: "Không! Chúng tôi sẽ nghỉ đêm ngoài đường phố."3 Nhưng ông nài nỉ các ngài mãi nên các ngài ghé lại và vào nhà ông. Ông làm tiệc đãi các ngài, nướng bánh không men, và các ngài đã dùng bữa.4 Các ngài chưa đi nằm thì dân trong thành, tức là người Xơ-đôm, bao vây nhà, từ trẻ đến già, toàn dân không trừ ai.5 Chúng gọi ông Lót và bảo: "Những người vào nhà ông đêm nay đâu rồi? Hãy đưa họ ra cho chúng tôi chơi."
6 Ông Lót ra trước cửa gặp chúng, đóng cửa lại sau lưng,7 rồi nói: "Thưa anh em, tôi van anh em đừng làm bậy.8 Đây tôi có hai đứa con gái chưa ăn ở với đàn ông, tôi sẽ đưa chúng ra cho anh em; anh em muốn làm gì chúng thì làm, nhưng còn hai người này, xin anh em đừng làm gì họ, vì họ đã vào trọ dưới mái nhà tôi."9 Chúng đáp: "Xê ra! Tên này là một ngoại kiều đến đây trú ngụ mà lại đòi xét xử à! Chúng tao sẽ làm dữ với mày hơn là với những tên kia! " Họ xô mạnh ông Lót và xông vào để phá cửa.10 Nhưng hai người khách đưa tay kéo ông Lót vào nhà với mình, rồi đóng cửa lại.11 Còn những người đứng ngoài cửa, thì các ngài làm cho chúng ra mù, từ người nhỏ nhất đến người lớn nhất, khiến chúng không sao tìm ra cửa.
12 Hai người khách nói với ông Lót: "Ông còn ai ở đây nữa không? Con rể, con trai, con gái, và tất cả những gì ông có trong thành, hãy đưa ra khỏi nơi này."13 Chúng tôi sắp phá huỷ nơi này, vì tiếng kêu trách dân thành quá lớn trước nhan ĐỨC CHÚA, và ĐỨC CHÚA đã sai chúng tôi đến huỷ diệt chúng" (St 19,1-13)
Khi con dân Chúa đi qua sa mạc vào Đất Hứa, Chúa đã ban luật lệ cho họ và một trong những điều luật đó là: Chớ ăn nằm với người nam như người ta ăn nằm với người nữ; đó là một điều quái gở. Nếu một người nam ăn nằm với một người nam khác, hay một người nữ ăn nằm với một người nữ khác, thì hai người đó hẳn phải bị xử tử, vì họ đã làm một điều gớm ghiếc; máu họ sẽ đổ lại trên mình họ (Lêvi ký 18,22 “Ngươi không được nằm với đàn ông như nằm với đàn bà: đó là điều ghê tởm”; 20,13 “Khi người đàn ông nào nằm với một người đàn ông như nằm với đàn bà, thì cả hai đã làm điều ghê tởm; chúng phải bị xử tử, máu chúng đổ xuống đầu chúng”).
2) Thánh Kinh Tân Ước,
Thánh Phaolô đã viết trong thư gửi các tín hữu tại Rôma, thủ đô đế quốc Lamã lúc bấy giờ, mô tả về tình trạng tội lỗi của con người. Ông viết: “Họ buông theo dục tình đồi bại. Đàn bà không quan hệ theo lẽ tự nhiên, mà lại làm điều trái tự nhiên.27 Đàn ông cũng vậy, không quan hệ với đàn bà theo lẽ tự nhiên, mà lại đem lòng thèm muốn lẫn nhau: đàn ông bậy bạ với đàn ông. Như vậy là chuốc vào thân hình phạt xứng với sự lầm lạc của mình” (Rm 1, 26-27).
Trong thư gởi cho tín hữu tại Corinthô, ông viết: “Những kẻ tà dâm, thờ thần tượng, ngoại tình, đồng tính luyến ái, trộm cắp, tham lam, say sưa, chưởi rủa, cướp giật sẽ không được thừa hưởng nước Chúa” (Thư 1 Cor 6,10).
b. Nói rõ hơn về đồng tính luyến ái
Không nên vội vàng kết luận một người là đồng tính luyến ái, dù thấy có sự thúc đẩy và vài ứng xử có liên quan.
Đồng tính luyến ái đích thực là khi hai người cùng phái có sự thu hút dai dẳng, có đáp ứng xúc cảm và ứng xử tính dục với nhau, nghĩa là người ước muốn nhục dục tìm cách thực hiện ước muốn đó bằng những hành động nhục dục với một người cùng phái.
Nguồn gốc đồng tính luyến ái là do di truyền hay do lượng hooc-môn dị thường. Phân tâm học cho là do những xáo trộn sâu xa trong tương quan cha-mẹ-con-cái, nhất là khi một người quá ràng buộc thân thiết có sức hấp dẫn cám dỗ. Những yếu tố hoàn cảnh, tâm lý, văn hóa, xã hội, sinh học làm hiện tượng đồng tính luyến ái trở nên phức tạp.
Người đồng tính luyến ái có sự khiêu dâm trổi vượt đối với người đồng phái khác. Nhưng người đó cũng phải đau khổ chịu đựng sự thiếu hụt trong nam tính hay nữ tính của mình.
Đồng tính luyến ái cũng có thể là một khao khát sự gắn bó đã bị mất (đối với cha hay mẹ).
Đồng tính luyến ái được xã hội ngày nay chấp nhận nhiều hơn, nhưng vẫn là nguồn lo âu đối với nhiều người. Thậm chí có một ít nước cho những đôi đồng tính luyến ái qui chế hôn nhân nữa! Giáo Hội và những người có lương tri kịch liệt phản đối.
Một người khác tính luyến ái sẽ phải đau khổ khi có thể chạm trán với người đồng tính luyến ái, dù không thường xuyên.
Ba tầm mức đánh giá một người có phải thực sự là đồng tính luyến ái không:
- hấp dẫn: ai hấp dẫn, nam/nữ?
- khiêu gợi: ai khiêu dâm và gợi tình?
- từng trải: những hành vi tính dục ấy làm thỏa mãn thế nào?
c. Thái độ đối xử tích cực
Người trợ giúp phải cẩn thận lắng nghe không kết án và đón nhận vô điều kiện, đồng thời giúp đương sự phân biệt có phải là đồng tính luyến ái đích thực hay ứng xử ấy chỉ do hoàn cảnh ép buộc hay một yếu kém đạo đức.
Phải nhân ái với họ, vì họ là nạn nhân của chính hướng chiều yếu đuối của họ: “Có ai trong anh em yếu đuối mà tôi không cảm thấy yếu đuối, có ai trong anh em sa ngã mà tôi không cảm thấy như thiêu như đốt” (Thánh Phaolô)
3. LẬP TRƯỜNG CỦA GIÁO HỘI
Huấn Thị của Bộ Giáo Dục Công Giáo về những tiêu chuẩn để biện phân ơn gọi đối với những người có khuynh hướng đồng tính luyến ái và việc chấp nhận họ vào Chủng Viện và lên Chức Thánh do Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI phê chuẩn ngày 31-08-2005 và ra lệnh phát hành tại Roma ngày 04-11-2005, lễ kính nhớ thánh Charles Bôrrômêô, Bổn Mạng các Chủng Viện, được ấn ký do
Đức Hồng Y ZENON GROCHOLEWSKI, Bộ Trưởng
Đức Cha J. MICHAEL MILLER, C.S.B., Thư Ký
Cần phải có một sự biện phân kỹ càng những vấn đề liên quan đến lãnh vực tình cảm và giới tính, trong suốt thời gian đào tạo, và cả về sau nữa.
Huấn thị đưa ra những quy tắc liên quan đến một vấn đề đặc biệt càng lúc càng cấp bách do tình huống hiện tại gây ra, đó là: Có được chấp nhận vào Chủng Viện và lên Chức Thánh những ứng sinh có khuynh hướng sâu nặng về đồng tính luyến ái không?
Ứng sinh phải luôn ý thức rằng toàn bộ đời sống phải được điều khiển bởi việc hiến dâng toàn thân, và phải đạt tới một sự trưởng thành tình cảm và tính dục. Sự trưởng thành này cho phép đương sự có được những tương quan thích đáng với cả người nam và người nữ.
Giáo lý Công giáo phân biệt những hành động đồng tính luyến ái và những khuynh hướng đồng tính luyến ái.
Truyền Thống Giáo Hội vẫn luôn xem những hành động đồng tính luyến ái là những hành động vô luân tự bản chất và ngược lại với luật tự nhiên. Vì thế, không có trường hợp nào trong những hành động này được chấp thuận.
Những khuynh hướng đồng tính luyến ái đã bám rễ sâu mà người ta thấy nơi một số người nam cũng như nữ được xem là vô trật tự và thường là một thử thách khó vượt qua đối với những người này.
Tuy nhiên, những người này phải được tiếp đón cách kính trọng và tế nhị, tránh mọi phân biệt đối xử bất công. “Trái lại, phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô” (Eph 4:32).
Giáo hội, dù vẫn kính trọng sâu xa những người này, không thể chấp nhận vào chủng viện và vào các chức thánh những người thực hành đồng tính luyến ái, có những khuynh hướng đồng tính luyến ái đã bám rễ sâu và ủng hộ cái được gọi là văn hóa đồng tính nam, vì thiếu những tương quan chính đáng với những người nam và người nữ khác.
Trái lại, những khuynh hướng đồng tính luyến ái dù chỉ là biểu hiện của một vấn đề tạm thời, chẳng hạn như vấn đề của tuổi thanh niên chưa được hoàn tất, cũng phải được vượt qua ít là ba năm trước lúc truyền chức phó tế.
Như thế, nếu mới chỉ là khuynh hướng đồng tính luyến ái và có thể chữa trị với thời gian thì không bị ngăn trở. Phải phân biệt hiện tượng và bản chất: Hiện tượng sẽ qua đi, bản chất mới khó thay đổi.
Nếu một ứng sinh thực hành đồng tính luyến ái hoặc có những biểu hiện của khuynh hướng đồng tính luyến ái đã ăn rễ sâu xa, thì vị linh hướng cũng như cha giải tội của ứng sinh, có bổn phận lương tâm ngăn cản anh không tiến tới việc Truyền chức.
Thật là không ngay thẳng trầm trọng khi một ứng sinh nào che dấu việc đồng tính luyến ái của mình để đạt tới các chức thánh cho bằng được. Một thái độ không trung thực như thế là không phù hợp với tinh thần chân lý, tinh thần ngay thẳng và sẵn sàng phục vụ Chúa Kitô và Giáo Hội.
4. THÁI ĐỘ PHẢI CÓ
Căn cứ vào những khảo sát khoa học và lập trường của Giáo Hội, chúng ta phải có cái nhìn thấu cảm và thái độ tôn trọng, tin tưởng đối với nhau, không phán đoán thiếu cơ sở và vội vàng kết luận những ai đó là đồng tính luyến ái.
Dù có nghi ngờ những ai đó có biểu hiện đồng tính luyến ái cũng không được phân biệt đối xử, cô lập hay tẩy chay, không những lỗi bác ái mà lỗi cả đức công bằng. Nhất là khi điều nghi ngờ thực tế không có thì ai sẽ đền bù sự oan uổng bất công đó?!
Phải lấy tinh thần bác ái huynh đệ mà trực tiếp trao đổi chỉ bảo (như Chúa Giêsu đã dạy), lấy tinh thần siêu nhiên mà cầu nguyện và phó thác cho Chúa định liệu, nhẫn nại chờ đợi vì cuộc sống thực mỗi ngày sẽ mạc khải đúng chân tướng con người: “Vì chẳng có gì bí ẩn mà lại không trở nên hiển hiện, chẳng có gì che giấu mà người ta lại không biết và không bị đưa ra ánh sáng” (Lk 8:17).
Không tìm cách xen vào cuộc đời người khác: “Tôi nghe nói trong anh em có một số người sống vô kỷ luật, chẳng làm việc gì, mà việc gì cũng xen vào” (2 Tx 3: 11).
Không ác ý theo dõi, rình mò dò xét để báo cáo bằng thư nặc danh; cũng không nhận làm ăng-ten tố cáo nhau, vì như thế sẽ tạo nên nghi ngờ thù oán nhau, làm mất bầu khí bình an, tin tưởng và thương yêu, là cái cần thiết để xây dựng cộng đoàn: “Anh em đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp, để xây dựng và làm ích cho người nghe” (Eph 4:29).
Phải nhớ lời Chúa Giêsu bảo Phêrô: “Nếu Thầy muốn nó ở lại cho đến khi Thầy đến, việc gì đến con, con hãy cứ theo Thầy”- “Các con đừng xét đoán để khỏi bị xét đoán; các con đong bằng đấu nào thì sẽ đong trả lại bằng đấu ấy cho các con”
Hãy cho người biết lỗi, cho họ cơ hội sửa lỗi, và cho họ thời gian nữa, vì không ai một sớm một chiều mà sửa ngay được. Tin tưởng vào sự biến đổi tốt đẹp trong tương lai (“nhân thùy vô quá, hữu quá tắc cải, thị vị vô quá”): Mỗi vị thánh đều có một quá khú, và mỗi tội nhân đều có một tương lai.
Trái lại, người có trách nhiệm sẽ đích thân kiểm soát bằng sự phục vụ đầy chăm sóc và gần gũi yêu thương. Nhờ đó sẽ phát hiện kịp thời và có cách thích hợp nhất để uốn nắn, đào tạo với lòng cảm thông.
Trong trường hợp biết rõ ai đó có đồng tính luyến ái thật và để tránh thiệt hại lớn cho cộng đoàn lẫn đương sự, sau khi đã trực tiếp làm mọi cách có thể, và nhất là cầu nguyện, hãy theo lương tâm, can đảm đích thân kín đáo trình bày với Bề trên và sẵn sàng chịu trách nhiệm kiểm chứng về điều mình nói.
Các đôi bạn thân thiết cũng hãy dè dặt, khôn ngoan và bác ái tránh gây cớ hiểu lầm cho người khác: không thường xuyên chỉ đi lại vui chơi tâm sự với nhau, song mở ra với mọi người; nhất là tránh những biểu lộ tình cảm quá thân mật về mặt thể lý…
Nhưng cũng đừng vì sợ con mắt nhòm ngó, tỵ nạnh mà xa tránh nhau làm tổn thương tình bạn cao đẹp đã có. Mười hai tông đồ, mà Chúa Giêsu vẫn thân tín hơn với Phêrô, Giacôbê và Gioan, nhất là Gioan đó thôi, dù vẫn có vài hiểu lầm và bất bình!
Hồn con thương để xa rời,
Những niềm ân oán mưu đời ghét ganh;
Bao nhieu vị kỷ thấp hèn,
Tay Ngài giải cứu vững bền con đi.
Ngàn năm con vẫn kiên trì,
Yêu người yêu Chúa ngại gì nước non,
Dầu cho sông cạn núi mòn,
Tình con sau trước vẫn còn thiết tha.
Thánh Thi Kinh Sách Thứ Năm Tuần I TN
Cuộc sống hiên ngang đầy can đảm,
Mưu thần chước qủy biết phòng xa,
Khổ đau không để chồn chân bước,
Nẻo chính hằng theo bỏ lối tà.
Không ngừng bảo vệ luôn gìn giữ,
Thể xác tâm linh mãi vẹn toàn,
Đốt lửa cháy bừng tin cậy mến,
Tiểu trừ tà ý khỏi tâm can…
Đoan trang đức hạnh ngay từ sớm,
Tựa buổi ban mai dệt nắng hồng,
Lửa nóng tin yêu thành chính ngọ,
Tâm thần sẽ thóat khỏi cảnh hòang hôn.
Thánh Thi Kinh Sáng Thứ Hai Tuần I TN
Cho con được tràn đầy thanh thản,
Đổi mới con xán lạn chói lòa,
Chẳng chi xảo trá điêu ngoa,
Sạch từ vạn ý sạch ra muôn lời.
Ngày sáu khắc êm trôi lặng lẽ,
Chúa ngăn ngừa chẳng để phút giây,
Tay chân miệng lưỡi hình hài,
Buông theo tội lỗi mà đầy bợn nhơ.
Chúa theo dõi đường tơ kẻ tóc,
Nhìn xem ta thấu suốt ngọn nguồn,
Công to việc nhỏ ngàn muôn,
Từ bình minh tới hoàng hôn rõ ràng.
Thánh Thi Kinh Sáng Thứ Năm Tuần I TN
Ước mong đời sống có tình,
Sầu thương vương nhẹ như hình mây bay, Rồi ra phải trái có ngày,
Ai đời đi trả nợ nần chẳng vay,
Phù sinh một phút trắng tay,
Hơn nhau một chút dở hay ở đời,
Xét đoán là việc Chúa Trời,
Ai mà kết án những người anh em,
Mặt mình cũng có lọ lem,
Tiên vàn lo rửa pha dèm làm chi?
Hận thù hãy mau lấp đi,
Yêu thương xây dựng khắc ghi trí lòng,
Sống sao đáng được khoan hồng,
Trong ngày thẩm phán chí công sau cùng.
VII. NHỮNG YẾU TỐ NỒNG CỐT CỦA TRƯỞNG THÀNH TÌNH CẢM
1. DẤU HIỆU CỦA SỰ THIẾU TrƯỞng thành
Có thể xác định được cái tạo nên sự trưởng thành tình cảm không? Ta hãy cố gắng xem xét các thành phần cấu tạo nền tảng của nó để có thể định nghĩa trưởng thành tình cảm như sự hòa điệu giữa trí óc và con tim.
Trí óc (Lý trí): là phía hữu lý của con người; khả năng suy nghĩ hợp lý; khả năng theo đuổi mục đích; khả năng lấy quyết định; khả năng điểu chỉnh với thực tại (đối với Freud, đây là “tiến trình đệ nhị”)
Con tim: là phía tình cảm của con người; các cảm nhận, các nhu cầu, các ước vọng, các thúc đẩy, các giấc mơ (đối với Freud, đây là “tiến trình đệ nhất”)
Sự hòa điệu hay hội nhập giữa hai chiều kích căn bản của con người mang lại bình an nội tâm, và đến phiên nó, sự bình an nội tâm tạo nên sự bình an với tha nhân và khả dĩ hòa điệu với thực tại.
Để hiểu thấu đáo trưởng thành là gì, chúng ta hãy nhìn hai hình thức không trưởng thành mà cả con tim và lý trí đều mắc phải.
1) Sự bốc đồng, hấp tấp
Bộc lộ tình cảm ra bên ngoài và hành động theo sự thúc đẩy, không tự chủ thích đáng, như một đứa trẻ con... là cái người ta thường hiểu là “không trưởng thành” hay “tính trẻ con.”
Coi sự thỏa mãn các nhu cầu là ưu tiên để thỏa mãn các ham muốn (được gọi là nguyên tắc lạc thú).
Sự thiếu tự chủ có thể chỉ giới hạn ở một hay hai lãnh vực, chẳng hạn kiềm chế cơn giận bùng nổ hay những khó khăn giới tính.
Có thể có nhiều cách bộc lộ khác nhau của hình thức không trưởng thành này, tùy thuộc vào các nhu cầu và cảm xúc thoát khỏi sự kiểm soát.
Việc này có thể dẫn đến xung đột với tha nhân và xã hội, nếu các hành động do bản năng tác hại cho người khác (như không thể kiểm soát cơn giận hay trạng thái buồn rầu ủ rũ); hoặc xung đột trong bản thân mình, nếu thái độ ứng xử là không thể chấp nhận được đối với lương tâm mình hay ý thức tự trọng (không có khả năng vượt thắng một cảm nhận oán giận đối với người khác).
2) Sự khắt khe cứng cỏi
Sự hoàn toàn kiểm soát trên cảm xúc và ước muốn của mình sẽ đưa tới hậu quả là đánh mất tính tự phát và thích thú.
Người tự kiểm soát được mình thường xem ra “trưởng thành và có trách nhiệm”, như đối nghịch lại với người bị thúc đẩy, bốc đồng. Nhưng một sự kiểm soát như thế thường được bắt rễ trong sự ức chế và được đặc trưng bởi sự khắt khe cứng cỏi.
Trong sự không trưởng thành có ứng xử nghèo nàn hoặc vì sử dụng không thích hợp hoặc vì sự sử dụng thái quá cơ chế tự vệ.
Căn nguyên của tự vệ là sự lo âu. Để kiểm soát nỗi lo âu, người ta cố che đậy chính mình và kẻ khác cái mà người ta không thích.
Khi mọi sự tự vệ bị đập tan, người ta gặp phải sự tê liệt hoàn toàn - đuợc gọi là nỗi lo âu hay sự hoảng loạn tấn công, rất giống với cơn đau tim.
3) Những chỉ dẫn của sự thiếu trưởng thành
Những chỉ dẫn sau đây có thể giúp khám phá sự có mặt của vài bệnh lý nhẹ hay vài nhược điểm căn bản trong nhân cách bên dưới lối ứng xử không trưởng thành - mặc dù cho đến nay vẫn bình thường.
a. Trong tương quan với bản thân
· Tinh thần phòng vệ thái quá;
· Luôn luôn cảm thấy mình bị coi thường;
· Có những phản ứng mạnh không thích hợp làm tình hình căng thẳng;
· Tình trạng trống rỗng và khô khan thường xuyên;
· Thiếu xác tín cá nhân;
· Cẩu thả và thiếu xác thực trong cuộc sống hằng ngày và trong các nhiệm vụ thông thường.
b. Trong tương quan với tha nhân.
· Thui thủi một mình, dường như sống trong một thế giới của riêng mình;
· Có khuynh hướng đánh giá thấp kẻ khác và nhìn họ cách tiêu cực, nhất là khi quá lý tưởng hóa bản thân;
· Người hay gây rối;
· Tính cáu kỉnh trẻ con khi không vừa ý hay co mình lại;
· Mánh khoé lôi kéo kẻ khác cho các nhu cầu tập trung của mình;
· Sự thiếu căn tính bản thân được nhìn thấy trong khuynh hướng lý tưởng hóa các khuôn mặt quyền bính và đồng hóa với họ.
c. Trong tương quan với thực tại
· Không có khả năng đối phó cách xây dựng với thực tại;
· Thường xuyên thiếu óc tập trung;
· Không có khả năng kiên trì trong nhiệm vụ đơn giản, trừ khi được thường xuyên hướng dẫn hay giám sát.
Kết quả đáng suy nghĩ của một cuộc nghiên cứu
· Thời gian mới vào có 60-80% ứng sinh có những mâu thuẫn. Họ vào với lý tưởng bản thân nhưng bị tác động bởi các mâu thuẫn của mình.
· Sau một thời gian khá dài, chỉ có một số nhỏ các ứng sinh trên đã lớn lên trong sự trưởng thành tình cảm. Trong số những người còn lại, các mâu thuẫn vẫn thắng thế và các xung đột vẫn không được giải quyết.
· Thách đố: chương trình đào tạo phải nhìn vào cái tôi sâu xa hơn của mỗi con người.
2. TIẾN ĐẾN SỰ TRƯỞNG THÀNH
1) Bốn đường lối căn bản để bảo vệ chính mình
a. Đường lối thứ nhất: PHỦ NHẬN
Chúng ta gạt bỏ sự hiện hữu của chính mối đe dọa hoặc tính nghiêm trọng của nó, nhờ đó chúng ta không để nó ảnh hưởng lên cuộc đời chúng ta. Chẳng hạn “suy tưởng cách tích cực” thường dựa trên sự phủ nhận. Nó cho phép chúng ta nhìn khía cạnh thú vị của cuộc đời, nhờ đó chúng ta thấy được bầu trời sáng bạc sau đám mây (trong cái rủi vẫn có cái may, họa trung hữu phúc).
b. Đường lối thứ nhì: TRỐN CHẠY
Mối đe dọa quá nghiêm trọng khiến chúng ta trốn chạy khỏi nó, và trốn đi càng xa càng tốt nếu chúng ta có thể (tam thập lục kế, vi tẩu thượng sách). Cảm nhận bên trong về sự không an toàn có thể được đặt sai chỗ trên thực tại bên ngoài, khiến chúng ta phải sợ và tránh nó. Đây là những ám ảnh về ma quái, bóng tối, gặp người nọ kẻ kia…
c. Đường lối thứ ba: CHIẾN ĐẤU
Thay vì chạy trốn, chúng ta chuẩn bị mình để chiến đấu. Chúng ta dùng sự hiểu biết để kiểm soát nỗi lo âu và bất cứ cái gì nó gây nên, chẳng hạn đọc nhiều về thần học luân lý để biết hầu tránh tội. Chúng ta hỏi ý kiến những người khôn ngoan từng trải để tìm sự an toàn, hoặc chúng ta giữ vật và người dưới sự kiểm soát để tránh sự không chắc chắn.
d. Đường lối thứ tư: MĨM CƯỜI
Như cây tre đong đưa theo gió, chúng ta làm cho mình ra yếu mềm để tránh bị nghiền nát. Chúng ta có thể làm như trẻ con để tránh xung đột hay vẫn ở như trẻ con để tránh thách đố. Thay vì đối mặt với một trách nhiệm, chúng ta có thể cáo bệnh, điều đó cũng có thể cho phép chúng ta được người khác chăm sóc. Chúng ta mĩm cười trước những mối đe dọa và tránh những cuộc tấn công bởi tính ngoan ngoãn, dễ phục tùng.
2) Bốn phương diện của sự trưởng thành
· Tự ý thức
· Tự hiểu mình
· Tự chấp nhận mình
· Tự thay đổi và tự do quyết định
3) Tiêu chuẩn để đánh giá sự trưởng thành tình cảm
Danh sách 12 tiêu chuẩn sau đây như những chỉ dẫn ứng xử có lẽ tương đối dễ thực hiện, được chia ra ba nhóm chính:
a. Thái độ đối với bản thân
- Tinh thần cởi mở và hiểu biết chính mình (ngược lại tinh thần phòng vệ);
- Sự kiểm soát mềm dẻo trên các nhu cầu, cảm xúc, các thúc đẩy (ngược lại tính bốc đồng hấp tấp);
- Giá trị cam kết;
- Cách ứng xử có dự đoán trước, không khắt khe cứng cỏi và căng thẳng quá đáng.
b. Thái độ đối với tha nhân
- Khả năng yêu thương, vừa tình cảm vừa hữu hiệu;
- Các mối tương quan tốt với đồng nghiệp;
- Các mối tương quan tốt với người khác phái;
- Thái độ tốt đối với quyền bính;
- Khả năng lãnh đạo.
c. Thái độ đối với thực tại
- Xét đoán phân minh;
- Khả năng làm việc tốt;
- Ý thức hài hước
VIII. THẾ NÀO LÀ TRƯỞNG THÀNH?
1. Các đặc tính của sức khoẻ tinh thần
Một nhóm các nhà phân tâm học liệt kê các yếu tố của sức khoẻ tinh thần như sau:
- Sự phấn khởi, hoan hỉ
- Tinh thần thanh thản lạc quan
- Khả năng vui thích làm việc
- Khả năng vui thích giải trí
- Khả năng yêu thương
- Khả năng đạt tới mục đích
- Không bộc lộ cảm xúc thái quá
- Tự biết mình cách sâu sắc
- Trách nhiệm xã hội
- Phản ứng thích hợp với mọi cảnh huống.
2. Các chuẩn mực của một con người trưởng thành
Mở rộng ý thức về bản thân: Tham gia vào vài lãnh vực ý nghĩa của nỗ lực nhân loại định hướng cho cuộc sống. Sự trưởng thành tiến tới cân xứng với cuộc sống trở nên tử tế từ cái trực tiếp ồn ào của thân xác và của cái tôi lấy mình làm trung tâm điểm.
Liên kết bản thân với tha nhân có hai khía cạnh: Khả năng sống thân mật sâu xa với tha nhân và Khả năng sống thanh thoát làm cho mình trở thành người không có khuynh hướng chiếm hữu nhưng tôn trọng kẻ khác cách sâu xa.
An toàn tình cảm (chấp nhận chính mình): khả năng mang nổi sự thất vọng (thất bại), chấp nhận lầm lỗi của mình mà không phản ứng quá dữ dội với tha nhân và các biến cố bên ngoài. Một con người như thế đã học được để sống với các trạng thái tình cảm của mình, nhờ đó không bị chúng phản bội lại bằng cách đưa mình vào những hành động bốc đồng quấy rầy cuộc sống hạnh phúc của tha nhân. Người như thế bộc lộ các xác tín và cảm nhận của mình với lòng trân trọng các xác tín và cảm nhận của người khác.
Nhận thức thực tế, các kỹ năng, phận vụ: khả năng đánh giá thực tại đúng như nó là, chứ không như mình mong muốn nó trở thành; có những kỹ năng thích hợp để giải quyết các vấn đề khách quan; có khả năng quên mình vì một nhiệm vụ quan trọng. Tóm lại, một người trưởng thành sẽ va chạm gần gũi với một “thế giới thực”, nghĩa là nhìn xem sự vật, con người và các hoàn cảnh theo cái mà chúng là.
Thể hiện mình cách khách quan: Biết rõ mình và hài hước. Biết rõ mình, một sự hiểu biết đầy đủ về những điểm mạnh và những điểm yếu của mình. Luôn luôn có tinh thần hài hước đi cùng. Có khả năng coi thường những cái mình yêu thích (dĩ nhiên bao gồm cả bản thân và tất cả những gì liên quan đến bản thân), và vẫn yêu thích chúng. Cái trái ngược là sự giả bộ màu mè, tức là khuynh hướng xuất hiện bề ngoài mình là cái gì đó mà thực ra không thể.
Triết lý thống nhất đời sống: một sự hiểu biết rõ ràng về mục đích của cuộc đời trong những hạn từ của một lý thuyết dễ hiểu. Nói cách khác, một hệ thống ý nghĩa và trách nhiệm, một định hướng giá trị, trong đó các hoạt động chủ yếu của cuộc sống được thực hiện.
3. Một con người trưởng thành thể hiện tốt chính mình
Nhận thức cao về thực tại và có những liên hệ thoải mái với nó. Người này phán đoán về các tình huống và con người cách chính xác. Họ không bị đe dọa và hoảng sợ, như người không trưởng thành tỏ ra quá cần thiết đến thê thảm sự chắc chắn, an toàn, sự chính xác và mệnh lệnh.
Sự chấp nhận bản thân và thiên nhiên: Họ cảm thấy thoải mái với thiên nhiên và bản tính con người. Họ chấp nhận toàn bộ các nhu cầu và tiến trình tự nhiên, không chán ghét, nhưng trân trọng các đức tính cao hơn làm nên sự trưởng thành nhân bản.
Tính tự phát: Khả năng thưởng thức nghệ thuật, những thời kỳ tốt lành, cuộc sống thú vị. Không quá câu nệ tập tục, nhưng có thể nắm lấy những kinh nghiệm tột đỉnh về cuộc đời.
Vấn đề tập trung: Làm việc hiệu quả và kiên trì trong những nhiệm vụ khách quan; có thể hy sinh chính mình trong các vấn đề đích thực mà không bận tâm đến bản thân.
Sự thanh thoát: Cần sự riêng tư và tự túc. Tình bạn và sự gắn bó đối với gia đình không bám dai dẳng, không xâm phạm hay chiếm hữu.
Độc lập với văn hóa và môi trường: Liên hệ gần gũi là khả năng để lấy hay để bỏ các thần tượng của thương trường. Dù nịnh hót hay chỉ trích cũng chẳng làm xáo trộn quá trình phát triển căn bản của mình.
Tính chất mới mẻ trong việc đánh giá: dễ cảm với kinh nghiệm mới.
Chân trời không biên giới: quan tâm với bản chất tối hậu của thực tại; những cảm nhận thần bí hay bao la như đại dương là yếu tố tôn giáo trong sự trưởng thành.
Cảm thức xã hội: có một cảm nhận căn bản về thiện cảm và tình thương, bất kể sự giận dữ hay thiếu nhẫn nại thỉnh thoảng xảy ra. Lòng cảm thông đối với đồng loại là một dấu hiệu của sự trưởng thành.
Tương quan xã hội sâu xa và có chọn lựa: có thể có những sự gắn bó cá nhân sâu xa khác thường. Vòng tròn các gắn bó gần gũi có thể nhỏ hẹp, nhưng cũng có thể nhẹ nhàng mở ra với những mối liên hệ bên ngoài quỹ đạo này.
Đặc tính tự do: cảm nhận và tỏ lòng kính trọng đối với bất cứ người nào chỉ vì đó là một cá vị con người; tỏ ra độ lượng trong lãnh vực đạo đức và tôn giáo.
Sự chắc chắn đạo đức: biết sự khác biệt giữa cái đúng và cái sai trong cuộc sống thường ngày; không lẫn lộn phương tiện và mục đích, và cương quyết theo đuổi cho bằng được những mục đích mà mình thấy là đúng.
Ý thức thân thiện của tính hài hước: Không chơi chữ, giễu cợt hay mưu kế thù nghịch, nhưng tự phát hài hước.
Tính sáng tạo: Cách sống có một sức mạnh chắc chắn và một cá tính gây ấn tượng trên bất cứ cái gì mình làm (viết lách, sáng tác hay công việc).
CHƯƠNG HAI
CON ĐƯỜNG SỐNG THÁNH
A. ĐỊNH HƯỚNG TỔNG QUÁT
(slideshow TRĂM PHẦN TRĂM)
Mọi sự đều tùy thuộc ở thái độ của con người. Chính THÁI ĐỘ và CÁI NHÌN của chúng ta đối với cuộc sống làm cho cuộc đời chúng ta nên 100%
Như thế, để vươn đến đỉnh cao nhất và để đạt được 100% trong cuộc sống, điều thực sự giúp chúng ta vươn cao hơn, xa hơn, chính là THÁI ĐỘ và CÁI NHÌN của chúng ta vào cuộc đời, vào ơn Chúa.
Mọi việc đều có giải pháp riêng của nó, chỉ khi chúng ta thay đổi thái độ và cái nhìn của chúng ta, chúng ta mới thực sự tìm được đúng giải pháp cần thiết.
Thái Độ và Cái Nhìn là giải pháp căn bản đứng trước tất cả mọi vấn đề. Hãy thay đổi thái độ và cái nhìn của mình, ta sẽ thay đổi được cuộc đời ta.
Vậy thái độ thích hợp của chúng ta trong những lần gặp mặt này là cùng nhắc nhở nhau về đời sống thiêng liêng, mà ai cũng đã biết, đã sống, đang sống và sẽ tiếp tục mãi, như cha ông chúng ta thường bảo “Dao năng mài thì sắc, lời năng nhắc thì nhớ”
Tuy nhiên, chúng ta cũng đừng quên “Rượu nhạt uống lắm cũng say, lời hay nói mãi cũng nhàm” và “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.”
Đúng hơn là chúng ta chia sẻ và học hỏi lẫn nhau, như hình chữ này diễn tả: TEACH – LEARN. Như thế, chúng ta sẽ nhấn mạnh hơn về cảm nhận thực tế, kiểm điểm đời sống và kinh nghiệm sống, hơn là nặng về lý thuyết.
Không chỉ nhắc nhở, mà còn phải giúp đỡ và nâng nhau dậy nữa, chứ không bàng quang đứng nhìn theo chủ thuyết “mackeno”: “Tưởng rằng chị ngã em nâng, ai hay chị ngã em bưng miệng cười !”
Nhất là nhìn vào lòng nhân hậu của Thiên Chúa, “tội thì tha, lỗi thì sửa”: Cây sậy đã rạp xuống, Ngài không bẻ gãy; tim đèn còn leo lét khói, Ngài không dập tắt.
Chẳng ai có thể biết được và tự bảo đảm ngày mai mình sẽ ra sao. Thật thế, bao lâu còn sống là còn động, nghĩa là còn có biến dịch và thay đổi: Tội nhân có thể trở thành thánh nhân, và thánh nhân cũng có thể trở thành tội nhân: “Tiên cũng có khi đọa, thánh cũng có khi lầm,” phương chi con người hèn yếu chúng ta!
Ta phải sợ rằng “cười người hôm trước hôm sau người cười” và “bảy mươi chưa què chớ khoe mình lành”; nhất là có những lãnh vực con người không ai dám tự cho rằng mình mạnh mẽ cả, như thánh Phaolô chia sẻ: “Có ai trong anh chị em yếu đuối mà tôi không cảm thấy yếu đuối, có ai trong anh chị em sa ngã mà tôi không cảm thấy như thiêu như đốt” (2 Cor 11:29).
Trong khóa học này, chúng ta theo đuổi một mục đích kép: Không những học cho chúng ta hôm nay, mà còn học cho sứ vụ của chúng ta ngày mai nữa. Trong tương lai, anh em sẽ trở thành những linh mục, những nhà lãnh đạo và đào tạo! Chính vì thế mà anh em được chọn vào Chủng viện. Hãy vui sống với lòng biết ơn và trách nhiệm để trau dồi kiến thức và đức độ, chuẩn bị cho thời giờ của Chúa (“sống lâu ra lão làng”).
Mỗi ngày chúng ta tiếp tục biện phân ơn gọi, sống ơn gọi và trang bị cho mình những kỹ năng của người linh mục đích thực như lòng Chúa mong muốn, Giáo Hội tin tưởng và trần gian chờ đợi.
Dù chúng ta được hướng dẫn có một định hướng chọn lựa dứt khoát sớm và nhiều người mong ước "chọn một lần dứt khoát cho tất cả", nhưng thực ra chúng ta phải làm mới lại chọn lựa ấy mỗi ngày trong suốt đời (‘bắt đầu, lại bắt đầu’), thậm chí có khi phải chọn lựa khác đi nữa.
(Hát: XIN GIỮ CON).
B. ĐỊNH NGHĨA ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG
ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG
LÀ ĐỜI SỐNG NHÂN BẢN ĐƯỢC SỐNG
TRONG CHÚA THÁNH THẦN
Định nghĩa này phải hiểu trong tiến trình:
Con Người → Tu Đức Nhân Bản (đạo làm người) → Nhân Bản Thiêng Liêng (đạo làm người/con Chúa) → Thánh Nhân (hiệp thông tình bạn với Chúa: Ga 15,15)
Đời sống nhân bản khởi sự từ khi sinh ra, trải dài cho đến lúc chết, và còn tiếp tục cả sau khi chết, qua danh thơm tiếng tốt hay ố danh tiếng xấu (“Cọp chết để da, người ta chết để tiếng”).
Đời sống thiêng liêng là đời sống nhân bản đó được sống trong Chúa, vì Chúa và cho Chúa: “Dầu ăn, dầu uống, dầu làm bất cứ điều gì khác, anh em hãy làm cho sáng danh Chúa” (thánh Phaolô)
Trong cả hai cuộc sống ấy (nhân bản và thiêng liêng), mỗi người được mời gọi sống tới mức độ trưởng thành tốt nhất, mức độ trọn hảo: “Hãy nên trọn lành như Cha trên trời là Đấng trọn lành” (Mt 5,48), hay nói theo ngôn ngữ hiện nay là “trăm phần trăm”
Chính thái độ sống làm cho cuộc sống đạt tới mức 100%. Vậy thái độ của chúng ta đối với môn Tu Đức này sẽ rất có ý nghĩa. Nó không phải chỉ là một hiểu biết mang tính kiến thức về đời sống thiêng liêng, mà là một cuộc sống. Và nếu là cuộc sống, thì bao lâu còn sống, bấy lâu chúng ta còn học Tu đức, còn thực hành tu đức, sống tu đức và thăng tiến nhờ tu đức.
Tuy nhiên, dường như có sự thiếu liên tục giữa giai đoạn đặc biệt đào tạo chuyên sâu về tu đức như năm đầu tiên mới vào Chủng viện được gọi là Năm Tu Đức, trong đó đời sống thiêng liêng phải vượt trổi hơn đời sống tông đồ, và các giai đoạn đào tạo kế tiếp khác.
Sau giai đoạn đó, việc đào tạo tu đức dần dần bị coi là xong rồi, như đã đạt được một mớ kiến thức về tu đức. Ngoài ra, nhiều khi không có sự tiếp tục đào luyện tu đức có hệ thống trong những năm kế tiếp nữa. Nhưng biết được chưa chắc đã sống được: “Nói thì hay mà vỗ tay thì lỗi” hay như thánh Phaolô thú nhận: "Có những điều tốt tôi muốn làm nhưng tôi không làm được, và có những điều xấu tôi không muốn làm mà tôi lại làm!"
Và cũng thiếu một sự tương tác giữa các môn học khác với môn học và đời sống tu đức. Chớ gì chúng ta có thể chiêm ngắm và cầu nguyện trong và qua các môn học khác.
Chính tinh thần sống tu đức này thổi sinh khí và gia tăng nghị lực cho chúng ta trong việc học các môn học khác nữa [chia sẻ kinh nghiệm năm chuẩn bị thi Thành Chung].
Hầu hết các ngành đào tạo hiện nay đều đòi hỏi một thời gian thực tập, sau khi học xong phần lý thuyết (Y khoa, Sư phạm v.v...). Điều đó càng đúng hơn nữa với đào tạo nhân bản và đào tạo thiêng liêng.
Hai việc đào tạo này luôn luôn gắn kết, quyện lấy nhau và bổ túc cho nhau. Sự trưởng thành nhân bản và thiêng liêng không tùy thuộc vào tuổi tác và địa vị (xem Daniel và hai bậc kỳ lão trong chuyện bà Suzana).
Và cũng vì thế người ta nói đến “nhân đức thật” và “nhân đức ảo.” Còn Chúa Giêsu thì căn dặn “hãy nghe những lời họ nói, nhưng đừng bắt chước việc họ làm, vì họ nói mà không làm.” Và người bình dân Việt Nam lại thách đố: "Làm quan hãy xét cho dân, không tin ngài xuống ngài mần ngài coi!"
Vì thế, hai việc đào tạo nhân bản và thiêng liêng này phải song hành với nhau trong suốt cả cuộc đời mỗi người, trải nghiệm qua thành công và thất bại: “Tiên cũng có khi đọa, thánh cũng có khi lầm.” Nhưng Nguyễn Thái Học an ủi, khích lệ: “Ai từng chiến thắng mà không hề chiến bại, ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần, nhưng đây chưa phải trận sau cùng chiến đấu!”
Ai trong chúng ta cũng có những lần trải nếm kinh nghiệm của thánh Phaolô về hai sức mạnh đối nghịch nhau trong bản thân mỗi người, khiến những điều tốt ta muốn làm thì lại không làm được, và những điều xấu không muốn làm thì ta lại làm.
Hãy chấp nhận những giới hạn, bất toàn và bất lực của mình, càng ngày chúng ta càng trở nên khiêm tốn hơn về chính mình, trước mặt Chúa, cũng như trước mặt người khác.
Và mỗi người chúng ta cũng hãy nghĩ như thế cho tha nhân: bao lâu còn mang nặng thân phận con người, họ cũng có những yếu đuối, sai sót, lỗi lầm, bất toàn và bất lực của họ, dù họ là ai đi nữa: ngang hàng với mình, Bề trên hay bề dưới. Càng chấp nhận họ như họ là như thế, ta sẽ càng trở nên cảm thông với họ hơn, độ lượng với họ hơn, tha thứ và bỏ qua cho họ hơn.
Cảm thông, độ lượng, tha thứ, bỏ qua cho người và khiêm tốn về mình, các mối quan hệ nhân bản của ta sẽ được cải thiện tốt hơn và đời sống thiêng liêng cũng sẽ được phát triển đúng mức.
Cuộc đời nhân bản – thiêng liêng của chúng ta lắm khi cũng “ba chìm bảy nổi chín long đong.” Và tiền nhân chúng ta cũng thường nhắc nhở: “Lênh đênh qua cửa Thần Phù, khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm.”Chớ chi chúng ta biết chìa tay ra cho nhau như Chúa Giêsu đã chìa tay cứu Phêrô khỏi chìm.
Như thế, cuộc đời chúng ta không được biểu diễn như một đường thẳng, mà là những đường gợn sóng hoặc là những đường xoắn trôn ốc.
(slideshow CÙNG ĐI VỚI CHÚA GIÊSU)
Nhưng Thiên Chúa luôn luôn viết thẳng trên những đường cong của cuộc đời của chúng ta.
Vì vậy đào tạo tu đức không chỉ là công việc và nỗ lực của con người, mà là công việc của chính Chúa Thánh Thần và đương sự, cùng với sự cộng tác tích cực của toàn thể Giáo Hội lữ hành, mang sẵn trong mình đủ các yếu tố: cả thần linh và nhân loại, cả thánh thiện và tội lỗi, cả sức mạnh và yếu đuối, cả thương tích và chữa lành…
Chúng ta sẽ cố gắng thực hiện hài hòa việc được đào tạo và tự đào tạo, trong đó việc tự đào tạo của anh em đóng vai chính: “chính ứng sinh là người chịu trách nhiệm trước tiên trong việc huấn luyện chính mình” (PDV 69).
Việc tự đào tạo biến chúng ta thành những sinh vật có xương sống hay có vỏ cứng, luôn luôn tự mình có thể đứng vững được, dù có xây xát và thương tích.
Nếu không có tự đào tạo, thì việc đào tạo chỉ dừng lại ở những lời hoa mỹ của phương diện tri thức lý thuyết, và chỉ tạo nên những sinh vật không có xương sống hay tầm gửi, luôn dựa dẫm vào người khác hay cộng đoàn, dễ vấp ngã khi phải sống một mình.
(slideshow HOA VÀ CHIM)
C. CÁC MỐI TƯƠNG QUAN VÀ CON ĐƯỜNG SỐNG THÁNH
Con người không phải là thiên thần, mà cũng chẳng phải là con vật, nhưng mang sẵn cả hai yếu tố đó, trong mọi chiều kích nhân bản và thiêng liêng.
Tất cả mọi người đều được mời gọi nên thánh qua tiến trình làm người, làm người kitô hữu và làm người tông đồ, nghĩa là thành nhân đã rồi mới thành thánh nhân.
Người đi tu làm linh mục và tu sĩ vẫn không thôi là con người, khi đang nỗ lực nên thánh trong bậc sống ơn gọi và sứ vụ của mình.
VẬY THÁNH THIỆN LÀ GÌ?
Trước hết, sự thánh thiện không phải là, hay không chỉ là:
- một cái gì trừu tượng,
- một cái gì chúng ta mặc vào mình,
- những việc đạo đức tốt lành nào đó trong đời mình,
- một vai trò chúng ta đảm nhận,
- vấn đề luân thường đạo lý,
- một hệ thống tự hoàn hảo của con người,
- chỉ qui về đời sống bên trong của một người...
Sự thánh thiện là tất cả những cái đó ở trong một bối cảnh rộng lớn hơn, nghĩa là, đạt đến sự thánh thiện không chỉ là nỗ lực của con người, nhưng còn là công trình của ân sủng Chúa, qua các mối tương quan của cuộc sống.
Như thế, sự thánh thiện có liên quan đến các mối tương quan, ở trong các mối tương quan và nhờ các mối tương quan. Đã có một thời người ta liên kết sự thánh thiện với việc đọc kinh, thực hành các bổn phận tôn giáo và những việc đạo đức, một cách cá nhân. Thực ra, sự thánh thiện được liên kết chặt chẽ với các mối tương quan với Chúa, với bản thân, với tha nhân và với môi trường thiên nhiên, trong đó tương quan với Chúa là nền tảng.
"Lời mời gọi nên thánh trong mối tương quan sâu xa với Thiên Chúa và lời mời gọi phục vụ và hy sinh dựa trên việc thiết lập những tương quan lành mạnh với mọi người" (Trích Thông cáo báo chí của Hội Nghị Các Giám Mục Á Châu từ 27/8 - 1/9/2007 tại Thái Lan)
Con người muốn nên thánh phải nỗ lực mỗi ngày để nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu (Tình yêu bao gồm và không loại trừ), trong các mối tương quan với Chúa, với chính mình, với tha nhân, với thiên nhiên và với tứ chung, dưới sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần.
Các mối tương quan này rất tương thuộc và tương tác lẫn nhau, nên nếu có cái gì “trục trặc” trong một tương quan thì các tương quan khác cũng bị ảnh hưởng. Chính trong và qua các mối tương quan này mà chúng ta được lớn lên trong sự thánh thiện. Do đó, để có được sự thánh thiện, các mối tương quan này đều phải hòa nhập và giữ đúng vị trí, hài hòa, quân bình và trưởng thành.
Có được các mối tương quan như thế được coi là có được sự thánh thiện. Như vậy, sự thánh thiện không được hiểu theo một cá nhân biệt lập, nhưng theo mối tương quan toàn diện của cá nhân với Thiên Chúa, với tha nhân, với chính mình và với môi trường sống (thiên nhiên) trong viễn ảnh cách chung.
Sự thiếu trưởng thành thiêng liêng của chúng ta là do việc chúng ta thiếu những tương quan đích thực, hay có những tương quan không trưởng thành, những tương quan sai lầm, những ngăn chặn và sợ hãi tâm lý của chúng ta trong những tương quan.
Khi những tương quan vắng mặt trong đời sống chúng ta thì sự thánh thiện cũng vắng mặt. Và khi những tương quan bị ngăn cản trong đời sống chúng ta thì sự thánh thiện cũng bị ngăn cản. Do đó, người ta nói đến sự thánh thiện hay nhân đức ảo và nhân đức thật.
THÁNH THIỆN và TỘI LỖI
Chúng ta cũng cần nói đến mối tương quan giữa sự thánh thiện và tội lỗi:
Tội lỗi và sự thánh thiện nên được hiểu theo những mối tương quan đích thực hay không đích thực. Nếu những mối tương quan của chúng ta là những liên hệ tình yêu không chân chính hoặc thiếu tình yêu đích thực thì lúc đó có tội.
Theo Kinh Thánh, tội lỗi và sự thánh thiện được hiểu trong bối cảnh của những mối tương quan. Trong Cựu Ước: tội của Ađam và Evà, tội của Israel, tội của Cain, tội của Vua Đavít… tất cả là những tội ở trong và bởi các mối tương quan. Trong Tân Ước, tội cũng được hiểu theo sự không có hoặc thất bại không thiết lập được những tương quan, hay thiếu những tương quan tình thương hoặc có những tương quan tình thương sai lầm và đi xa khỏi những tương quan ngay chính.
Chúa Giêsu coi tội là tình trạng tha hóa phẩm giá con người hơn là chỉ những vô trật tự luân lý (ngày Sabbath vì con người, chứ không phải con người vì ngày Sabbath). Chính những người Biệt phái và Luật sĩ cũng hiểu tội lỗi và sự thánh thiện trong bối cảnh lề luật và nghi thức.
I. LIÊN HỆ VỚI THIÊN CHÚA,
TƯƠNG QUAN NỀN TẢNG
1. Tương quan với Chúa Cha
2. Tương quan với Chúa Giêsu, đặc biệt Chúa Giêsu chịu đóng đinh và Chúa Giêsu Thánh Thể
3. Tương quan với Chúa Thánh Thần
4. Tương quan với Đức Mẹ
5. Tương quan với các thiên thần, nhất là thiên thần giữ mình
6. Tương quan với thánh cả Giuse, thánh Quan Thầy và các thánh
Liên hệ với Thiên Chúa là khía cạnh quan trọng nhất của đời sống độc thân linh mục.
Liên hệ với Thiên Chúa là tuyệt đối then chốt để sống độc thân linh mục hiệu quả. Do đó quyền ưu tiên phải được dành cho liên hệ này.
Liên hệ với Thiên Chúa được bày tỏ qua đời sống thiêng liêng và cầu nguyện. Cầu nguyện không là gì khác hơn là liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa. Cầu nguyện là liên hệ với Thiên Chúa, đối thoại với Thiên Chúa, thông hiệp với Thiên Chúa, ở với Thiên Chúa, ở trước nhan Thiên Chúa, ý thức về Thiên Chúa.
Đây là liên hệ siêu ngôi vị. Liên hệ siêu ngôi vị này bao gồm hai ngôi vị: một ngôi vị thần linh và một ngôi vị con người. Trong liên hệ này, ngôi vị Thần linh đến với chúng ta và chúng ta, những con người, đi tới Người, trong tiến trình cầu nguyện mang chiều kích vừa thần linh vừa nhân loại.
Thiên Chúa là Chúa của liên hệ và liên kết.
Khi Thiên Chúa liên hệ với chúng ta, chúng ta có thể hoặc nói “vâng” hoặc nói “không” với Ngài. Khi chúng ta nói “vâng” thì lúc ấy có liên hệ. Và đây là liên hệ siêu ngôi vị và cũng là sự thánh thiện siêu ngôi vị.
Độc thân linh mục phải giúp chúng ta phát triển liên hệ này với Thiên Chúa. Do đó, chúng ta chú ý đến một sự nối kết chặt chẽ giữa đời sống độc thân và đời sống cầu nguyện.
Độc thân linh mục là một hồng ân liên hệ đặc biệt với Thiên Chúa. Chính nhờ liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa, chúng ta di chuyển đến tất cả những liên hệ khác. Kính mến Thiên Chúa nâng cao liên hệ tình yêu của chúng ta với người khác.
Nếu chúng ta loại trừ Thiên Chúa ra khỏi liên hệ của chúng ta, thì chúng ta có thể trở thành phá hoại chính bản thân mình và người khác.
Thiết lập mối liên hệ cá nhân với Thiên Chúa qua đời sống cầu nguyện là chiều kích hàng dọc trong liên hệ của chúng ta (đối thần); còn thiết lập liên hệ cá nhân với anh chị em chúng ta là chiều kích hàng ngang trong liên hệ của chúng ta (đối nhân). Chiều kích hàng dọc này là động cơ thúc đẩy và là ý nghĩa đích thực cho chiều kích hàng ngang trong đời sống chúng ta.
II. TƯƠNG QUAN VỚI THA NHÂN
Liên hệ của chúng ta với nhau được gọi là liên hệ liên nhân vị. Có một thời người ta cho việc liên hệ của mình với Thiên Chúa mới quan trọng, còn liên hệ với nhau thì không mấy quan trọng. Kết quả là linh mục, tu sĩ tránh liên hệ gần gũi với những người mình thi hành thừa tác vụ cho.
Những liên hệ với con người chỉ được coi là vấn đề riêng tư. Kết quả là một số linh mục, tu sĩ có liên hệ trí thức và thiêng liêng với con người, chứ không có liên hệ tình cảm và nhân bản, luôn giữ thái độ xa cách và loại trừ. Và tình trạng có thể đưa tới bất cập hay thái quá.
Liên hệ liên nhân vị là một chiều kích quan trọng của tình yêu của người độc thân thánh hiến. Thánh Gioan chối bỏ khả năng kính mến Chúa ở đâu thiếu vắng tình yêu con người. Ngài mặc nhiên nối kết lòng kính mến Chúa với tình yêu con người. Ngài nhấn mạnh rằng không thể kính mến Chúa nếu không yêu thương con người.
Tình yêu Thiên Chúa là suối nguồn, là nền tảng và động lực của tình yêu con người. Tình yêu con người là sao chép, biểu lộ và diễn tả tình yêu Thiên Chúa. Người không yêu thương cận nhân của mình thì không thể biết Thiên Chúa, không thể kính mến Thiên Chúa được: “Nếu một người nói rằng mình kính mến Thiên Chúa, nhưng lại ghét anh em mình thì người ấy là kẻ nói dối. Vì người ấy không thể kính mến Thiên Chúa, Đấng mà người ấy không thấy, nếu người ấy không yêu thương người anh em của mình, người mà người ấy thấy. Ai kính mến Thiên Chúa thì cũng phải yêu thương anh em” (1Ga 4, 7-21).
Trong khi chúng ta đi tìm kiếm Thiên Chúa, thì chúng ta cũng phải đi qua tình yêu và tình bạn nhân loại (Nhịp cầu: “qua sông nên phải lụy đò, tối trời nên phải lụy O bán dầu”). Chính nhờ chúng ta cảm nghiệm tình yêu nhân loại, chúng ta mới cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa.
Một số người trong chúng ta chưa tiếp xúc được với tình yêu Thiên Chúa và chưa được tình yêu Thiên Chúa tác động, vì chúng ta chưa thực sự tiếp xúc với con người và chúng ta chưa để cho con người tiếp xúc với chúng ta. Nếu chúng ta không yêu thương một con người khác, mà chỉ kính mến Thiên Chúa, thì chúng ta chẳng yêu mến ai cả. Nếu chúng ta chưa phải lòng con người, thì chúng ta chưa thực sự phải lòng hữu thể thần linh: “Không thể có cảm nghiệm về Thiên Chúa, nếu không được một cảm nghiệm về thế giới làm trung gian.”
(Hát BÀI CA YÊU THƯƠNG)
“Cái làm trung gian cho cảm nghiệm về Thiên Chúa chủ yếu là liên hệ của con người với những con người khác” (Karl Rahner, Doctrine and Life tr. 71). Những mối liên hệ liên nhân vị là thánh thiêng tự bản chất và chúng mạc khải diện mạo của Thiên Chúa. Thái độ cá nhân “Tôi và Thiên Chúa” hay “Tôi và Chúa Giêsu” mà không có liên hệ với con người là xa lạ đối với ý thức Kitô giáo.
Linh mục trở thành một phần của cộng đoàn Dân Chúa gồm những con người phục vụ lẫn nhau. Nhờ những việc phục vụ này, linh mục thiết lập được mối liên hệ tình yêu với Thiên Chúa và con người. Do đó, cùng đích và cốt yếu của linh mục hệ tại việc cổ vũ những mối liên hệ quân bình, hài hòa và trưởng thành.
Nhưng vì những việc phục vụ có đặc điểm là liên hệ tình yêu, một số trong các liên hệ với con người có thể dẫn đến chỗ vi phạm độc thân thánh hiến. Do đó, linh mục và tu sĩ phải rất thận trọng trong các liên hệ của mình, vì luôn luôn có nguy cơ liên quan đến liên hệ.
Do có những nguy cơ liên quan đến những liên hệ của chúng ta, nên một số người trong chúng ta tránh xa con người và những mối liên hệ, và để hết tâm trí vào công việc; thậm chí trở thành những người tham công tiếc việc.
Tâm lý tham công tiếc việc giữ chúng ta xa khỏi sự thách đố của những liên hệ độc thân thánh hiến đích thực (không có cám dỗ khơng có công nghiệp; chưa có cám dỗ chưa chắc đã được bảo đảm), và cũng làm cho sứ vụ chúng ta trở nên xa lạ và mất hiệu quả. Khi tránh xa những liên hệ thì chúng ta sẽ xơ cứng trở thành những người thực hiện, những công chức, những cỗ máy…
Chúng ta có thể thậm chí tìm những bù trừ và thay thế dễ dãi để lấp vào chỗ những liên hệ đích thực, như thích ăn nhậu, âm nhạc, báo chí, chim cá kiểng, truyền hình v.v… Những thứ đó dễ hơn nhiều so với nỗ lực thiết lập những mối liên hệ tốt với con người.
Một số người trong chúng ta tránh liên hệ và do đó trở thành những nhà trí thức lạnh lùng, thay vì những con người có tình có nghĩa trong liên hệ. Chúng ta trở thành những công chức thay vì những người phục vụ thân tình, thấu cảm. Chúng ta trú ẩn vào việc làm chuyện này chuyện nọ, vào xây cất, vào thành công, vào những lễ hội nọ cử hành kia, vào địa vị và quyền lực.
Độc thân ‘vì Nước Thiên Chúa’ phải là cái gì xây dựng được những tương quan con người mạnh mẽ. Cha Connolly nhận xét: “Giáo huấn truyền thống của chúng ta về độc thân thánh hiến đã không xử lý vấn đề này một cách tích cực hay sáng tạo. Nó mạnh mẽ can ngăn việc phát triển bất cứ liên hệ con người nồng ấm nào, bên trong hay bên ngoài cộng đoàn, và nhất là với bất cứ phần tử khác phái nào. Nó dạy chúng ta yêu người, nhưng yêu trên tầm mức phục vụ chung chung (quảng đại và dễ thương), chứ không để hết tâm trí hay không có liên hệ cá nhân” (F.B. Connolly CSSR, Religious life: A Profile of the Future. Bangalore: Asian Trading Corporation, 1985. tr. 31)
Việc phát triển liên hệ con người là nền tảng, vì không có những liên hệ ấy thì linh mục sẽ không cảm nghiệm được hạnh phúc. Sự thiếu hạnh phúc này sẽ hạn chế chứng tá của mình cho niềm vui được tìm thấy trong sự thông hiệp với Thiên Chúa. Dân ngoại đánh giá cộng đoàn kitô đầu tiên: “Xem kìa, họ thương yêu nhau dường nào!” và họ đã muốn sống như thế mà Đạo được phát triển.
Không có việc phát triển những liên hệ con người thì linh mục sẽ không là một thừa tác viên hữu hiệu của sứ điệp Thiên Chúa và tình yêu của Ngài được.
Một người được kêu gọi đến đời sống linh mục phải tìm kiếm sự thân mật với Thiên Chúa, và đồng thời, người ấy phải gầy dựng sự thân mật với những con người khác. Khi hai chiều kích của sự thánh thiện này vắng bóng trong cuộc đời và thừa tác vụ của chúng ta thì khả năng nên thánh của chúng ta cũng vắng bóng trong cuộc đời chúng ta.
Chính trong và nhờ các mối liên hệ (với Chúa và với con người) mà chúng ta lớn lên trong sự thánh thiện. Nhưng cũng chính trong và vì các mối liên hệ với con người này mà chúng ta phải chiến đấu và có khi vấp ngã, hoặc làm cho anh chị em mình phải chiến đấu và vấp ngã.
(Video TÌNH YÊU VÀ SỨ MỆNH)
1. Tương quan với Giám Mục Bản Quyền
2. Tương quan với các linh mục đàn anh
3. Tương quan với các linh mục đàn em
4. Tương quan với các linh mục tương lai và các mầm non ơn gọi giáo sĩ
5. Tương quan với các tu sĩ nam nữ
6. Tương quan với các nữ tu lớn tuổi và có trách nhiệm
7. Tương quan với các nữ tu bằng tuổi và có trách nhiệm
8. Tương quan với các nữ tu trẻ
9. Tương quan với các mầm non ơn gọi tu sĩ
10. Tương quan với giáo dân nói chung
11. Tương quan với Ban Hành Giáo
12. Tương quan với các đoàn thể
13. Tương quan với những người già cả, bệnh tật và hấp hối
14. Tương quan với các góa phụ, nhất là góa phụ trẻ
15. Tương quan với giới trẻ
16. Tương quan với giới thiếu nhi
17. Tương quan với những người phục vụ trong nhà xứ, nhất là cô bếp
18. Tương quan với Chính Quyền
19. Tương quan với các tôn giáo bạn, nhất là các vị lãnh đạo
20. Tương quan với lương dân.
21. Tương quan với giới giàu có
22. Tương quan với giới nghèo
[x. Lớp Thần Học Bổ Túc Bùi Chu, Linh Mục tốt hay không đều do các mối tương quan, 2006-2007]
III. TƯƠNG QUAN VỚI CHÍNH MÌNH
1. Người được Chúa Thánh Thần thánh hiến, chiếm hữu và hướng dẫn.
2. Người của siêu nhiên và cầu nguyện.
3. Người của linh thánh.
4. Người có một nền tảng Kinh Thánh vững chắc.
5. Người mở ra với hiệp thông.
6. Người hăng say truyền giáo.
7. Người cởi mở đối thoại.
8. Người của truyền thông xã hội.
9. Người nhạy cảm với các vấn đề xã hội.
10. Người của sứ vụ tiên tri.
MÔ HÌNH LINH MỤC HÔM NAY VÀ NGÀY MAI
Tây phương có câu ngạn ngữ “Trong khi rèn, người ta trở thành thợ rèn.” Cũng thế, càng sống đời linh mục, chúng ta càng trở nên linh mục hơn. Nhưng công cuộc được đào luyện và tự đào luyện còn nhiều gian nan, cần ơn Chúa và cố gắng bản thân.
(Hát CHÚNG CON CẦN ĐẾN CHÚA)
1. Linh Mục là người được Chúa Thánh Thần chiếm hữu và hướng dẫn
Mẹ Maria là kiểu mẫu mọi thời cho vị linh mục để mình được Chúa Thánh Thần tác động, chiếm hữu và hướng dẫn.
Trình thuật truyền tin tô đậm nét xác quyết này:
- ‘Việc ấy sẽ xảy ra cách nào được, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!’
- ‘Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa’
- “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.”
- “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.”
Lk 1, 34-35,37-38
Nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, Mẹ Maria mang thai Chúa Giêsu. Nhờ Mẹ mang Chúa đến thăm, bà Elizabeth được đầy Chúa Thánh Thần: “Bà Êlisabét vừa nghe tiếng bà Maria chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được đầy tràn Thánh Thần” (Lk 1,41)
Một số nhân vật Phúc Âm được đầy Chúa Thánh Thần:
- Gioan Tẩy Giả: “Vì em bé sẽ nên cao cả trước mặt Chúa…và ngay khi còn trong lòng mẹ, em đã đầy Thánh Thần” (Lk 1,15)
- Dacaria: “Dacaria, được đầy Thánh Thần, liền nói tiên tri rằng…” (Lk 1,67)
- Giuse (x. Mt 1,18-24; Lk 2,1-7)
- Simêon: “Ông là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi của Israel, và Thánh Thần hằng ngự trên ông. Ông đã được Thánh Thần linh báo là ông sẽ không thấy cái chết trước khi được thấy Đấng Kitô của Chúa. Được Thánh Thần thúc đẩy, ông lên đền thờ...” (Lk 2:25-27)
Đặc biệt Chúa Giêsu:
- Được Isaia báo trước: “Thần khí của Đức Chúa là Chúa Thượng ngự trên tôi, vì Đức Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, ngày phóng thích cho những tù nhân, công bố một năm hồng ân của Đức Chúa, một ngày báo phục của Thiên Chúa chúng ta; Người sai tôi đi yên ủi mọi kẻ khóc than…” (Is. 61,1-2)
- Chính Chúa Giêsu khẳng định về mình ở Hội đường Nazareth: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa… Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe” (Lk 4,18-21)
Cũng như mọi người, linh mục đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần và trở nên đền thờ Ngài ngự. Vài đoạn Kinh Thánh nói rõ điều đó:
Mk 1,8 “Tôi thì tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần.“
Lk 3,16 “Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa.”
Ga 1,33 “Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: "Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần."
Ga 3,5 Đức Giêsu đáp: "Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí.”
Cvtđ 1:5 “Ông Gioan thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần.”
Hơn ai hết, linh mục phải để Chúa Thánh Thần hướng dẫn, như đã làm với chính Chúa Giêsu:
- Mt 4,1 Bấy giờ Đức Giêsu được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ.
- Mk 1,12 “Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa.”
- Lk 4,1 “Đức Giêsu được đầy Thánh Thần, từ sông Giođan trở về...”
Linh mục cũng được Chúa Thánh Thần dạy dỗ và nhắc nhở mọi điều Chúa Giêsu đã dạy: “Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Ga 14,26)
Thánh Thần cũng sẽ dạy cho linh mục biết phải nói gì: “Khi người ta đưa anh em ra trước hội đường, trước mặt những người lãnh đạo và những người cầm quyền, thì anh em đừng lo phải bào chữa làm sao, hoặc phải nói gì, vì ngay trong giờ đó, Thánh Thần sẽ dạy cho anh em biết những điều phải nói” (Lk 12,11-12)
Thánh Thần còn nói thay cho linh mục nữa: Mt 10,20 “Thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em.” MK 13,11 "Khi người ta điệu anh em đi nộp, thì anh em đừng lo trước phải nói gì, nhưng trong giờ đó, Thiên Chúa cho anh em biết điều gì, thì hãy nói điều ấy: thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thánh Thần nói.”
Chúa Thánh Thần giúp kiện toàn đời sống và sứ vụlinh mục bằng 7 ơn của Ngài: - Khôn ngoan, - tri thức, - thấu hiểu, - sức mạnh, - lo liệu, - đạo đức - và kính sợ Chúa.
Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên các tông đồ dưới hình những lưỡi lửa, cho họ nói các thứ tiếng khác nhau, biến đổi họ nên can đảm rao giảng Chúa Kitô Phục Sinh và hôm ấy có khoảng ba ngàn người theo Đạo (x. Cvtđ 2,1-41).
Chúng ta phải trung thành và ngoan ngoãn nghe theo ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần, hầu mang lại hoa trái: Bác ái, vui mừng, bình an, nhẫn nại, tế nhị, tốt bụng, quảng đại, hòa nhã, trung tín, khiêm tốn, tự chủ và thanh khiết.
Xin Chúa Thánh Thần dùng môi miệng của ta mà
- nói điều Chúa muốn nói;
- xin Ngài soi sáng trong trí khôn cho ta viết lại;
- Ngài cũng có thể cầm tay ta giúp ta viết lên điều Ngài muốn;
- xin Ngài viết ra trên vách cho ta xem mà chép lại, như trường hợp Danien giải thích cho vua Bensatsa: “Thiên Chúa đã cho bàn tay đến viết hàng chữ kia. Đây là những chữ đã được viết ra: MƠ-NÊ, TƠ-KÊN, PƠ-RẾT.
Và đây là lời giải thích:
- MƠ-NÊ có nghĩa là đếm: Thiên Chúa đã đếm và chấm dứt những ngày của triều đại ngài;
- TƠ-KÊN có nghĩa là cân: ngài đã bị đặt trên bàn cân và thấy là không đủ;
- PƠ-RẾT có nghĩa là phân chia: vương quốc của ngài đã bị phân chia và trao cho các dân Mêđi và Batư.” (Dn 5,24-28)
2. Linh Mục là người của siêu nhiên và cầu nguyện
Linh mục phải thực sự là một con người của đạo đức và cầu nguyện, nghĩa là có đời sống thông hiệp cá nhân sâu xa với Chúa Ba Ngôi.
Điều ấy được biểu lộ rõ nét trong mối tương quan với tha nhân: linh mục suy nghĩ với tinh thần của Chúa, nhìn thấy với con mắt của Chúa, và yêu thương với con tim của Chúa…
Đời sống cầu nguyện làm cho linh mục có khả năng ý thức về chính mình và sự lệ thuộc của đời sống ơn gọi của mình vào Thiên Chúa.
Linh mục ý thức sự hiện diện và hoạt động của Chúa trong cuộc sống hằng ngày của mình bằng sự trao hiến trọn vẹn chính mình và lụy phục hoàn toàn nơi Chúa, noi gương Chúa Giêsu Kitô.
Đời sống cầu nguyện giúp linh mục tìm thấy Chúa Giêsu nơi tha nhân, đặc biệt nơi những người đau khổ, bệnh tật, nghèo hèn, ở bên lề, bị áp bức, và thấp cổ bé miệng,… ngõ hầu yêu thương và phục vụ họ, như Chúa Giêsu đã dạy và đã làm gương.
Dân chúng mong đợi nhìn thấy linh mục là người của Chúa, có kinh nghiệm sống với Chúa và dạy cho họ biết làm thế nào để cầu nguyện.
3. Linh Mục là người của linh thánh
Linh mục phải nên giống Chúa Giêsu, tiếp tục sứ vụ của Chúa Giêsu, Đấng đã được Chúa Cha thánh hóa và sai đến trong trần gian để cứu độ trần gian (Ga 10,36).
Linh mục phải để mình được đào luyện và tự đào luyện trở thành con người của linh thánh, bởi vì linh mục là “người của Chúa, thuộc về Chúa và làm cho dân chúng nghĩ tới Chúa, đồng thời giúp dân chúng trở về với Chúa và đạt tới Chúa” (PDV số 47).
Yếu tố linh thánh này rất quan trọng trong các tôn giáo truyền thống Á Châu. Nó có khả năng giúp sứ mệnh khơi dậy niềm tin tại Việt Nam. Tông huấn Ecclesia in Asia nhấn mạnh rằng dân chúng Á Châu cần nhìn thấy nhà tu là “những con người mà tâm trí luôn hướng về những sự cao siêu của Thánh Thần” (EA số 43)
Các sư sãi và ni cô của Phật giáo có một kỹ luật tu đức nhấn mạnh đến tự chế, bỏ mình và thanh thoát khỏi thế trần, hầu chiến đấu chống lại các cám dỗ và say mê tìm kiếm giải thoát. Sự kiện này thách thức chúng ta đào sâu tu đức của mình; nếu không, chứng tá của chúng ta trong xã hội Việt Nam sẽ giảm bớt khả năng thuyết phục.
Chúng ta cần học hỏi ở họ lối sống như cửa mở vào cõi thiêng và phương tiện hiệp thông với linh thánh, đồng thời củng cố đời sống nội tâm tông đồ truyền giáo của chúng ta. Nếu chúng ta thực sự sống cách vui tươi, hạnh phúc và trung thành nếp sống Phúc Âm và các nhân đức kitô giáo (đặc biệt vâng lời, khó nghèo, thanh khiết), chứng tá và sứ vụ của chúng ta sẽ rất hữu hiệu. “Điều đó rất đúng với bối cảnh Á Châu, nơi mà dân chúng cảm thấy được thuyết phục bởi đời sống thánh thiện hơn là bởi những tri thức lý sự” (EA số 42).
Đức Phaolô VI bảo rằng thời đại này tin vào các chứng nhân hơn là thầy dạy, và nếu họ có tin vào các thầy dạy thì bởi vì các thầy dạy đó là những chứng nhân.
Ở trong Giáo Hội, chúng ta có đủ mọi phương tiện thích hợp, tự nhiên cũng như siêu nhiên, để trở nên con người của linh thánh. Việc quan trọng nhất là chúng ta kiên trì thực hành các phương thế ấy trong cuộc sống hằng ngày.
4. Linh Mục phải có nền tảng Thánh Kinh vững chắc
(Hát theo slideshow LẮNG NGHE LỜI CHÚA)
Sống trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian, linh mục “được mời gọi biến đổi thế gian, chứ không phải để bị thế gian biến đổi.”
Ma quỉ đã dùng lời Thánh Kinh để cám dỗ Chúa Giêsu trong sa mạc, Chúa Giêsu cũng đã dùng Lời Chúa mà chiến thắng và xua đuổi ma quỉ. Do đó, linh mục phải là một con người đức tin, được đức tin tác động mãnh liệt, với một nền tảng Thánh Kinh vững chắc, vì mọi cuộc khủng hoảng đều do thiếu đức tin mà ra.
Tuy nhiên, linh mục cũng có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa và tâm thức xã hội, chính trị, kinh tế (nạn gian lận, hưởng thụ…). Vì thế, việc đào tạo và tự đào tạo hôm nay cần ghi nhớ các yếu tố này trong khi nỗ lực xây dựng và phát triển sức mạnh siêu nhiên hầu thăng tiến và hoàn thiện tự nhiên.
Chúng ta cũng phải ý thức về trình độ trưởng thành nhân bản và thiêng liêng của từng người, để sống và đào luyện thích hợp như thánh Phaolô nói: “Tôi cho anh em ăn sữa chứ không phải thức ăn cứng, vì anh em chưa đủ sức, và cho đến nay anh em vẫn chưa thể” (cf. 1 Cor 3,2).
Chúa Giêsu cũng nhắc các tông đồ tương tự: “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi. Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật tồn vẹn” (Ga 16,12-13)
Với nền tảng Thánh Kinh vững chắc, linh mục sẽ vượt thắng những thách đố và chiến đấu trăn trở về tự do và phục tùng với bộ ba “quyền phục, lý phục và tâm phục hay tâm bất phục” hoặc “bằng mặt mà không bằng lòng” để sống đức vâng lời trọn vẹn, vì vâng lời chính là lắng nghe: « Cá không ăn muối cá ươn, con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư. »
Quả thế, với đức tin mạnh mẽ và đâm rễ sâu trên nền tảng Thánh Kinh vững chắc, đặt trọng tâm vào Chúa Giêsu, vào Phúc Âm, vào Giáo Hội, vì các linh hồn, cầu nguyện và biện phân dưới sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, linh mục sẽ vâng lời cách sẵn lòng và siêu nhiên các vị lãnh đạo và cơ cấu của Giáo Hội, không phải như những con người và cơ cấu nhân loại, nhưng là Ý Chúa ở trong và qua những con người và cơ cấu này.
5. Linh Mục là người mở ra với Hiệp thông
Hiệp thông và hiệp nhất là lời cầu nguyện tha thiết của Chúa Cứu Thế cho các môn đệ của Ngài. Mối hiệp thông này bắt rễ trong Chúa Ba Ngôi và từ Chúa Ba Ngôi (ad intra – ad extra).
Linh mục phải sống mối hiệp thông trọn vẹn của Hội Thánh trong tâm tình vâng phục thảo hiếu, để xây dựng nhiệm thể toàn vẹn của Chúa Kitô (x. Eph 4:12)
Theo tinh thần Tông huấn Ecclesia in Asia số 43, linh mục phải sống và làm việc trong tinh thần hiệp thông và cộng tác để làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa.
Linh mục phải góp phần xây dựng mối hiệp thông của toàn thể nhân loại và thế giới được tạo thành vẫn hằng ngóng chờ ngày giải thoát (x. Rm 8:18-23)
Đối với sứ vụ của Giáo Hội, hiệp thông và truyền giáo luôn song hành và kết nối không thể tách lìa nhau (x. Ecclesia in Asia số 24), bởi vì trước khi nói về Chúa, thì phải sống hiệp thông mật thiết với Chúa, nói với Chúa và nghe Chúa nói đã: không ai có thể cho cái mình không có !
Sự duy nhất đức tin là mối quan tâm đặc biệt của các Chủ Chăn Giáo Hội. Nhưng nó cũng phải là mối quan tâm của mỗi người chúng ta. Tìm kiếm sự duy nhất trong đức tin là yêu mến và bảo toàn Giáo Hội trong sự hiệp thông. Chúng ta nhìn Mẹ Maria như người canh giữ đức tin.
Sự duy nhất đức tin được diễn tả trong phượng tự của Giáo Hội. Phượng tự này khởi đầu từ Hy tế hoàn hảo của Chúa Kitô. Máu và nước chảy ra từ cạnh sườn Ngài là nguồn các Bí tích làm cho Thân Mình Chúa Kitô được sống, được nuôi dưỡng, được lớn lên và được tồn tại. Tất cả chúng ta đều có niềm vui nhận lãnh và chuyển đạt sự sống mới của ân sủng qua Bí tích Rửa Tội và Giải Tội. Vui biết bao khi thấy một em bé hay một tân tòng được tái sinh, được đến tháp nhập vào Thân Mình Chúa Kitô, hay một người tội lỗi sám hối trở lại với Chúa và Hội Thánh. Chúng ta phải biết ơn Giáo Hội vì đã mang Chúa Kitô cho chúng ta, đã nuôi dưỡng và hướng dẫn chúng ta trong suốt cuộc đời.
Sự hợp nhất của Nhiệm Thể Chúa Kitô được diễn tả cách rõ ràng nhất trong Bí tích Thánh Thể. Chén chúc tụng mà chúng ta chia sẻ là Máu Chúa Kitô, lưu chuyển trong Giáo Hội, mang lại sự sống thần linh. Bánh mà chúng ta bẻ ra là Mình Chúa Kitô, được hiến dâng vì phần rỗi của mỗi chi thể. Chúng ta thật hạnh phúc được dâng Thánh Lễ, nhờ đó chúng ta không ngừng nhận được sự sống và hiệp nhất. Cử hành và lãnh nhận Thánh Thể là hiệp nhất với Giáo Hội trên khắp thế giới. Nhờ Thánh Thể mà mọi người được qui tụ lại trong một ngôi nhà đức tin.
Liên kết với Đức Thánh Cha, chúng ta xây dựng sự hiệp nhất ấy trong lòng Giáo Hội Địa phương mà chúng ta phục vụ, bất cứ ở đâu chúng ta có mặt. Chúng ta trăn trở làm cho Giáo Hội được lớn lên, mạnh mẽ và hiệp nhất hơn. Và ngày nay, quyền bính và sự hiệp nhất của Giáo Hội Địa phương được diễn tả qua nhiều vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là Giám Mục Bản Quyền; Ngài không chỉ là đầu, mà là con tim của giáo phận: tất cả đều qui về Giám Mục và tất cả quyền bính đều phát ra từ Giám Mục, đến đỗi “linh mục không thể làm gì mà không có Giám Mục.” Như thế sự hiệp thông trở nên dễ dàng và triệt để hơn, hiệp thông quyền bính, hiệp thông sự sống, hiệp thông sứ vụ và hiệp thông tình yêu.
6. Linh Mục là người hăng sau truyền giáo
Chúa Giêsu là nhà truyền giáo được Chúa Cha sai đi đầu tiên. Và Đức Mẹ thực hiện sứ mệnh truyền giáo khi mang Chúa Giêsu đến thăm bà Elizabeth.
Công Đồng Vaticanô II giúp Giáo Hội tái khám phá căn tính truyền giáo của mình. Truyền giáo là bản chất, là cảm thức và lẽ sống, là ý nghĩa, là nguồn gốc và mục đích của Giáo Hội (x. Ad Gentes số 2)
Do đó, linh mục là nhà truyền giáo tự bản chất và phải luôn hăng say truyền giáo. Nếu không thế, linh mục sẽ không còn là linh mục nữa và đánh mất căn tính của mình: “Vô phúc cho tôi, nếu tôi không rao giảng Phúc Âm” (1 Cor 9,16).
Đấng Cứu Thế đã sinh ra ở Á Châu, nhưng Kitô giáo ở Á châu ngày nay vẫn còn là một thiểu số tuyệt đối ở cái lục địa rộng lớn nhất địa cầu này, với gần hai phần ba dân số thế giới. Vậy chúng ta phải có trong trí óc và con tim lời kêu gọi khẩn thiết tiếp tục sứ vụ của Chúa Giêsu cho đồng bào mình, với ước vọng nồng cháy làm cho Ngài được nhận biết và yêu mến.
Vatican II mở rộng tầm nhìn của chúng ta ra với Nước Thiên Chúa (lớn hơn là Giáo Hội mà chúng ta thường quan niệm) và thúc đẩy chúng ta truyền giáo, tin tưởng rằng Chúa Thánh Thần đã khơi dậy một tinh thần truyền giáo thực sự nơi con tim của nhiều người.
7. Linh Mục là người của đối thoại
Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu và Liên Hiệp Các Hội Đồng Giám Mục Á Châu đã chỉ rõ con đường hiện diện mới của Giáo Hội với ba chiều kích đối thoại:
- đối thoại với các nền văn hóa,
- đối thoại với các tôn giáo khác,
- và đối thoại với người nghèo.
Con đường đối thoại bắt rễ trong Thiên Chúa và bắt đầu từ Thiên Chúa, Đấng luôn duy trì cuộc đối thoại với nhân loại, đặc biệt với người nghèo, người bị áp bức, người bị bỏ rơi…
Là chứng tá của Tin Mừng, linh mục phải là một con người của đối thoại, với cả bên ngoài lẫn bên trong Giáo Hội. Đáng buồn là lắm khi cuộc đối thoại bên trong Giáo Hội và cộng đoàn không mấy dễ dàng!
Đối với Á Châu, cái nôi của nhiều truyền thống văn hóa, tôn giáo lớn và đại đa số người nghèo của thế giới, sứ mệnh đối thoại và truyền giáo lại còn thích hợp và cấp bách hơn. Do đó, linh mục cần được huấn luyện và tự đào luyện tốt các kỹ năng đối thoại.
Chúng ta cần, không chỉ đối thoại ba chiều như đường lối hiện hữu và truyền giáo mới của Giáo Hội; nhưng trong bối cảnh đặc biệt của Việt Nam, chúng ta còn cần đến chiều kích đối thoại thứ tư, đối thoại với người Cộng Sản.
Cuộc đối thoại này bao gồm hai khía cạnh:
- Đối thoại bằng cuộc sống: sống tinh thần cởi mở và thân thiện, chia sẻ niềm vui nỗi buồn, những vấn đề nhân sinh và những mối bận tâm vì công lý, hòa bình và tình thương.
- Đối thọai bằng hành động: hợp tác lành mạnh vì sự phát triển toàn diện con người và lợi ích của cộng đồng, nhất là bằng việc làm chứng tá cho tình yêu Thiên Chúa đối với họ: một tình yêu lớn hơn vượt thắng một tình yêu nhỏ hơn và những lôi cuốn của nó.
Tình yêu ấy biến đổi mọi sự, một sự biến đổi từ bên trong của mỗi cơ cấu (ngày nay không ai chờ đợi một Revolution cho bằng mong đợi một Evolution).
Nhưng trước hết, chúng ta phải bắt đầu, bắt đầu lại, và luôn tiếp tục cuộc đối thoại đại kết bên trong lòng Giáo Hội,[4] vì lắm khi cuộc đối thoại với bên trong lòng Giáo Hội còn khó khăn hơn cuộc đối thoại với bên ngoài!
Quả thế, HĐGMVN trong thư ngày 8/10/2008 khẳng định : «Con đường đối thoại tìm về chân lý, công lý và lợi ích lâu dài của đất nước là con đường dài với nhiều khó khăn và trắc trở, đòi hỏi khôn ngoan và kiên nhẫn. Vì thế, xin... hiệp ý tiếp tục cầu nguyện... với tinh thần hiệp nhất, yêu thương và ôn hòa... Xin Chúa ban ơn bình an và ơn soi sáng cho tất cả mọi người biết thành tâm tìm kiếm và gặp được chân lý, công lý và lợi ích lâu dài của cả cộng đồng dân tộc. Khi tất cả mọi người đều lấy chân lý, công lý và công ích làm ánh sáng soi đường và chuẩn mực chọn lựa thì sẽ có thể vượt lên trên những khó khăn và trở ngại... »[5]
8. Linh Mục là người của truyền thông xã hội
Ngày nay, không ai phủ nhận vai trò quan trọng và ảnh hưởng vạn năng của truyền thông đại chúng, với những lợi ích và những tác hại của nó, trong đời sống của con người, “đặc biệt cuộc sống của thế hệ trẻ được sinh ra và lớn lên trong một thế giới bị điều kiện bởi truyền thông đại chúng”[6]
Linh mục ngày nay phải biết sử dụng các phương tiện tân tiến của Truyền thông xã hội, như những dụng cụ hữu hiệu để sống trong mối hiệp thông con tim và khối óc của toàn thể Giáo Hội, để cập nhật các hiểu biết về thần học và mục vụ, cũng như những giáo huấn về xã hội và luân lý của Giáo Hội, để truyền thông sứ điệp Phúc Âm, và để thăng tiến đời sống thiêng liêng của mình.
Linh mục trong thời đại chúng ta phải học cách sử dụng hợp pháp các phương tiện truyền thông, không như các chuyên gia nghề nghiệp thuộc lãnh vực này, ngõ hầu sử dụng và hướng dẫn kẻ khác, nhất là giới trẻ, làm sao sử dụng cách đúng đắn các phương tiện truyền thông trong cuộc sống hằng ngày.
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã nhận định : «Một số phương tiện truyền thông, thay vì là nhịp cầu liên kết và cảm thông, thì lại gieo rắc hoang mang và nghi kỵ. Quả thật, chưa bao giờ các phương tiện truyền thông phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng như ngày nay, nhờ đó con người được gia tăng hiểu biết và phá triển tình liên đới. Tuy nhien, các phương tiện truyền thông chỉ thực sự mang lại lợi ích cho con người và cộng đồng xã hội khi phục vụ sự thật và phản ánh thực tại cách trung thực»… «Những người làm công tác truyền thông đại chúng phải hết sức cẩn trọng khi đưa tin tức và hình ảnh, nhất là khi liên quan đến danh dự và uy tín của cá nhân cũng như tập thể. Nếu đã phổ biến những thông tin sai lạc thì cẩn phải cải chính. Chỉ khi tôn trọng sự thật, truyền thông mới thực sự hoàn thành chức năng của mình là thông tin và giáo dục nhằm xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh»[7]
Chính vì thế mà ĐGH Gioan Phaolô II khuyên rằng giáo dục truyền thông cần phải là một phần không ngừng gia tăng trong công cuộc đào tạo linh mục, chủng sinh, tu sĩ, giáo lý viên, giáo dân chuyên nghiệp, sinh viên… theo những chỉ dẫn mục vụ của Aetatis Novae, với sự lưu tâm thích hợp tới những hoàn cảnh hiện hành ở Á Châu và Việt Nam[8]
9. Linh Mục nhạy bén với những đổi thay xã hội
Mọi sự đang thay đổi và tiếp tục thay đổi đến chóng mặt. Linh mục phải là những người bắt nhịp hài hòa với tình hình hiện nay của một thế giới đang thay đổi; phải luôn sẵn sàng và bén nhạy để đọc được các thời triệu, chấp nhận các mới mẻ của những đổi thay, và can đảm thích nghi chính mình cách khôn ngoan sáng suốt với những bước chân của Chúa Thánh Thần, Đấng hằng làm cho mọi sự nên mới (x. Kh 21:5).
Sự nhạy cảm này giúp chúng ta hiểu rõ hơn các nhu cầu của dân chúng, nhận thức được những vấn nạn không lời của họ, đáp ứng các thỉnh nguyện, chia sẻ những hy vọng, những trông đợi, những niềm vui và những gánh nặng của họ:
“Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ... Họ phải cảm thấy thực sự liên hệ mật thiết với loài người và lịch sử nhân loại”[9]
Vì vậy, Công Đồng Vaticanô II thúc bách không ngừng hoàn thiện các hiểu biết về những sự của Thiên Chúa và những việc của con người, ngõ hầu đi vào đối thoại cách thích đáng với những người đương thời.
Sự nhạy bén này sẽ gợi ý và hướng dẫn những đổi thay trí não và con tim hướng tới cuộc trở lại liên lĩ với Chúa và với tha nhân, bằng việc “để cho qua đi và để cho Chúa liệu.” Đặt Chúa vào giữa thì mọi sự sẽ đến cùng nhau, với cái nhìn tích cực (thấy khía cạnh tốt của những gì xảy đến), với lòng cảm thông (tha nhân không muốn thế, nhưng Chúa bắt phải làm thế) và biết ơn Chúa và tha nhân (nhờ đó mà ta được biến đổi và lớn lên).
Chúa luôn đổi mới lời mời gọi của Ngài, xuyên qua Phúc Âm, các dấu chỉ thời đại, các biến cố thăng trầm của cuộc sống mỗi ngày, thì chúng ta, là những người theo Chúa Giêsu, cũng phải đổi mới sự đáp trả của mình cho tương xứng.
Mọi việc Chúa Kitô làm đều mang dấu ấn của thay đổi, thay đổi từ cũ sang mới, từ điều được trông đợi đến điều bất ngờ: Ngài ngồi ăn với người những tội lỗi, nói chuyện với người Xamari, vượt quá luật ngày Xabát, yêu thương kẻ thù, và Ngài hy sinh mạng sống vì người khác.
Mọi hành động ấy đều là những thay đổi. Qua những thay đổi ấy, Hội Thánh được sinh ra, và hôm nay, cũng qua những thay đổi như thế mà Hội Thánh còn tồn tại và tiếp tục sống động.
Luật của sự sống và sinh trưởng là thay đổi, và mỗi chặng đường sinh trưởng của con người đều được ghi dấu bằng những thay đổi quyết định, từ lúc được sinh ra cho đến lúc chết đi, trải qua tích cực cũng như tiêu cực: «Mai nam, trưa nắng, chiều nồm; trời còn luân chuyển huống mòm thế gian»
Trong chiều hướng này, linh mục được mời gọi trở thành những con người phục vụ khiêm tốn trong bất cứ cái gì, bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, và bất cứ thế nào, mà dân chúng cần đến.
10. Linh Mục là người của sứ vụ tiên tri
Với sự tham dự vào chức linh mục cộng đồng của Chúa Kitô, linh mục được thúc đẩy sống sứ vụ tiên tri.
Để thực hiện sứ vụ tiên tri của mình, Chúa Giêsu đã nói đến Bát Phúc, người con hoang đàng, người Samaritanô tốt bụng… Ngài đã đến với người tội lỗi, gái điếm, ngoại tình, bị bỏ rơi, nghèo hèn, ở bên lề và bị loại trừ, dù Ngài bị chỉ trích là điên khùng, phản động, phạm thượng, đi lại và ăn uống với phường thu thuế và tội lỗi.
Linh mục phải thực thi sứ vụ tiên tri của mình, với tất cả con tim, với tất cả linh hồn, và với tất cả sức mạnh của mình:
- Loan báo và sống tình yêu nồng cháy của Chúa Giêsu đối với Thiên Chúa, Nước Chúa, và đối với dân chúng.
- Tố cáo thói giả hình, bất công, áp bức,… dù phải trả với giá đắt của thập giá và cái chết: Giám mục Oscar Romero và Mục sư Martin Luther King là những chứng tá hùng hồn hiện đại cho sứ vụ tiên tri này.
Linh mục luôn có cơ hội để tuyên bố và trình bày cho thế giới và Dân Chúa sứ điệp yêu thương của Chúa, tại đây và lúc này. Đồng thời linh mục cũng phải nhắc nhở dân chúng về mối liên hệ giao ước của họ với Thiên Chúa.
Tuy sứ vụ tiên tri là một nhiệm vụ khó khăn và nguy hiểm, linh mục phải đóng vai trò chỉnh sửa ở trong Giáo Hội cũng như ở ngoài Xã Hội, khi có quá nhiều áp bức xã hội, chính trị, kinh tế và tôn giáo cực đoan, vì “kiến nghĩa bất vi bất nghĩa”
Hơn nữa phải theo nguyên tắc của Phêrô: “Các ông nghĩ thế nào cho phải lẽ trước mặt Chúa, vâng lời các ông hay là vâng lời Chúa hơn” (Cvtđ 4,19) – “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời con người” (Cvtđ 5,29)
Dĩ nhiên chỉ khi nào linh mục sống được cái đức dũng này: “Phú quí bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” nghĩa là giàu sang không ham, bần hèn không thay đổi lòng, bạo lực không khuất phục được, vì đã có Chúa làm gia nghiệp.
(Hát GIA NGHIỆP ĐỜI CON)
KẾT LUẬN
Một khi đã có bản vẽ, đã có mô hình, đã có mẫu, chúng ta sẽ bắt tay vào thực hiện công trình.
Cầu mong mỗi người chúng ta đều cố gắng hình thành cho mình một mẫu linh mục thích hợp, và nỗ lực xây dựng đời sống ơn gọi của mình theo cái mẫu đó, trong sự cộng tác tích cực và hữu hiệu giữa được đào tạo và tự đào tạo, theo đường lối của Giáo Hội, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
Với sức con người lắm khi rất khó, nhưng với Chúa thì mọi sự luôn đều là có thể.
IV. TƯƠNG QUAN VỚI MÔI TRƯỜNG SỐNG VÀ THIÊN NHIÊN
Cuộc sống nhân bản, thiêng liêng và tông đồ của linh mục cũng cần đến mối tương quan với môi trường sống và thiên nhiên.
Trong thời đạo đức sinh học của chúng ta hôm nay, linh mục cần thiết lập một mối tương quan lành mạnh với toàn thể thế giới được tạo thành, nơi mà Chúa Thánh Thần hằng hoạt động.
“Thiên Chúa ở trong tất cả” là lối hiểu nền tảng của mối tương quan giữa Thiên Chúa và thụ tạo: Thiên Chúa không ở ngoài thụ tạo và Ngài tiếp tục sáng tạo, canh tân tạo vật của Ngài cho đến kiện toàn viên mãn theo kế hoạch yêu thương của Ngài (2 Cr 5,19; 1 Cr 8,6; Eph 1,3-14; Cl 1,15-29; Ga 1,1-3; Kh 21,5), và cứu chuộc nó (Rm 8,19). Chúng ta được kêu gọi tham dự vào công trình sáng tạo này của Thiên Chúa (St 1, 28) như một trách nhiệm tôn giáo.
Thật vậy, đời sống thiêng liêng là toàn thể cuộc sống được sống trong Thần Khí, nên khi chăm sóc thụ tạo, chúng ta cũng làm cho trách nhiệm này hoà nhập vào chính đời sống thiêng liêng của chúng ta.
Để chu toàn đời sống và sứ vụ của mình, chúng ta phải nhìn vào đời sống và giáo huấn của Chúa Giêsu liên quan tới tạo vật: hạt giống, hoa cỏ, chim trời, cá biển, cây nho, cây vả, vườn tược, cánh đồng, mùa gặt, sa mạc, núi non, nắm men, thúng bột, ngọn đèn, v.v.… (nhổ cỏ / nhổ tận gốc tật xấu; chăm cây cảnh / chăm luyện tập nhân đức v.v.)
Chúa Giêsu được Thần Khí hướng dẫn và Ngài thường ra đi từ sáng sớm tinh sương hay muộn màng khi trời đã tối, ngay cả giữa đêm khuya thanh vắng, một mình, vào sa mạc hay lên núi, ở đó sứ mạng và sự hiệp thông thân mật của Ngài với Chúa Cha được thử thách, khẳng định và củng cố (x. Mc 6,31).
Chúng ta nên tìm thư giãn trong các môi trường thiên nhiên, để nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng và gia tăng hiệp thông thân mật với Thiên Chúa, bằng cách để cho trí óc và con tim ngưỡng mộ và thưởng thức vẻ đẹp của tạo vật.
Chúng ta có thể dành thời gian để suy ngắm và cầu nguyện ngay trên bờ biển lúc rạng đông lên hay khi hoàng hôn xuống, dưới ánh trăng sao dịu mát ban đêm giữa cánh đồng bao la bát ngát hay trong rừng sâu giữa mùa hè …. lắng nghe tiếng sóng vỗ của đại dương, tiếng reo của suối, tiếng thì thầm của cây cối, tiếng líu lo của chim chóc, tiếng xào xạc của hoa cỏ …. như là nghe thấy Chúa Thánh Thần[10] nói trong trí khôn, trong con tim và trong linh hồn vậy.
Chúng ta sẽ cảm nhận rõ sự hiện diện thân tình của Thiên Chúa nơi thiên nhiên, đồng thời cảm nhận được sự cao cả của Chúa và sự thấp hèn của mình. Chúng ta sẽ học thực hành sống khiêm nhường trong tương quan với Thiên Chúa, với tha nhân và với tạo thành (xem ý nghĩa và nội dung biến cố “Tráng sinh lên đường”)
Chúng ta cũng thực hành thư giãn thân thể nhờ nhịp độ của hơi thở: Khi hít vào, chúng ta tưởng tượng rằng năng lực của Chúa Thánh Thần đang chuyển vào trong mình chúng ta để chữa lành, thánh hoá và tăng thêm sức mạnh, và trong khi thở ra lại nghĩ rằng Chúa Thánh Thần đang đẩy những điều xấu ra khỏi cuộc sống mình.
Tập thư giản bằng cách hít dưỡng khí vào thật sâu qua mũi cho căng đầy bụng, rồi chuyển qua huyệt đan điền, đẩy ra toàn thân tới tận chân tơ kẻ tóc / đường gân thớ thịt. Xong lại rút thán khí về qua huyệt đan điền để đẩy ra ngoài qua miệng. Trong khi đó để tâm trí kiểm soát đường đi của hơi thở. Còn ý nghĩ thì nghĩ rằng quyền năng của Chúa Thánh Thần đi vào để thánh hóa và rút bỏ những xấu xa quỉ quái khỏi lòng trí và thân xác chúng ta.
Cuộc đời không luôn luôn xảy ra như lòng ta mong ước. Có những điều tích cực mong mãi không được, lại có những điều tiêu cực không chờ đợi vẫn đến, cố tránh mà vẫn phải gặp. Vận dụng hơi thở để giải trừ: Khi hít vào, chúng ta cũng có thể nghĩ là mình đón nhận tất cả những gì là tích cực; còn thở ra là loại bỏ tất cả những gì là tiêu cực từ bất cứ đâu mà đến.
Với cách này, chúng ta tập giữ tâm hồn ở trạng thái thanh thản, như kinh Yataka dạy ‘Con hãy giữ tâm như đất: trên đất, người ta đổ ra dầu ngọt dầu chua, dầu cay dầu đắng, dầu sạch dầu dơ, đất vẫn một mực thản nhiên, đất không giận, đất không thương’.
Một tinh thần lành mạnh trong một thân thể tráng kiện. Nếu chúng ta biết vun trồng và bảo vệ thiên nhiên, thì thiên nhiên sẽ bảo vệ và tăng sức lực cho chúng ta.[11] Chẳng hạn câu chuyện “cây thầu dầu với tiên tri Giôna”:
“Chúa khiến một cây thầu dầu mọc lên ở phía trên ông Giôna để có bóng mát che đầu ông, hầu làm ông hết buồn bực. Ông Giôna vui, vui lắm vì cây thầu dầu. Nhưng hôm sau, khi hừng đông ló rạng, Chúa khiến một con sâu cắn cây thầu dầu và cây bị héo. Khi mặt trời mọc, Chúa cho có một cơn gió đông nóng bỏng, và mặt trời giội nắng xuống đầu ông Giôna; ông ngất xỉu và xin cho mình được chết, ông nói: "Thà tôi chết còn hơn là sống.” Chúa hỏi ông Giôna: "Ngươi nổi giận vì cây thầu dầu, như thế có lý không? " Ông trả lời: "Con có lý để nổi giận đến chết được!" Chúa phán: "Ngươi, ngươi thương hại cây thầu dầu mà ngươi đã không vất vả vì nó, và không làm cho nó lớn lên; trong một đêm nó đã sinh ra, rồi trong một đêm lại chết đi. Còn Ta, chẳng lẽ Ta lại không thương hại Ninivê, thành phố lớn, trong đó có hơn một trăm hai mươi ngàn người không phân biệt được bên phải với bên trái, và lại có rất nhiều thú vật hay sao?” (Giona 4,6-11)
(xem Phụ Lục: SỐNG TƯƠNG QUAN VỚI THIÊN NHIÊN QUA MỘT SỐ THÁNH THI)
V. TƯƠNG QUAN VỚI “TỨ CHUNG”
1. Cái chết
2. Phán xét
3. Thiên Đàng
4. Hỏa Ngục
Không có cái gì chắc chắn sẽ đến như cái chết; không có gì công bằng và nghiêm ngặt cho bằng cuộc phán xét chung thẩm; không có gì cay đắng và khủng khiếp cho bằng hỏa ngục; và không có gì dịu ngọt hạnh phúc cho bằng thiên đàng.
NGHĨ VỀ CÁI CHẾT
“Hãy để cái chết làm thầy dạy cho chúng ta” (Thánh Augustinô)
1. CÁI CHẾT: MỘT CON ĐƯỜNG SỐNG THÁNH
“Đã đến giờ tôi phải ra đi. Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin. Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính; Chúa là vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày ấy, và không phải chỉ cho tôi, nhưng còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện” (2 Tm 4,6-8)
“Nếu ngày nào ta cũng sống như thể đó là ngày tận thế của mình, đến một lúc nào đó ta sẽ thấy mình đúng.” Hãy luôn nhìn vào gương mỗi ngày để tự hỏi: “Nếu hôm nay là ngày cuối của đời mình, liệu tôi có muốn làm những việc hôm nay tôi sắp làm mà lương tâm tôi sẽ ân hận không?” Và khi nhận ra câu trả lời là “không” thì ngày này qua ngày khác, tôi biết mình cần thay đổi điều gì đó.
Ghi nhớ rằng "một ngày nào đó gần thôi mình sẽ chết đi" là một bí quyết vô cùng quan trọng giúp ta quyết định những lựa chọn lớn trong đời, bởi vì hầu hết mọi thứ - những mong đợi của người khác, lòng kiêu hãnh, nỗi lo sợ, xấu hổ khi thất bại - đều phù phiếm trước cái chết, chẳng có gì quan trọng cả.
Luôn nhớ rằng mình sẽ chết là cách tốt nhất để biết tránh sa vào cái bẫy suy nghĩ rằng mình không muốn mất đi cái gì đó. Lòng ta được thanh thoát, chẳng có lý gì để không đi theo tiếng gọi của Chúa: “Không ai biết được lúc nào Chúa vạch đường ranh giới chấm dứt cuộc đời mình.”
Không ai muốn chết cả. Thế mà cái chết lại là điểm đến của tất cả chúng ta. Không ai có thể trốn khỏi nó. Có lẽ đó cũng là điều hợp lẽ, bởi Cái Chết là sản phẩm tuyệt vời nhất của Cuộc Sống. Nó là yếu tố làm thay đổi cuộc sống. Nó gạt bỏ cái cũ và mở đường cho cái mới. Ngay bây giờ “cái mới” là thế hệ chúng ta, nhưng không xa nữa đâu, chúng ta sẽ trở thành cái cũ và bị loại bỏ. Xin thứ lỗi cho tôi, nói như thế là quá gay, nhưng mà đúng như vậy đấy.
Thời gian của chúng ta là có hạn, nên đừng phí phạm bằng cách sống cuộc đời của người khác. Đừng rơi vào bẫy của sự độc đoán, giáo điều của người khác. Đừng để những ý kiến ồn ào xung quanh đánh chìm tiếng nói của Chúa ở bên trong chúng ta. Và quan trọng nhất, hãy có dũng cảm để đi theo tiếng gọi của lương tâm chúng ta và lời thúc giục của Chúa Thánh Thần. Nhờ đó, chúng ta sẽ biết được cái gì thực sự là quan trọng, còn mọi thứ khác chỉ là thứ yếu thôi.
Con người là con vật duy nhất biết mình sẽ chết. Nhưng cái biết này vẫn còn là lý thuyết xa lạ, nhất là đối với người trẻ, đang khoẻ mạnh, đang yêu, đang thành công, tương lai đang hứa hẹn và cuộc đời đang mĩm cười với. Chỉ khi nào vấp phải một chứng bệnh nan trị, khi y học khiêm tốn nhìn nhận giới hạn của mình và buộc lòng phải tàn nhẫn tuyên bố bản án tử, thì khi đó sự biết mình sắp chết mới trở nên gần gũi thiết thân, hay nhức nhối đến từng làn da thớ thịt.
Trước cái biết sắp chết này, có người tuyệt vọng, buông xuôi hoặc bất mãn, căm hận, nổi loạn “trả thù đời”, để rồi chết đi khổ sở không bình an. Nhưng có người lại coi đó là một may mắn: có thời gian chuẩn bị hành trình tốt đẹp đi về vĩnh cửu.
Vì thế, các bậc thánh hiền dạy hãy năng nghĩ đến cái chết, vì nó giúp mình sống một cuộc đời tốt lành thánh thiện hơn. Thật vậy, có ai biết chốc lát nữa mình sẽ chết mà còn ham hố những sự đời này, còn gieo rắc bất công, hận thù, còn ghen ghét tranh chấp hơn thua nữa, mà không trái lại, an hòa với mọi người, tôn trọng lương tâm của kẻ khác, giao phó cho lòng nhân từ của Chúa lời phẩm bình cuối cùng và sự xét đoán chung thẩm, nỗ lực chuẩn bị tâm hồn để ra đi trong bình an về với Chúa?
Cái may mắn cho mình, cho người và cho đời là ở chỗ đó: có gì nữa để mất đâu mà sợ mất, có gì cần được nữa ở đời này đâu mà lo cho được?! Cảm nhận được điều đó đem lại cho chúng ta sự thanh thản và sức mạnh cho tâm hồn; đồng thời nỗ lực sống một cuộc sống đẹp như lời khuyên: “Ngày con sinh ra, mọi người cười (vui mừng vì con ra đời) mà con khóc. Con hãy sống thế nào để ngày con chết đi, con cười (mãn nguyện) mà mọi người khóc (vì thương tiếc con)”
(slideshow BÀI HỌC QUÉT LÁ)
2. CÁI CHẾT: HẠNH PHÚC TRỞ VỀ
Linh mục hãy nhìn cái chết với lòng trông cậy
Những kẻ khác nói về sự khủng khiếp của cái chết. Còn linh mục hãy giảng về niềm vui của cái chết. “Ta sẽ đến như kẻ trộm”, Chúa đã nói như vậy không phải để làm cho ta sợ, nhưng vì thương ta, Chúa muốn ta luôn luôn sẵn sàng và sống từng phút giây dường như lúc ta phải vĩnh viễn ra đi: “Hôm nay có thể là ngày cuối cùng rồi đây!”
Chúng ta hãy sống trên trần gian như người đang chờ chết, như người từ cõi bên kia trở lại. Chúa luôn có mặt bên ta, ngay cả lúc mọi sự dường như đổ vỡ, và nhất là trong giờ chết của ta. Chúng ta sẽ thấy đôi bàn tay Chúa choàng xuống trên ta và ôm chặt ta vào lòng. Chúng ta sẽ khám phá ra mình đã làm việc, đã đau khổ cho ai.
Chúng ta sẽ cám ơn Chúa đã đối xử với ta như thế, đã gìn giữ ta khỏi bao nhiêu nguy hiểm phần hồn phần xác, đã dẫn dắt ta trên những con đường hết sức bất ngờ, đôi khi như lạc lối nữa, nhưng đã làm cho đời sống ta được đồng nhất trong việc phục vụ anh chị em của ta. Lời tạ ơn của ta sẽ không ngừng vang lên khi ta khám phá thấy lòng thương xót của Chúa trên ta cũng như trên thế giới.
Chúng ta hãy năng dâng cho Chúa cái chết của con người để họ được sống bằng sự sống của Chúa. Chúng ta hãy nghĩ đến cuộc gặp gỡ của chúng ta trong ánh sáng. Chính vì vậy mà ta đã được tạo dựng, đã làm việc, đã đau khổ. Khi đến phiên ta, Chúa sẽ hái lấy ta. Chúng ta hãy năng nghĩ đến đó và dâng trước cho Chúa giờ chết của ta hiệp nhất với cái chết của Chúa Giêsu.
Chúng ta cũng hãy năng nghĩ đến cái gì sẽ đến sau cái chết. Phải, ta hãy nhìn cái chết với lòng trông cậy và hãy tận dụng chuỗi ngày cuối đời mà chuẩn bị chết với tình yêu. Chúng ta cũng hãy nghĩ đến cái chết của anh chị em đồng loại, ba bốn trăm ngàn người mỗi ngày vĩnh viễn ra đi. Hãy cầu nguyện cho những người không hề nghĩ tới lúc phải ra đi. Đó là một cách hữu hiệu nhất làm cho Hy Tế Can-vê của Chúa Giêsu thêm giá trị và thánh lễ ta dâng mỗi ngày thêm phong phú.
Nhiều người chẳng hề nghĩ Chúa sẽ đến gọi họ chiều nay! Bao nhiêu tai nạn, bao nhiêu thiên tai bất ngờ, còn ta hãy ngủ yên trong vòng tay Chúa chiều nay. Hãy làm mọi việc trong khi nghĩ đến lúc đó, nó sẽ giúp ta. Chính vì yêu ta mà Chúa Giêsu đã chấp nhận cái chết. Ta chỉ có thể cho Chúa bằng chứng lớn lao khi chấp nhận cái chết kết hiệp với Chúa Giêsu.
Chúng ta hãy tiếp tục năng liên kết cái chết của ta với cái chết của Chúa Giêsu và dâng lên Chúa Cha qua tay Mẹ Maria, dưới ảnh hưởng của Chúa Thánh Thần. Nhân danh cái chết của ta liên kết với cái chết của Chúa Giêsu, ta có thể xin những ơn trợ giúp cấp thời để sống tốt hơn trong hiện tại. Hãy tận dụng điều đó.
Chính bằng cái chết của Chúa Giêsu mà Thiên Chúa đã làm cho thế gian được sống. Và bằng sự hiến dâng cái chết của Chúa Giêsu mà Chúa tiếp tục ban sự sống cho loài người. Ta hãy tín nhiệm Chúa. Chúa luôn có mặt mọi lúc trong cuộc sống trần gian của ta. Chúa sẽ có mặt lúc ta đi vào đời sống vĩnh cửu. Và Mẹ Chúa, người đã tỏ ra quá tốt với ta như thế, Mẹ cũng sẽ có mặt với ta, với tất cả sự dịu dàng từ mẫu của Mẹ.
Chúng ta cũng hãy năng nghĩ đến anh chị em của ta trong luyện ngục, họ không thể tự mình làm chi cho mình thêm công nghiệp. Họ cần đến công nghiệp của anh chị em còn ở trần gian giúp cho họ. Chớ gì mọi người, những ngươi già cả, ốm đau, bệnh tật biết dùng những năm tháng cuối đời để thêm ơn và công nghiệp cho các linh hồn và cho chính mình. Cái chết của họ sẽ dịu dàng hơn, vì Chúa đã hứa ban một ơn trợ giúp đặc biệt vào lúc trọng đại đó cho những ai sống cho kẻ khác trước mình. Chính đó là tình yêu. Với những hy sinh nhỏ bé, hãy dọn mình chết bằng cách yêu mến.
Chúa biết giờ chết của ta và cách nó sẽ xảy ra. Chính Chúa đã chọn cho ta với tất cả tình yêu. Chúa sẽ có mặt vào giờ ra đi trọng đại cuối cùng của ta, với mọi ơn cần thiết. Chính mức độ tình yêu của ta sẽ cho ta dự phần cách sung mãn. Người ta chết như người ta đã sống. Nếu ta sống trong yêu thương, cái chết sẽ đến với ta trong tình yêu. Chính Chúa sẽ đợi ta ở cuối đường đời, sau khi đã là bạn đồng hành của ta suốt cả cuộc sống. Còn ta, hãy dùng cho tốt quãng thời gian còn lại.
Chúng ta hãy rao giảng tinh thần lạc quan cho những người ngã lòng. Chúa ở với Giáo Hội mọi ngày cho đến tận thế. Thay vì ngã lòng, họ hãy kêu đến Chúa: Lạy Chúa, xin cứu chúng con kẻo chúng con chết mất. Hãy gia tăng Đức Tin vào sự hiện diện và quyền năng của Chúa. Cách trực diện với sự chết đối với ta phải là vấn đề Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến. Cái chết là một cuộc khởi hành để đến đích. Trong nhà Cha, nơi đó ta sẽ gặp lại tất cả.
Người ta chết như người ta đã sống.
Chúng ta hãy sống trong tình yêu để được chết trong tình yêu
Hôm nay, hãy ngủ yên trong vòng tay Chúa.
Và chớ gì ta sẽ ra đi như thế!
(slideshow CON XIN PHÓ THÁC)
THẦY XỨ TUYỆT VỜI
1. TƯƠNG QUAN VỚI GIÁM MỤC BẢN QUYỀN
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Tương quan chặt chẽ với Giám Mục, nhìn thấy nơi ngài một người cha thực sự. Vâng phục và yêu mến với tình con thảo, luôn tỏ lòng kính trọng, tín nhiệm và mau mắn thực hiện công việc ngài trao phó với hết tâm trí, sức lực.
Tuyệt đối vâng phục Giám mục để phục vụ dân Chúa trong tinh thần hiệp thông, nhưng vẫn có thể trình bày quan điểm riêng khi được gợi ý trao nhiệm vụ hay công tác nào đó.
Thái độ vâng phục, cộng tác, trung thành, yêu thương và kính trọng Giám Mục giúp thầy học tập và thăng tiến bản thân trong đời sống hiệp thông của Giáo Hội.
Nhiệt tình ưu tư và tích cực tiếp tay cùng Giám Mục làm phát triển cộng đoàn dân Chúa tại địa phương.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không làm tổn thương mối tương quan với Giám mục, chẳng hạn có những lời nói hay việc làm thiếu kính trọng, có tính đối phó.
Không nên có thái độ bất cần, không tín nhiệm, bất hiệp thông, dửng dưng, kính nhi viễn chi; làm trái bài sai.
Không lơ đễnh bổn phận đã được trao phó; tỏ ra thái độ dửng dưng với công việc; làm chiếu lệ.
2. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC LINH MỤC ĐÀN ANH
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Kính trọng và vâng lời, xem các ngài là người anh đầy thương mến cùng chí hướng; khiêm tốn học hỏi từ kinh nghiệm và cuộc sống mục vụ của các ngài, vì “khôn đâu có trẻ”.
Luôn sẵn lòng cộng tác với các ngài trong mọi công việc, hầu làm sáng danh Chúa và cứu rỗi các linh hồn.
Luôn biết vâng lời các vị tiền bối trong những điều hợp với Giáo lý và Giáo luật. Khi cần, có thể thẳng thắn trao đổi và bày tỏ ý kiến của mình với các vị đàn anh về chương trình hành động hay công việc gì đó trong giáo xứ.
Nhiệt tình cộng tác và chia sẻ trách nhiệm cùng cha xứ. Mọi việc, mọi chương trình trong công tác mục vụ tại giáo xứ, thầy cần lên chương trình rồi bàn hỏi cùng cha xứ, nhưng quyền quyết định thuộc về ngài.
Thầy xứ cần sống hoà mình với tất cả các linh mục, không để có những ngăn cách về tuổi tác già, trẻ, đau yếu, hầu yêu thương, kính trọng và nâng đỡ các ngài trong khả năng và mức độ có thể của thầy.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không nói hay làm những gì tổn thương tình huynh đệ và cha con. Không tự phụ, khoe khoang mình tài giỏi, trẻ trung, thức thời, năng động và linh hoạt…
Không phụ ơn thế hệ tiền bối. Không coi thường đức tính cẩn thận trong phục vụ của đàn anh. Kính trọng, nhưng cũng không nên khúm núm rụt rè quá mức.
Không gây bất hòa, chia rẽ tình huynh đệ. Không gây gương mù vì mất đoàn kết trong tình hiệp thông huynh đệ.
Không tự động làm hay lên một chương trình gì trong giáo xứ mà không thông qua cha xứ.
Không liên kết với phe nhóm nào để phản kháng hay chống cha xứ.
3. TƯƠNG QUAN VỚI ANH EM CHỦNG SINH VÀ CÁC MẦM NON ƠN GỌI GIÁO SĨ
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Nâng đỡ các chủng sinh dự bị, nhất là trong thời gian họ được thử thách tại giáo xứ bằng cách chia sẻ kinh nghiệm, phân chia công việc, tạo điều kiện cho họ cộng tác.
Đón nhận và coi các chủng sinh dự bị cộng tác với mình như những người em đáng quí trọng và yêu thương.
Tìm hiểu khả năng, sở thích và tâm trạng của họ để trao công việc thích hợp.
Làm gương sáng và đi tiên phong trong mọi công việc phục vụ. Luôn khích lệ và tán dương khi họ chu toàn bổn phận.
Quan tâm và tìm hiểu những em nào thích đi tu trong số các em thiếu nhi mình phụ trách, đặc biệt các em giúp lễ.
Nên tổ chức những đợt thi đua hoa thiêng liêng, những ngày cầu nguyện cho ơn gọi, cũng như gặp gỡ các ơn gọi theo định kỳ.
Thường xuyên động viên và khuyến khích các em không chỉ về mặt tinh thần mà cả vật chất (khen thưởng).
Làm gương sáng cho các em về đời sống hy sinh, phục vụ, cởi mở với mọi người và sống đạo đức.
Chăm lo giáo dục các em sống thật thà, yêu thương mọi người bằng việc sống bác ái.
Giáo dục các em về đời sống nhân bản, biết kính trên nhường dưới, biết nói lời cám ơn, biết nói lời xin lỗi và biết ăn năn sám hối về những tội lỗi đã phạm đến Thiên Chúa và tha nhân.
Giáo dục các em về đời sống đức tin, giáo lý của Chúa và Hội Thánh, nhất là am hiểu Lời Chúa.
Tập cho các em biết cách cầu nguyện, nhất là phải có lòng sùng kính mến yêu bí tích Thánh Thể và Mẹ Maria Vô Nhiễm.
Đôn đốc và động viên các em chuyên chăm học hành tri thức, các kỹ năng chuyên môn nhằm nâng cao hiểu biết và khả năng phục vụ sau này.
Quan tâm và cổ võ ơn gọi thánh hiến, bằng cách kêu gọi, tổ chức các lớp ơn gọi...
Quan tâm nâng đỡ ơn gọi bằng cách gặp gỡ, trao đổi, giúp đỡ các em cả về tinh thần và vật chất, nhất là làm gương sáng cho các em.
Đặc biệt là giúp các em tìm hiểu ơn gọi và xác định đúng ơn gọi của mình. Đây là vấn đề rất quan trọng.
Cũng nên nói thật về những hy sinh, từ bỏ là những yếu tố không thể thiếu trong đời sống tu, để các em không thất vọng khi đối mặt với thực tế.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Tránh làm gương mù gương xấu cho các chủng sinh dự bị, nhất là đừng để lại ấn tượng xấu khi họ ra đi.
Không đè nén, hay đối xử quan cách, hách dịch, kẻ cả… nhưng ý thức đó là những người anh em cùng lý tưởng trong Chúa Kitô.
Không bao giờ có ác ý trong lúc họ cộng tác với mình, nếu sai thì góp ý, đúng thì tán thành và khích lệ.
Không bao giờ bới lông tìm vết và khiển trách họ trước đám đông kẻo làm mất thanh danh người em của mình.
Đối với các mầm non ơn gọi, không bao giờ la mắng, quát nạt các em khi các em không chu toàn bổn phận, vì chúng đang ở tuổi mải ham chơi.
Không bao giờ quí em này mà ghét hay khinh chê em khác.
Không bắt phạt các em quá mức khi chúng làm cho mình không hài lòng.
Không bắt các em phải sống, phải làm mọi việc như mình đã sống, đã làm và đã luyện tập trong bao nhiêu năm (“trả thù đời”).
Không nên nói dối hay đánh lừa các em, vì chúng rất đơn sơ và tâm lý của các em dễ bị tổn thương.
Không bao giờ gieo vào đầu các em những hình ảnh, những tư tưởng và việc làm xấu, vì tâm hồn các em như một tờ giấy trắng rất dễ bị hoen ố.
Không để các em bè phái, nhưng dạy chúng sống đoàn kết yêu thương không phân biệt tuổi tác.
Không nên quên sửa lỗi cho các em. Cần chỉ cho các em biết được lỗi đã phạm và biết cách sửa lỗi để mỗi ngày trở nên tốt hơn.
Không nên bỏ mặc các em trong các sinh hoạt tri thức và thiêng liêng, cũng như sức khỏe và đời sống vật chất nữa.
Không nên bắt ép các em phải đọc quá nhiều kinh sách có thể làm cho chúng dị ứng với đời tu.
Không được dửng dưng với ơn gọi, và đặc biệt không bao giờ được phép coi thường và tiêu cực với ơn gọi.
Không bao giờ được nói xấu, chê bai hoặc có thái độ khinh dể các quyền bính trong Giáo Hội, cụ thể là các bề trên liên hệ.
Không làm gương xấu, gương mù hay có những hành vi làm cho những người trẻ vì đó mà mất niềm tin, thất vọng vào đời sống dâng hiến. Như vậy là dập tắt các mầm non ơn gọi. Không nên coi thường, lãnh đạm, thờ ơ với ơn gọi tu sĩ.
Nhưng cũng không nên hoàn toàn nói hay nói tốt về đời sống tu, làm họ vỡ mộng khi gặp thực tế trái ngược.
4. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC TU SĨ NAM NỮ
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Biết lắng nghe, kính trọng và yêu thương họ trong tình hiệp nhất. Cư xử hòa nhã và không nên phân biệt đối xử dòng hay triều.
Biết thông cảm và chia sẻ với họ những khó khăn và thách đố họ đang gặp phải.
Nhìn nhận những khả năng chuyên môn và kinh nghiệm về tri thức, cũng như đời sống hy sinh của họ trong nhà dòng.
Tạo mọi điều kiện cho các nam nữ tu sĩ cộng tác với mình được phát triển khả năng chuyên môn của họ.
Nên có những buổi trao đổi hay giao lưu với nhau về các lãnh vực chuyên môn như: giáo lý, Kinh Thánh và các kỹ năng khác.
Tổ chức những buổi cầu nguyện hay tĩnh tâm chung với tất cả nam nữ tu sĩ đang phục vụ tại giáo xứ.
Tổ chức những buổi thăm viếng và giúp đỡ các nam nữ tu sĩ trong giáo xứ bị bệnh tật, hay đang gặp khó khăn để xây dựng tinh thần hiệp thông và thăng tiến đời sống đạo đức.
Nhìn nhận giá trị các tổ chức tu trì trong và ngoài giáo phận.
Tôn trọng phẩm giá và sứ vụ tông đồ của các cộng đoàn tu sĩ. Tôn trọng các đặc sủng của từng cộng đoàn tu trì.
Sẵn sàng để các cộng đoàn tu cộng tác với mình trong công tác tông đồ thuộc địa hạt của mình, đặc biệt lãnh vực phụng vụ và bác ái. Và cũng sẵn sàng chia sẻ sứ vụ của mình với họ.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không nên xem thường và khinh miệt các tu sĩ, cư xử phân biệt nam tu và nữ tu.
Không độc tài áp đặt ý kiến của mình bắt người khác phải theo, nhưng để cho mọi người cùng đóng góp ý kiến xây dựng.
Không dùng những lời nói có tính cách sai khiến và trịch thượng, dù mình có là người đi trước, hoặc có quyền, có trách nhiệm.
Không nên lợi dụng, bắt họ làm việc quá nhiều mà quên đi rằng họ cũng cần phải có thời giờ nghỉ ngơi, bồi dưỡng thêm kiến thức và tu đức. Cũng đừng quên ơn và quên công lao của họ (vắt chanh bỏ vỏ).
Không dẫm chân lên nhau trong các công việc đã được cha xứ chỉ định.
Không nên ganh đua tài năng cũng như công việc phục vụ, để rồi kéo bè để lên án hay phê bình các nam nữ tu sĩ, chỉ vì ghen tức họ làm việc tốt, có hiệu quả nên được mọi người khen ngợi và yêu mến hơn mình.
5. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC NỮ TU LỚN TUỔI
VÀ CÓ TRÁCH NHIỆM
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Trước hết phải biết kính trọng họ, vì là những người lớn tuổi, cả tuổi đời lẫn tuổi tu.
Tìm cách nâng đỡ và động viên bằng cả tinh thần lẫn vật chất, tuy nhiên cũng cần phải giữ một khoảng cách nhất định vì luật âm dương không có bên giới về tuổi tác.
Dùng những lời nói tế nhị, có tính đề cao họ, vì có những người đáng tuổi bà, tuổi mẹ... nên họ rất hay tủi thân khi bị xúc phạm.
Nên mời các nữ tu cộng tác vào các công việc phục vụ trong giáo xứ, nhất là công việc mục vụ, để họ cảm thấy mình cũng có trách nhiệm với giáo xứ, chứ không phải là người đứng ngoài và hoàn toàn thụ động với các sinh hoạt của Giáo xứ.
Trao đổi với người có trách nhiệm trước khi giao cho các nữ tu công việc gì. Phải có sự hiểu biết, tin tưởng và an tâm khi trao công việc cho họ phụ trách.
Tuyệt đối kính trọng họ trong mọi hoàn cảnh. Nói năng phải lễ phép, lịch sự, thưa gửi đàng hoàng và đứng đắn.
Luôn lắng nghe những ý kiến xây dựng cách chân thành của họ cho mình về cách sống cũng như cách làm việc.
Trong khi tiếp xúc với họ, hay có việc cần phải trao đổi thì phải ở phòng khách, tiếp vắn gọn nhanh chóng, có một khoảng cách đủ an toàn.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không bao giờ dùng lời nói khinh chê và mỉa mai đối với các nữ tu lớn tuổi, hay xem họ là người không làm được việc gì hết và ăn bám.
Không nên nói những gì có tính làm nguy hại đến tinh thần hiệp nhất, ảnh hưởng đến người khác, vì các nữ tu khó lòng giữ được những chuyện kín.
Không nên quá đề cao tầm quan trọng của các nữ tu, để họ tự mãn và làm cao. Cũng không nên nói dối (nói đùa) với họ, vì tuổi già hay tin tưởng và dễ hiểu lầm.
Không nên chỉ trích, làm mất thanh danh và uy tín của các nữ tu giữa cộng đoàn giáo xứ.
Không nên kéo phe nhóm hay chỉ quan tâm đến những người mình phụ trách nhiều quá, vì làm như thế những người còn lại sẽ buồn và cảm thấy mình bị hất hủi.
Không nên nói năng với họ như những người ngang hàng, nói lời bất kính, coi thường, khinh dể hay xấc láo.
Không nên lạm dụng lòng tốt của họ; phân biệt đẳng cấp và tỏ thái độ bất cần.
Không nên can thiệp vào những việc nội bộ của họ, dù có được họ chia sẻ về trách nhiệm của họ.
Dù họ là nữ tu lớn tuổi, khi tiếp xúc không nên ở trong phòng kín, khoá cửa, tiếp xúc quá lâu giờ và đừng bao giờ tỏ ra quá thân mật với họ như người ngoài đời.
Không nên nói những chuyện sàm sỡ (tiếu lâm) với các nữ tu làm ảnh hưởng đến đời sống dâng hiến.
Đừng bao giờ đánh giá hay nhận xét về các thành viên cấp dưới hay cung cấp thông tin không chính xác của cấp dưới cho bề trên.
6. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC NỮ TU BẰNG TUỔI
VÀ CÓ TRÁCH NHIỆM
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Lắng nghe những ý kiến của họ khi xét thấy là đúng, là hợp lý. Nếu cộng tác với nhau trong công việc tông đồ, nên có kế hoạch cụ thể.
Cảm thông và chia sẻ những thất bại cũng như thành công để nâng đỡ, giúp họ vượt qua những bế tắc.
Phải dứt khoát trong vấn đề tình cảm. Lời nói phải thanh tao, đứng đắn lịch sự, cởi mở chân thành, có sao nói vậy.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không nên tỏ thái độ quan tâm họ hơn những người khác trong cộng đoàn của họ, cho dù họ là người có trách nhiệm, có nhiều việc trao đổi hợp tình hợp lý.
Không nên từ chối những việc họ cần đến sự trợ giúp của mình, khi việc đó là chính đáng và mình có thể làm được.
Không nên đưa ra điều kiện này điều kiện khác khi giúp họ, nhằm đưa họ vào thế kẹt.
Đừng nên nghe họ tâm sự những chuyện riêng tư của họ mà xét thấy không phù hợp với mình.
Không nên nói một lời hai ba ý. Trong các cuộc tiếp xúc, mình phải là người hoàn toàn chủ động, dứt khoát không để họ lạm dụng và ngược lại.
7. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC NỮ TU TRẺ
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Tôn trọng các nữ tu trẻ, coi họ như những người chị em trong Chúa. Nhìn nhận họ là những cộng tác viên, chứ không phải những thuộc hạ hay người giúp việc.
Sống liên đới nhưng phải khôn ngoan. Sống cởi mở và cùng nhau chia sẻ đời sống tâm linh và sứ vụ. Tin tưởng, cảm thông và sẵn sàng nâng đỡ nhau về tinh thần cũng như vật chất.
Sẵn sàng trao đổi những kinh nghiệm trong đời sống thiêng liêng, đời sống mục vụ, cũng như các công việc hoạt động tông đồ.
Thường xuyên kiểm tra và đôn đốc các công việc đã phân công cho các nữ tu giúp đỡ. Giúp đỡ họ thăng tiến về đời sống nhân bản, tâm linh và tri thức, trong khả năng và điều kiện của mình.
Nói năng đứng đắn, tư cách đàng hoàng, có sao nói vậy rất chân thành. Khi làm việc chung với nhau, cần có kế hoạch cụ thể, phải có giờ giấc, tôn trọng nơi chốn và thời gian. Luôn nghĩ tốt về mọi người, nên tìm và khai thác những khía cạnh tốt để động viên và khích lệ.
Cố gắng bao nhiêu có thể để xây dựng sự đoàn kết, gắn bó trong cộng đoàn của họ. Hãy tỏ ra là người bạn của họ và lắng nghe những trăn trở thắc mắc của họ về công việc để tìm ra giải pháp tốt nhất.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Cần phải giữ khoảng cách và nơi chốn khi tiếp xúc. Không nên tiếp lâu giờ một mình trong phòng riêng và đóng kín cửa.
Giữ khoảng cách tình cảm và những giới hạn cần thiết về thể lý cũng như tâm lý của các cuộc gặp gỡ. Tránh những cuộc hẹn hò riêng tư và vụng trộm.
Không nên khen một nữ tu nào đó mà mình quí mến trước mặt các nữ tu khác làm cho họ buồn, ghen tương và có thể hiểu lầm.
Không chiều chuộng hay cho quà cáp các nữ tu, vì họ rất yên chí mình là của riêng họ.
Không nên nói những lời thiếu đứng đắn, thiếu tư cách, hay những lời ẩn ý khó hiểu, những lời thiếu lành mạnh.
Khi làm việc với nhau trong một giáo xứ không nên tuỳ tiện cả về thời gian và nơi chốn, dù là có ý ngay lành.
Đừng bao giờ chê bai, đánh giá thấp hay nói xấu, nói các khuyết điểm, các sai lầm của bề trên của họ trước mặt họ.
Không bao giờ phân chia bè phái rồi mình đứng về phe này hay phe kia để chia rẽ.
Không nên nhận các nữ tu trẻ làm anh em kết nghĩa. Cũng không nên nhận lời khi các nữ tu trẻ đặt vấn đề muốn nhận làm bố hay anh tinh thần.
Không nghe những nữ tu trẻ nói xấu nhau, hay nói xấu những người trong cộng đoàn của họ.
Đừng bao giờ tỏ ra quan tâm một người hơn trong một nhóm người của cộng đoàn, vì đó là một điều vô cùng tai hại.
8. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC MẦM NON ƠN GỌI TU SĨ
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Năng gặp gỡ, khích lệ, động viên và nâng đỡ các em. Nói cho các em biết sự cao qúi của ơn gọi thánh hiến.
Sống thật vui vẻ và gương mẫu, để các em cảm nhận được thầy thật dễ mến.
Gần gũi, cởi mở và thân thiện với các em. Tỏ ra thầy hài lòng và sung sướng khi thấy dấu chỉ ơn gọi nơi các em.
Ý thức mình có trách nhiệm chăm lo những mầm non ơn gọi. Khơi dậy trong thanh thiếu niên khát vọng dâng hiến cho Chúa. Coi các mầm non ơn gọi là đối tượng quan trọng trong lời cầu nguyện của mình.
Luôn tỏ ra mình là người bạn, người anh, người thầy thực sự và sắp là người cha nữa, sẵn sàng đưa tay dìu dắt các em và đồng hành với chúng.
Giúp các em biết cách đề phòng và tránh xa những cám dỗ nguy hiểm có thể làm mất ơn gọi.
Mời gọi các em cộng tác với thầy phục vụ thiếu nhi, tham gia ca đoàn, giúp lễ, đọc sách Thánh và các sinh hoạt trong giáo xứ.
Hàng tuần hoặc hàng tháng qui tụ các em để nói về ơn gọi, về nhân bản và giáo lý.
Nên làm công tác tư tưởng với phụ huynh của các em, để họ quảng đại dâng hiến con cho Thiên Chúa. Luôn cảm thông và giúp đỡ cách vô vị lợi, không mong đáp đền.
Cần để cho các em hoàn toàn tự do lưạ chọn tiếp tục theo đuổi ơn gọi tu trì hay muốn thay đổi. Nếu có thể được, hãy đóng vai trò như là linh hướng cho các em.
Giúp các em ý thức về một nếp sống nhân bản sao cho phù hợp với nhà tu hành.
Nên nói cho các em biết về các điều kiện phải có để theo đuổi ơn gọi, chẳng hạn lòng nhiệt thành và tinh thần yêu mến các linh hồn.
Một điều cũng cần cho các em biết sớm đó là muốn tu thì phải có khả năng sống độc thân, vâng lời và nghèo khó.
Thỉnh thoảng cho các em cây bút, cuốn vở, hay sách đạo vào những dịp lễ quan thầy của các em hoặc ngày sinh, ngày khai trường...
Tổ chức cho các mầm non ơn gọi được giao lưu sinh hoạt với nhau trong giáo xứ, giáo hạt với những trò chơi có thưởng. Thỉnh thoảng tổ chức cho đi hành hương.
Nên dè dặt và tế nhị đối với các em nữ để các bậc phụ huynh và khách quan nhìn vào không ái ngại nhưng yên tâm ủng hộ.
Giúp ơn gọi nam cách đắc lực hơn trong vấn đề vật chất cũng như tinh thần mà không sợ dị nghị vấn đề phái tính. Coi các em sẽ là những người anh em của mình trong tương lai.
Quan tâm và cổ võ ơn gọi thánh hiến, bằng cách kêu gọi, tổ chức các lớp ơn gọi...
Quan tâm nâng đỡ ơn gọi bằng cách gặp gỡ, trao đổi, giúp đỡ các em cả về tinh thần lẫn vật chất, nhất là làm gương sáng cho các em.
Đặc biệt là giúp các em tìm hiểu ơn gọi và xác định đúng ơn gọi của mình, đây là vấn đề rất quan trọng.
Cũng nên nói thật về những hy sinh, từ bỏ là những yếu tố không thể thiếu trong đời sống tu, để các em không thất vọng khi đối mặt với thực tế.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không quên câu nói của Chúa Giêsu: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít”. Không dửng dưng với những em có dấu chỉ ơn gọi tu trì. Không im lặng khi các em muốn hiểu biết về cuộc sống tu trì.
Không sống cách buồn phiền và biếng nhác công việc bổn phận, khiến các em thấy thầy đang kéo lê cuộc đời.
Không tỏ ra xa cách và khép kín, ích kỷ. Không nên nghĩ rằng khi có nhiều người đi tu thì mình sẽ bị giảm giá trị.
Không mặc kệ các mầm non ơn gọi tự xoay sở kiếm tìm người giúp đỡ. Không quên cầu nguyện cho ơn gọi tu trì.
Không làm gì khiến các mầm non ơn gọi có cảm giác cuộc sống tu trì cô đơn và thiếu nâng đỡ.
Không nên dấu diếm những thử thách mà đời tu thường gặp phải, cũng như cám dỗ của thời đại. Nhưng cũng không nên hoàn toàn nói hay nói tốt về đời sống tu.
Không nên bao biện, vơ tất cả công việc về mình, đang khi có nhiều việc những mầm non ơn gọi làm rất tốt.
Không bỏ qua cơ hội có thể nâng đỡ các em về tinh thần hay vật chất.
Không quên rằng gia đình có vị trí quan trọng, là môi trường ươm trồng ơn gọi.
Không tạo áp lực buộc các em phải theo mình, khiến các em phải lệ thuộc mình cách nào đó.
Không nên can thiệp quá sâu vào đời sống riêng tư của các em, khai thác bí mật mà các em muốn giấu kín. Không nên có cung cách giáo điều, thiếu nhã nhặn và tế nhị.
Không đòi hỏi các em phải đạt ngay được những điều mà thầy đã tu tập trong nhiều năm.
Không nên quan tâm đặc biệt riêng một em nào cả, nhất là là nữ giới. Không nên tiếp xúc quá riêng tư với một mầm non nữ nào đó, khiến mọi người thấy đấy là gương mù.
Không dùng của cải và tài năng của mình làm cho các em bị choáng ngợp, khiến Chúa bị lu mờ đi trong tâm trí em.
Không được dửng dưng với ơn gọi, và đặc biệt không bao giờ được phép coi thường và tiêu cực với ơn gọi.
Không bao giờ được nói xấu, chê bai hoặc có thái độ khinh dể các quyền bính trong Giáo Hội, cụ thể là các bề trên liên hệ.
Không làm gương xấu, gương mù hay có những hành vi làm cho những người trẻ vì đó mà mất niềm tin, thất vọng vào đời sống dâng hiến. Như vậy là dập tắt các mầm non ơn gọi.
9. TƯƠNG QUAN VỚI GIÁO DÂN NÓI CHUNG
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Yêu mến, cư xử với giáo dân bằng ánh mắt và con tim của Chúa. Cư xử với giáo dân như anh chị em cùng một Cha trên trời.
Sống đúng tư cách người trưởng thành về nhân bản và tôn giáo. Sống hài hoà với mọi giới, mọi đoàn thể.
Tôn trọng ý thức trách nhiệm và tự do của giáo dân trong mọi lãnh vực của cuộc sống, nhất là lãnh vực tôn giáo.
Sống đúng tư cách là thầy xứ có bổn phận cộng tác với cha xứ để đào tạo một đội ngũ giáo dân trưởng thành.
Sống gương mẫu, góp phần giảng dạy và dẫn dắt giáo dân trong tinh thần khiêm tốn và phục vụ. Giúp giáo dân thấy được vị trí và vai trò của họ là làm chứng cho Chúa giữa lòng xã hội hôm nay.
Quí trọng việc tông đồ của giáo dân và sát cánh với họ trong lúc khó khăn, theo tinh thần của hiến chế về Giáo Hội và Sắc Lệnh Tông Đồng Giáo Dân.
Lắng nghe những thao thức và đáp ứng những nhu cầu tâm linh của họ trong phạm vi của mình.
Cảm thông và giúp đỡ. Để ý đến những cá nhân, gia đình đang gặp khó khăn để kịp thời thăm hỏi, động viên, nâng đỡ.
Hàng năm vào dịp tết, nên đi chúc tuổi, thăm hỏi và để hiểu biết hoàn cảnh giáo dân hơn. Sống sao để luôn gần gũi với những người nghèo và kém may mắn.
Đem giáo dân vào trong lời cầu nguyện.
Tôn trọng phẩm giá của họ cũng như sứ vụ, kinh nghiệm, chuyên môn và các kỹ năng của họ.
Mời gọi họ cộng tác trong các việc phù hợp với họ, tin tưởng họ, khiêm tốn, lắng nghe, hoà đồng với họ, xây dựng tình đoàn kết yêu thương, làm gương sáng cho họ về đời sống đạo đức cũng như bác ái…
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không nên có những cử chỉ lời nói thiếu trưởng thành về nhân bản. Không bao giờ cư xử một cách thiếu đức tin và lòng mến đối với giáo dân.
Không nên đánh giá thấp giáo dân, vì ngày nay họ cũng được học hỏi và hiểu biết nhiều. Không coi thường giáo dân, xem họ như ở bậc dưới.
Không đòi hỏi những điều kiện trong khi làm mục vụ cho giáo dân. Không nên đòi hỏi giáo dân trở thành Kitô hữu trưởng thành trong một sớm, một chiều.
Không nên xem thường vai trò làm ‘men’, làm ‘muối’, làm ‘ánh sáng’ của giáo dân giữa giòng đời. Không nên quên hướng dẫn về ý nghĩa, mục đích và cách thức hoạt động tông đồ.
Không bao giờ cho phép mình bỏ bê việc giảng dậy giáo lý cho giáo dân. Không bao giờ cho rằng giáo dân năng đến với mình là giáo dân hay quấy rầy và gây phiền phức.
Không nên giúp đỡ vì mục đích nào khác ngoài mục đích tạo cho họ có điều kiện sống xứng đáng phẩm giá và ơn gọi của họ.
Không bao giờ nghĩ rằng mình nghèo tới mức không có gì để cho giáo dân.
Không nhắm kiếm chác vật chất nơi giáo dân khi giúp họ việc này việc khác, nhưng hãy tỏ ra đó là vì sứ vụ và bác ái.
Không quên người nghèo là đối tượng Chúa ưu tiên. Không gần gũi quá đến suồng sã hoặc xa cách quá.
Không nên nói tiêu cực về người khác với giáo dân.
Không nên ăn nhậu như những thanh niên ngoài đời, kẻo gây gương mù cho giáo dân.
Không trịch thượng, coi thường những ước mong, kinh nghiệm, chuyên môn cũng như các kỹ năng khác của họ, thiếu tin tưởng, không cho họ có cơ hội làm việc, bỏ qua các sáng kiến của họ, gây chia rẽ, bè phái, nghi kỵ nhau làm cho họ tách biệt khỏi cộng đoàn.
10. TƯƠNG QUAN VỚI BAN HÀNH GIÁO
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Tâm niệm rằng họ là những người có lòng hy sinh phục vụ. Luôn coi họ là người cộng tác chia sẻ gánh nặng với cha và thầy xứ.
Nhìn nhận Ban hành giáo là nòng cốt. Biết đề cao, bảo vệ, khích lệ và động viên kịp thời, đúng lúc, trong chừng mực cho phép. Rộng rãi lời khen đối với họ.
Quan tâm đến cuộc sống gia đình của từng người, bằng những lời thăm hỏi, những món quà nhỏ bé vào những dịp vui buồn của gia đình họ (nếu có thể).
Mỗi năm nên tổ chức hành hương, du lịch và một vài bữa ăn để củng cố tinh thần và trao đổi về những thành công, thất bại và rút kinh nghiệm cho năm phụng vụ mới.
Quý mến, tôn trọng, tín nhiệm và trao trách nhiệm cho họ, khi họ có điều kiện làm được.
Bồi dưỡng đời sống thiêng liêng và tinh thần để họ có được động lực và sức sống cần thiết hoạt động mục vụ.
Gây tinh thần đoàn kết hợp nhất giữa các thành viên Ban Hành Giáo.
Phải là người có nhân bản, nghĩa là những “phép tắc” căn bản dùng để đối xử giữa con người với nhau cho đúng tình người.
Thầy xứ phải là con người có lòng biết ơn, biết xin lỗi, tiết chế lời nói, tiết chế nóng giận, ăn uống;
Đồng thời cũng phải biết lắng nghe và phải tế nhị với những người đại diện cộng đoàn, nhất là với Ban hành giáo, những người cộng tác đắc lực với cha xứ.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không nên đối xử với Ban hành giáo như người dưng, xem thường tiếng nói của họ, khiến họ cảm thấy thầy vô ơn.
Không nên sửa lỗi của một người nào trong ban hành giáo trước mặt cộng đoàn. Không xúc phạm một ai đó trong ban hành giáo bằng lời hay bằng hành động.
Không làm gì khi chưa được sự đồng ý và ủng hộ của cha xứ: thăm hỏi, biếu quà, tổ chức hành hương, du lịch cho ban hành giáo.
Không nên quá chú ý xây dựng tương quan với ban hành giáo tới mức phá vỡ mối hiệp thông thầy đang có với cha xứ.
Không đứng về phía ban hành giáo chống cha xứ và gây hại cho giáo dân.
Thầy xứ không được lộng quyền lèo lái họ, nhưng nâng đỡ và khuyến khích họ chu toàn trách nhiệm phục vụ Giáo hội, với những kinh nghiêm và chuyên môn của họ trong các lãnh vực.
11. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC ĐOÀN THỂ
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Tôn trọng và yêu qúi các đoàn thể đang hoạt động với những mục đích tốt. Nhìn nhận, hỗ trợ, cổ võ và khuyến khích các đoàn thể sống và phục vụ đúng vai trò của mình.
Tạo thuận lợi để các đoàn thể hoạt động trong sự hợp nhất với nhau, gắn liền với việc phát triển và phục vụ giáo xứ.
Có chương trình định kỳ gặp gỡ các đoàn thể trong giáo xứ. Giúp các đoàn thể hiểu được ý nghĩa và mục đích công việc phục vụ của họ để họ gắn kết và yêu quý chính đoàn thể của họ.
Giúp họ hiểu biết nhiều về đạo bằng việc mời gọi họ học hỏi Thánh Kinh, Giáo lý và phụng vụ, hoặc tổ chức hội thảo về những vấn đề liên quan.
Đối xử công bằng với hết mọi đoàn thể, yêu thương đồng đều với hết mọi thành viên trong hội đoàn.
Chỉ nên có mặt trong các cuộc bầu chọn lãnh đạo hội đoàn với tư các là người nói lên các nguyên tắc và tiêu chuẩn cũng như mục đích của bầu cử.
Tổ chức giao lưu giữa các hội đoàn qua những buổi trình diễn thánh ca, văn nghệ, thể thao, du lịch hoặc diễn đàn văn hóa...
Giúp các thành viên trong mỗi hội đoàn hiệp nhất và yêu thương nhau.
Luôn chú tâm củng cố những hội đoàn có sẵn và có thể thành lập thêm nếu cha xứ thấy cần. Luôn khích lệ, động viên và đồng hành cùng họ trong những sinh hoạt riêng của họ.
Giúp các thành viên trong đoàn hội sinh hoạt, học hỏi để đoàn hội thăng tiến, sống đạo và sống đời sống thân hữu thực sự.
Hướng họ tham gia các công việc từ thiện, bác ái xã hội nhằm giúp đỡ những người khó khăn, đau khổ.
Cộng tác với cha xứ làm thăng tiến phẩm giá và sứ vụ giáo dân, sẵn sàng lắng nghe họ, coi trọng những ước vọng của các đoàn thể.
Tôn trọng đoàn thể, nhất là những người đoàn trưởng. Nếu cần, có thể hướng dẫn, nâng đỡ nhưng rất cần sự khôn ngoan và tế nhị.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không nên đối xử phân biệt giữa các hội đoàn. Không nên gắn bó với những đoàn thể mà cha xứ không nhìn nhận.
Không qúi một đoàn thể nào đó cách đặc biệt lộ liễu, khiến bầu khí hợp nhất giữa các hội đoàn bị phá vỡ.
Không tiếc lời khen, cũng không vội chê trách các hội đoàn về những khuyết điểm của họ, cá nhân hay cả hội, nhưng cần góp ý nhỏ nhẹ.
Không cứng nhắc buộc các hội đoàn phải làm theo ý mình.
Không tương giao riêng tư với một thành viên nào trong hội đoàn, nếu không phải vì trách nhiệm và ích lợi cộng đoàn.
Không ngại khó khi phải giúp các hội đoàn hiệp nhất và yêu thương nhau.
Không can thiệp quá sâu vào nội bộ của hội đoàn, vào các cuộc bầu người lãnh trong hội đoàn tới mức các thành viên của hội ấy cảm thấy mình mất tự do bình bầu.
Không thành lập hội đoàn mà chưa có phép cha xứ. Không nhận giúp đỡ hay hướng dẫn trong mọi công tác sinh hoạt riêng của họ, khi không được sự đồng ý của cha xứ hay những vị hữu trách.
Không xen vào những chuyện nội bộ, nhất là trong công tác điều hành của họ. Không chỉ để ý hay chỉ quan tâm tới một số người để rồi gây sự chia rẽ trong đoàn thể.
Không nên để các đoàn hội quá chú trọng những hình thức bề ngoài mà xem thường đời sống nội tâm.
Không nên tạo ra những ganh đua, tranh dành ảnh hưởng, lấn át các tổ chức khác hoặc tìm cách cho đoàn hội của mình vượt trội.
12. TƯƠNG QUAN VỚI NHỮNG NGƯỜI GIÀ CẢ,
BỆNH TẬT VÀ HẤP HỐI
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Chuyên cần thăm viếng, ủi an, giúp họ hiểu được tình yêu vô tận của Chúa qua mầu nhiệm đau khổ.
Khích lệ họ tìm thấy sức mạnh và niềm hy vọng trong lời cầu nguyện và trong sự hiến dâng đau khổ để hiệp thông với cuộc thương khó của Đức Kitô.
Nhắc nhở cho họ rằng dưới ánh sáng Phục Sinh của Chúa Kitô, đau khổ và sự chết mang ý nghĩa chiến thắng cứu độ.
Cần chia sẻ ân cần cũng như nâng đỡ bằng lời cầu nguyện và công việc để giúp họ thắng vượt những khó khăn trong cuộc sống, những đau khổ thể xác, nhận thấy những giới hạn của con người, tránh đi những trường hợp cảm thấy cô đơn và bị bỏ rơi.
Cổ võ sự trọng kính các vị “kỳ lão” và những người già trong gia đình như “những nhân chứng của quá khứ và là người khơi sáng sự khôn ngoan cho giới trẻ hướng về tương lai”.
Luôn biết lắng nghe những chia sẻ, những câu chuyện quá khứ của người già. Tôn trọng ý kiến của người già.
Chuẩn bị cho họ những hành trang cần thiết trong buổi xế chiều để về với Chúa cách thảnh thơi. Nên dành thời gian thăm hỏi, động viên an ủi những khi họ đau ốm bệnh tật; hay những ngày lễ tết...
Cần quan tâm đặc biệt tới những người già cả cô thân cô thế, chia sẻ và thông cảm với những khó khăn vất vả cuộc sống.
Qúy trọng những kinh nghiệm và lòng mộ mến đạo đức bình dân; quan tâm thúc đẩy và hướng dẫn để họ có thể sống tốt hơn.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không chọn lựa phục vụ theo cảm tình riêng gia đình này hơn gia đình khác; không chọn làm khách danh dự trong các cuộc viếng thăm người bệnh.
Tránh những trường hợp không biết lắng nghe, không đặt mình vào địa vị và hoàn cảnh người nói chuyện, coi như mình biết hết rồi hoặc đã có câu trả lời.
Tránh tư tưởng loại trừ người già yếu, bệnh tật ra khỏi cuộc sống, và coi họ như món nợ quá khứ.
Tránh những tình cảm làm cho người già cảm thấy nghiệt ngã, cô đơn, không người chăm sóc.
Tránh phế bỏ những ý kiến, những thành tích của người già đã phấn đấu làm trong cả cuộc đời họ.
Không nên coi thường hay tỏ thái độ khinh khi đối với những người lớn tuổi. Không nên nói những lời thô lỗ hay xấc xược.
Không nói những lời bi quan hay những lời gây hoang mang cho người bệnh, lâm cơn hấp hối.
Tuyệt đối không mắng chửi hay nói xấu người già, người bệnh tật. Không được có những hành động hay cư xử thô lỗ, bất kính đối với những người già, người bệnh...
13. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC GÓA PHỤ,
NHẤT LÀ GÓA PHỤ TRẺ
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Cần có thái độ và tương quan trưởng thành, trong sáng và lành mạnh trong giao tiếp cũng như trong công việc. Cần dứt khoát ngay và xa tránh khi thấy có dấu hiệu không lành mạnh trong quan hệ.
Luôn sống trong sự khiêm tốn, biết giới hạn của mình. Khi có vấn đề, hãy giãi bày với cha linh hướng hoặc với anh em thân tín.
Phải cảnh giác và đề phòng, tránh những mối quan hệ làm ảnh hưởng đến đời sống bản thân mình, và những đối tượng mình quan hệ.
Giúp đỡ, nâng đỡ họ sống đúng bổn phận và ơn gọi. Phải tôn trọng họ - Nói năng phải ý tứ và cư xử có tư cách, đúng đắn.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Tránh sự tò mò, quan tâm quá giới hạn cho phép. Không nhận họ làm con hay em thiêng liêng. Tránh những tiếp xúc không bình thường và có thể làm giảm tự do thực sự của con tim.
Tránh tất cả những gì có thể gây nghi ngờ, làm xôn xao trong giáo dân và làm giảm uy tín của bản thân. Tránh gặp gỡ riêng tư lâu giờ trong nơi kín đáo, hoặc phòng riêng.
Tránh tặng quà, cùng những kỷ vật có liên quan đến cá nhân riêng tư. Tránh tạo những lầm tưởng về tình cảm.
Không nên quan tâm quá mức cho phép, mặc dầu đó là điều tốt trước mắt cho bản thân và cho họ.
Không nên quan tâm để trục lợi cho riêng mình như Chúa Giêsu đã cảnh báo “nuốt hết tài sản của các bà goá”.
Không được coi thường hay khinh rẻ họ trong cuộc sống cũng như trong các công việc của họ.
Không nên nói những lời bông đùa hay chọc ghẹo họ, nhất là những lời nói thuộc lãnh vực tình cảm, vì họ là những người rất nhậy cảm. Không nên có những cử chỉ hay cách cư xử suồng sã, mất tư cách.
14. TƯƠNG QUAN VỚI GIỚI TRẺ
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Thâm tín rằng giới trẻ là tài nguyên phong phú để xây dựng xã hội và Giáo Hội.
Quan tâm chăm sóc để huấn luyện họ thành những người nam và người nữ có phẩm cách nhân bản và Kitô giáo vững vàng.
Có thái độ đượm tình thương chân thành và tâm tình sẵn sàng phục vụ. Thiện cảm với những ước vọng, lý tưởng, quan điểm, vấn đề và hoạt động của họ.
Khích lệ và hướng dẫn giới trẻ để họ có khả năng nhận định có phê phán, nhờ đó họ có thể đương đầu với những tình huống khó xử.
Gần gũi giới trẻ để chỉ bảo và hướng dẫn họ tránh đi những “cạm bẫy”.
Giúp họ tự đào luyện trong bầu khí tin cậy, để họ có thể vượt qua những mâu thuẫn trong chính họ, tạo được những dự án tích cực cho cuộc sống và gắn bó dấn thân.
Sẵn sàng cho giới trẻ, cống hiến cho họ nhiều thời giờ, quan tâm và tình bạn. Quan tâm đặc biệt đến mục vụ giới trẻ ở cấp giáo xứ và giáo phận.
Giúp cộng đoàn tín hữu hiểu những nguyện vọng của giới trẻ và lưu tâm đến, trở nên chứng nhân cho giới trẻ về sự lương thiện trong đời sống nhân bản, và trung thực trong đức tin.
Giúp giới trẻ hoà nhập vào đời sống cộng đoàn, hiện diện sinh động và đóng góp năng động làm cho cộng đoàn trở nên đích thực là một cộng đoàn mang tính người và tính Kitô giáo.
Làm trung gian cho người trưởng thành và người trẻ liên kết chặt chẽ với nhau và trao đổi cho nhau những giá trị khác nhau, hầu xây dựng một cộng đoàn Kitô hữu đích thật và trọn vẹn.
Luôn tạo những sân chơi bổ ích cho giới trẻ. Tôn trọng họ - để họ phát huy sáng kiến trong những sinh hoạt đoàn thể.
Đồng hành với họ, yêu thương chăm sóc và đào tạo giáo dục giới trẻ về đời sống nhân bản, đức tin và luân lý để họ trở thành những người tín hữu thánh thiện, nhiệt thành sống đạo, thành những người công dân hữu ích cho xã hội và Giáo hội.
Động viên, hướng dẫn lòng hăng say của họ nhắm tới mục đích và lý tưởng cao thượng. Cuộc sống sẽ có ý nghĩa khi dấn thân phục vụ con người.
Tạo điều kiện cho giới trẻ hợp tác đóng góp vào sinh hoạt của giáo xứ, dấn thân hoạt động tông đồ.
Phải có đời sống đạo đức gương mẫu, nhất là đời sống cầu nguyện để nêu gương sáng cho giới trẻ.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Sống hòa đồng với giới trẻ mà không đồng hóa mình với họ. Không coi thường người trẻ trong hiện tại và trong tương lai của Giáo Hội.
Không ngại chia sẻ với họ những ước vọng và lý tưởng, cùng các quan điểm có giá trị, các vấn đề và hoạt động của họ.
Tránh đi sự thiếu hiểu biết về năng động tập thể. Nhưng phải quan tâm đặc biệt đến việc đào luyện các thủ lãnh điều khiển các nhóm trẻ.
Không để cho người trẻ tự phát triển trong bầu khí thuần giới trẻ, nhưng phải biết liên kết với toàn cộng đoàn Kitô hữu.
Tránh làm gương xấu cho người trẻ trong tư cách, lời ăn tiếng nói. Không làm cụt hứng những ý chí phấn đấu và sửa chữa của người trẻ. Tránh làm tan biến những ý chí, tâm hồn nhiệt huyết của người trẻ.
Không tạo những bầu khí không tốt cho người trẻ như tụ họp ăn nhậu, chơi bài, cãi vã vô bổ. Hoà đồng chứ không đồng hoá, tức là chia sẻ và thông cảm với họ nhưng tránh tất cả những gì không phù hợp với tư cách thầy xứ.
Không nên quá đua đòi hay chạy theo những kiểu cách của những người trẻ ngoài xã hội, như trang phục, đồ dùng hay vật dụng cá nhân, cách ăn uống hay vui chơi giải trí.
Không áp đặt tư tưởng, hành động theo một khuôn mẫu cổ điển lỗi thời, nhưng cũng không chạy theo đợt sóng mới đồi trụy.
15. TƯƠNG QUAN VỚI GIỚI THIẾU NHI
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Quy tụ các em thuộc độ tuổi thiếu nhi tương ứng với trình độ văn hoá phổ thông cấp I – II (tuổi ‘teen’), để phát triển và thăng tiến đức tin của các em trong đời sống của Giáo Hội giữa lòng thế giới hôm.
Giúp các em sống hiệp thông với Đức Kitô trong tất cả lời dạy và đời sống của Người, để nhờ ơn Chúa giúp, đức tin của các em được nuôi dưỡng và tăng trưởng mỗi ngày.
Việc dạy Giáo lý được canh tân và thích nghi phù hợp với lứa tuổi, trình độ và môi trường, để các em vừa nhận thức được nội dung giáo lý vừa canh tân đời sống liên kết mật thiết với Đức Kitô và hiệp thông với Giáo hội.
Dạy các em biết chăm chỉ học giáo lý, ngoan ngoãn và luôn vâng lời, trở nên thiếu nhi gương mẫu qua đời sống đạo đức, siêng năng đi lễ và rước lễ.
Khuyến khích các em hăng say làm chứng về Chúa cho bạn bè, như không nói tục, không đánh nhau, không gian dối ...
Nhắc các em tích cực tham gia các công việc từ thiện bác ái, và giúp đỡ cha mẹ công việc gia đình.
Cuộc sống của bản thân là mẫu gương lý tưởng cho các em noi theo. Yêu thương, tôn trọng các em, vì các em là hình ảnh của Chúa và là món quà Chúa gởi đến để ta phục vụ.
Luôn gần gũi, thân tình, niềm nở đón tiếp; chăm sóc, đào tạo, giáo dục các em.
Nơi các em đã sẵn những đức tính như đơn sơ, thật thà, khiêm tốn, dễ dạy…, phải nhằm khơi dậy và giúp các em phát triển các đức tính tốt đó.
Làm gương sáng trong lời ăn tiếng nói, cách cư xử, giao tiếp; đào tạo cho các em có nền tảng nhân bản, dấn thân phục vụ mọi người.
Giúp các em trở nên những tín hữu nhiệt thành, thánh thiện, hăng say sống đạo, đón nhận và sống các Bí tích sâu sắc; và cũng là những công dân tốt giữa xã hội.
Giúp các em hăng say học hỏi những điều thuộc niềm tin, giáo lý, Thánh kinh và đời sống luân lý trong Giáo Hội. Cũng khuyến khích trẻ trau dồi khả năng học vấn theo đà phát triển của xã hội; có tinh thần hoà đồng, làm việc tập thể.
Tâm hồn trẻ thơ như tờ giấy trắng, hãy vẽ vào tâm hồn các em “thần tượng” là Chúa Giêsu.
Hướng dẫn các em sống tình người, tình huynh đệ bạn bè, tình gia đình, tình yêu quê hương đất nước, tình nhân loại.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Trong công tác giáo dục, không nên nóng vội, phải biết kiên nhẫn. Không đòi hỏi khắt khe, coi các em như người đã trưởng thành.
Không xa cách các em, mà sống gần gũi yêu thương. Không nuông chiều các em quá. Không tạo cho các em tính tự phụ, cục bộ hay tự hào quá đáng.
Không nói xấu người khác trước mặt các em. Không chê bai em nào trước mặt tập thể. Không khen em nào trước những người khác, khi không cần thiết.
Không nên áp đặt trên các em theo kiểu trưởng giả, cha chú. Không bạo hành hay áp dụng hình thức kỷ luật mang tính nhục hình.
Không làm gương mù, gương xấu, ví dụ làm và dậy các em nói dối. Tránh nói năng cộc cằn thô lỗ thiếu văn hoá.
Không nói xấu người khác trước mặt các em. Không được có những hành động thô bạo hay mắng chửi: với chính các em hay với người khác trước mặt các em.
16. TƯƠNG QUAN VỚI NHỮNG NGƯỜI PHỤC VỤ
TRONG NHÀ XỨ, NHẤT LÀ CÔ BẾP
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Luôn tỏ thái độ biết ơn, tôn trọng, hoà nhã, vui vẻ. Luôn dùng những lời nói nhẹ nhàng. Góp ý cách chân thành, mang tính xây dựng.
Quan tâm đến sức khỏe và đời sống của họ. Động viên kịp thời và giúp đỡ họ khi cần.
Tạo điều kiện tốt cho họ để họ có thể an tâm phục vụ tốt những công việc nhà xứ. Nếu có thể được, trong những dịp đặc biệt, cộng tác với những người giúp việc trong công việc nhà xứ.
Cần thận trọng khi tiếp xúc, nhất là vấn đề mà biết là sẽ khiến nảy sinh tình cảm riêng tư.
Cần tôn trọng, yêu thương và nâng đỡ họ trong cuộc sống cũng như trong công việc.
Chăm lo đời sống vật chất cũng như tinh thần của họ. Luôn nghĩ tới đức công bằng: thù lao cần thiết để họ có phương tiện tối thiểu cho cuộc sống của họ và cho những người mà họ có trách nhiệm chăm sóc, để họ an tâm phục vụ.
Với người nữ giúp việc nên khôn ngoan và tỉnh thức trong cách nói năng, trong những cử chỉ giao tiếp. Ứng xử với họ như mẹ và chị em mình với tấm lòng trong sạch.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không khinh thường, nóng nảy, cáu gắt với những người phục vụ; tỏ thái độ kẻ cả, sai bảo, hạch sách, chỉ trích, trì chiết.
Không nên bày tỏ một sự quan tâm đặc biệt và sâu sắc quá mức. Không nên tiếp xúc lâu giờ và ở nơi kín đáo khi chỉ có hai người. Không nên nói và hành động gây gương mù gương xấu.
Không nên hành xử vượt quá chức năng của mình là một thầy xứ. Không nên có những lời nói hay hành động, cách cư xử thiếu trong sạch, thiếu sự đứng đắn.
Không nên để cô bếp xen vào những công việc quản trị và điều hành giáo xứ; tránh trao đổi bàn hỏi ý kiến về những công tác này.
Tâm sự, than thở về bệnh tình hay nỗi đau buồn để được cô bếp an ủi là điều nên tránh.
Không để cô bếp trở thành tờ báo sống đem chuyện thiên hạ vào nhà xứ hoặc chuyện nhà xứ ra ngoài, khiến ta phán đoán thiên lệch và phản ứng thiếu sáng suốt.
Đừng để thân nhân, người giúp việc, cô bếp lợi dụng, lộng hành làm cho giáo dân khó chịu với mình.
Không có lý do đặc biệt chính đáng, không nên để người nữ giúp việc và cô bếp vào phòng riêng của mình.
17. TƯƠNG QUAN VỚI CHÍNH QUYỀN
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Tôn trọng cởi mở và sẵn sàng đối thoại để hiểu biết nhau và cùng nhau cộng tác trong những công việc có liên quan đến đời sống chung của người dân.
Thỉnh thoảng thăm hỏi chính quyền, tích cực cộng tác với chính quyền trong các việc thúc đẩy sự phát triển tốt đẹp của đời sống xã hội và đẩy lùi những tiêu cực và những tệ nạn trong xã hội.
Khi có vấn đề gì có nguy hại đến đức tin và thiệt hại cho Giáo Hội, hãy trình bày với Bề trên để tìm cách khôn ngoan giải quyết.
Phải có thái độ tôn trọng những người lãnh đạo được nhân dân bầu chọn để lo việc chung. Luôn niềm nở, vui vẻ tiếp đón nhà chức trách địa phương khi họ đến thăm viếng nhà xứ hay trao đổi công tác.
Thân thiện đón nhận mặt tích cực mà chính quyền đề xướng. Cộng tác với chính quyền để lo cho công ích, nhất là các vấn đề an sinh xã hội nhằm thăng tiến con người: tìm công ăn việc làm cho dân, giáo dục thanh thiếu niên, đẩy lui các tệ nạn xã hội...
Viếng thăm xã giao các cấp chính quyền, nhất là chính quyền địa phương. Thăm hỏi động viên gia đình chức sắc địa phương dịp vui, buồn...
Cởi mở, đối thoại - lắng nghe và tìm hiểu những ưu tư của chính quyền. Nếu chính sách pháp luật hợp với luật Chúa, luật tự nhiên ta nên cùng họ hợp tác.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Tránh đối đầu, căng thẳng với chính quyền khi không cần thiết.
Tránh vội vàng nói, làm, quyết định điều gì làm thiệt hại cho đức tin, cho Giáo Hội.
Không cộng tác với chính quyền nếu biết chắc việc cộng tác đó làm thiệt hại cho Giáo Hội và cho đời sống của người dân.
Không luồn cúi để đạt được mục đích nào đó của riêng mình hay của giáo xứ, ngay cả của Giáo hội.
Không nên có thái độ nghi kỵ đối đầu. Tránh thái độ tự tôn, kỳ thị giai cấp, ý thức hệ hay đảng phái chính trị.
Không nói những lời thoá mạ mạt sát. Không hành động hay cư xử cách trịch thượng, thiếu tôn trọng.
Không nên có thái độ bất hợp tác trong bất cứ công tác nào do phía chính quyền đề xướng. Cũng không vì một vài quyền lợi mà nhượng bộ đến mức đánh mất căn tính của mình.
18. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC TÔN GIÁO BẠN,
NHẤT LÀ CÁC VỊ LÃNH ĐẠO
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Tôn trọng giá trị và niềm tin cũng như truyền thống của các tôn giáo khác.
Quan tâm thăm hỏi và chúc mừng tôn giáo bạn vào những dịp lễ hoặc những biến cố quan trọng. Luôn gây thiện cảm, thiết lập quan hệ và tình đoàn kết với các tôn giáo bạn.
Nhìn nhận và chấp nhận sự khác biệt của họ. Cộng tác với các tôn giáo bạn trong việc xây dựng công ích chung. Sẵn sàng đối thoại về mọi lãnh vực trên căn bản bình đẳng.
Cùng đối thoại để tìm ra những điểm gần gũi của tôn giáo bạn với tôn giáo của mình. Nhưng đối thoại trong tương quan bình đẳng và chân thành cởi mở.
Nên có thái độ hợp tác để cùng nhau phục vụ công ích, phục vụ con người và xã hội.
Tôn trọng niềm tin của họ, nhất là nơi các vị lãnh đạo của các tôn giáo bạn. Tạo nên những mối dây tương quan thân mật gần gũi.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không có thái độ khinh miệt, cho rằng chỉ đạo của mình là tốt, và hạ thấp tôn giáo bạn. Không xúc phạm đến niềm tin của các tôn giáo khác.
Không nói xấu hay chỉ trích cách sống, cách thờ phượng của các tôn giáo bạn. Không phủ nhận những gì là chân thật thánh thiện nơi các tôn giáo đó.
Không trình bày tôn giáo mình với ý định bắt người ta phải theo, trái lương tâm họ. Không nên có thái độ “quyền thế” để tìm cách khuất phục người khác.
Không nên bo bo khép kín trong chân lý của mình (khách quan cũng như chủ quan) để bắt người ta phải tuân phục chân lý đó.
Không được tỏ thái độ khinh thường, chê bai hay thoá mạ niềm tin của các tôn giáo bạn, hay xúc phạm tới niềm tin tôn giáo của người khác nói chung.
19. TƯƠNG QUAN VỚI LƯƠNG DÂN
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Sống chứng tá bằng đời sống bác ái, hiền hoà, cởi mở và yêu thương, sẵn sàng giúp đỡ mọi người. Quan tâm giúp đỡ, thăm hỏi động viên anh chị em không công giáo.
Tôn trọng phẩm giá và niềm tin của anh chị em không công giáo. Sẵn lòng cộng tác với họ trong việc xây dựng con người và xã hội.
Gần gũi và chia sẻ những gì mình có thể với những người không cùng tôn giáo, và niềm tin với mình. Sẵn lòng trả lời những thắc mắc về đạo một khi được hỏi.
Có những liên hệ thân tình và gần gũi với đồng bào lương dân trong địa bàn giáo xứ. Quan tâm tới những nhu cầu của họ.
Tôn trọng những phong tục tập quán tốt, nếu cần có thể tham gia cộng tác trong một số lãnh vực nào đó.
Thường xuyên thăm hỏi giúp đỡ mọi người trong phạm vi khả năng của mình, không phân biệt tôn giáo hay tín ngưỡng.
Phải hoà nhập với mọi người tại nơi mình giúp xứ, và phải nhập cuộc sống hài hoà với mọi người, mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi… Nói năng, cư xử và hành động giao tiếp hoà nhã lịch sự, nhất là tỏ thái độ tôn trọng.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Tránh nói hay làm gì có tính cách gây chia rẽ. Không gây gương mù gương xấu trong cách ăn nết ở.
Không phân biệt hay xa cách đối với lương dân. Không sống ích kỷ với họ, kỳ thị, phân biệt đối xử, kiêu căng trịch thượng với họ.
Không cư xử hay hành động bất công đối với bà con lương dân sống trong địa bàn giáo xứ.
20. TƯƠNG QUAN VỚI GIỚI GIÀU CÓ
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Yêu thương và cư xử với người giàu có cũng như mọi người. Thẳng thắn xin họ cộng tác và giúp đỡ khi nhu cầu mục vụ thực sự cần thiết.
Giúp họ cám ơn Chúa vì những gì đang có. Khích lệ họ làm việc bác ái, giúp đỡ người kém may mắn hơn mình.
Giúp họ có một tâm hồn bén nhạy trước những đau khổ của người xấu số, hăng hái tham gia chương trình từ thiện khi có dịp. Khuyến khích lòng quảng đại và tinh thần bác ái trong việc nâng đỡ những người kém may mắn hơn họ.
Tôn trọng yêu thương và nâng đỡ họ trong cuộc sống đức tin. Nói năng và cư xử lịch sử, hoà nhã. Sống thân tình và thăm hỏi động viên những khi cần thiết.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không tôn họ lên như một thần tượng. Không nói những điều có tính gợi ý xin xỏ.
Không thiên vị trong cách cư xử, nhất là trong vấn đề mục vụ; coi trọng họ hơn những người nghèo.
Không để mình bị lèo lái, chi phối bởi những ý kiến mà biết rõ rằng đằng sau đó là sức mạnh của vật chất. Không nên để bị chi phối hay lệ thuộc vào họ hay vào sự điều khiển của "đồng tiền."
Không đòi buộc họ phải giúp đỡ mình hay giáo xứ. Tránh những tương quan "trục lợi"; tránh nói những lời "vòi vĩnh." Đừng quá quỵ luỵ hay ham mê của cải của họ để rồi đánh mất nhân cách của mình.
21. TƯƠNG QUAN VỚI GIỚI NGHÈO
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Ý thức rằng người nghèo chính là đối tượng ưu tiên trong sứ vụ của Chúa Giêsu.
Tôn trọng và yêu thương họ như những người khác, vì ý thức rằng họ đều là con của cùng một Cha trên trời.
Sẵn sàng giúp đỡ khi họ có cần. Luôn cởi mở đón tiếp và dành thời gian cho họ, nghe họ tâm sự và chia sẻ.
Đi đến nhà thăm hỏi, nếu có thời gian. Có chương trình dành cho việc ủng hộ, giúp đỡ người nghèo, kể cả những người không thuộc địa phận mình coi sóc.
Quyết tâm sống vì người nghèo, cho người nghèo và sống thật là người nghèo. Phải đồng hành với những người nghèo và những người bị bỏ rơi.
Phải bác ái và quảng đại với những người nghèo khi họ đến với mình, không phân biệt tôn giáo.
Nên để ý giúp đỡ những bạn trẻ bất hạnh, không phân biệt lương giáo, giàu nghèo. Cư xử hoà nhã và vui vẻ - đón tiếp ân cần và chân thành.
Thăm viếng, động viên, an ủi và chia sẽ những khi có thể hay trong những dịp lễ tết. Tôn trọng phẩm giá và những giá trị cuộc sống của họ.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không coi thường những người nghèo, cũng như những người thấp cổ bé miệng. Không nói hay làm điều gì khiến họ bị tổn thương.
Không coi họ là những gánh nặng, là người thừa của xã hội. Không đẩy họ ra ngoài cộng đoàn của mình.
Không giúp đỡ họ như theo kiểu bố thí của kẻ trên đối với người dưới.
Không tỏ ra khó chịu khi họ đến làm phiền. Không để cho họ hiểu lầm rằng mình là người chỉ giúp vật chất cho họ.
Không tỏ thái độ khinh thường hay xa lánh những người nghèo, người kém may mắn trong xã hội nói chung, và trong giáo xứ nói riêng.
Đừng để tính thờ ơ hay vô tâm đối với những người nghèo khổ và những người bị bỏ rơi.
Không nên xua đuổi những người nghèo đến với mình.
Tránh những lời nói khinh khi xúc phạm tới những người nghèo. Tránh thái độ tự kiêu tự tôn để rồi coi thường họ. Không nên đưa cái tôi mình lên mà kiêu kỳ cấp bậc với những người khác.
NHỮNG TRÔNG ĐỢI
1. LINH MỤC TƯƠNG LAI TRÔNG ĐỢI…
a) Nơi Giám Mục và Linh mục đoàn
Cần có sự cảm thông, chia sẻ và nâng đỡ từ Đức Giám mục. Nhưng không nên kỳ vọng quá nhiều vào Ngài, đòi hỏi sự nâng đỡ đặt biệt hơn anh em linh mục khác.
Cần có tình hiệp thông liên đới trong linh mục đoàn. Cùng cộng tác trong mục vụ, chia sẻ và nâng đỡ giữa anh em linh mục. Mong sự cộng tác và nâng đỡ, hiểu biết lẫn nhau, cùng nhau hướng tới vinh danh Thiên Chúa.
b) Nơi bản thân mỗi linh mục
Mong chính bản thân linh mục luôn biết hướng tới Chúa là trung tâm và cùng đích của đời sống linh mục của mình. Cần ơn Chúa giúp phát triển đời sống thiêng liêng, gắn bó mật thiết với Thiên Chúa tình yêu, sống hiền hoà với mọi người theo gương Chúa Kitô là Mục Tử nhân lành.
Không nên thần thánh hoá đời sống Linh mục, để đòi hỏi sự phục vụ, trọng vọng nơi giáo dân và tìm vinh danh cho mình. Không quan cách trong giao tiếp, coi khinh người khác, độc tài trong khi làm việc. Không được coi mình là người biết mọi thứ mà không chịu học hỏi. Không kiêu căng, tự phụ.
Mong dành nhiều thời giờ hơn cho việc giảng dạy giáo lý và soạn bài giảng lễ. Luôn cập nhật và tự trau dồi thêm kiến thức đạo đời để tiến kịp với thời đại, nếu không sẽ trở nên lạc hậu đối với giáo dân.
c) Nơi cha xứ
Mong cha xứ luôn hết lòng vì giáo dân, chu toàn bổn phận của mình, nhất là việc cử hành các bí tích. Mong cha xứ sống chan hoà, chịu khó tiếp khách, ghi nhận những tâm tình, tiếp thu ý kiến của giáo dân…
Mong cha xứ không co cụm chỉ biết mỗi xứ mình: Một mình một kiểu, không giống ai, không chơi với ai; phân bì, so sánh, khích bác, nói xấu cha xứ cũng như giáo dân các xứ lân cận.
Mong cha xứ không tự ti về những yếu kém của mình, dù Chúa ban cho một nén cũng hãy cố gắng làm lợi cho Chúa một nén.
Mong cha xứ không bỏ xứ đi quá nhiều, khổ cho dân, tạo vất vả cho các cha khác. Hoặc nghĩ mình chuẩn bị chuyển xứ rồi không làm gì cả hay làm qua loa cho xong …
Mong anh em linh mục cùng là cha sở cộng tác làm việc chung với nhau, thường xuyên giúp đỡ, ủi an, thăm viếng, tạo uy tín và giữ uy tín cho nhau.
d) Nơi Cha phó
Mong cha phó ý thức rõ quyền hạn và nghĩa vụ của mình, làm mọi việc mà cha xứ nhờ hay uỷ quyền và làm tốt nhất những gì có thể.
Mong cha phó năng động, cộng tác, chia sẻ gánh nặng mục vụ với cha xứ trong mọi lãnh vực; cảm thông, tha thứ những khiếm khuyết, yếu kém của cha xứ và giúp đỡ cha xứ chu toàn sứ vụ…
Mong cha phó coi cha xứ như người anh, tế nhị, tôn trọng, để cùng nhau phục vụ trong yêu thương.
Mong cha phó không vượt mặt, coi thường, hay chống đối cha xứ; gây áp lực, bất cộng tác, kết bè kết cánh, gây chia rẽ, phá rối cộng đoàn, chiến tranh lạnh với cha xứ, gây gương mù gương xấu.
Mong cha phó không ù lỳ, lười biếng, chỉ làm lễ lấy tiền, còn mọi việc mặc kệ; coi cha xứ là ông chủ còn mình là nô lệ. Trái lại, hãy mặc lấy tâm tình phục vụ như Chúa Kitô.
e) Nơi Thầy Xứ
Mong Thầy xứ ý thức mình chỉ là người cộng tác, cố gắng giúp cha xứ cách tốt nhất trong các lãnh vực ca đoàn, giáo lý, phụng vụ.
Mong thầy xứ làm mọi việc có sự đồng thuận của cha xứ; không làm gì theo ý mình, ngược với ý cha xứ.
Mong thầy xứ sống cởi mở, hoà nhã, lịch sự với hết mọi người; nhiệt tình và trách nhiệm với công việc, chứ không lười biếng công việc mà chỉ lo tìm kiếm các mối quan hệ tiền bạc.
Mong thầy xứ không ngông cuồng coi mình là giỏi, là hiểu biết rồi không coi ai ra gì. Ai mời đi ăn cũng đi, rồi rượu chè say sưa 100%, tiếng tốt thì ít, tiếng xấu thì nhiều.
Mong các tu sĩ cũng tương tự như thầy xứ vậy.
f) Nơi Giáo dân
Trông đợi sự cộng tác đặc biệt từ phía ban thường trực hội đồng giáo sứ, cùng bàn hỏi và tìm ra phương hướng chung, hiệu quả trong việc phát triển giáo xứ để các hội đoàn cùng hiệp nhất phát triển đức tin.
Mong giáo dân cầu nguyện cho cha xứ và nâng đỡ cha xứ về vật chất cũng như tinh thần.
Mong giáo dân yêu thương, tôn trọng cha xứ như người cha tinh thần mà Chúa gửi đến cho giáo xứ và giúp cha để cha thi hành tác vụ cách tốt nhất.
Mong giáo dân tha thứ cho cha xứ về những yếu kém, thiếu sót, lỗi lầm… và góp ý cho cha xứ về những gì cha xứ không chuyên môn, những mặt trái mà cha xứ không biết …
Mong giáo dân cộng tác với cha xứ trong những công việc chung, trong việc lãnh đạo cộng đoàn, xây dựng đoàn hội, cơ sở vật chất của giáo xứ … Đoàn kết, một lòng, luôn là những cánh tay cùng với cha xứ xây dựng giáo xứ, thăng tiến giáo xứ về mọi mặt.
Mong giáo dân không lỗi đức bác ái: chửi bới, nói xấu, nói hành, vu cáo, kiện tụng, bôi nhọ cha xứ. Coi cha như người xa lạ, rồi ác cảm, tránh mặt, không gặp, không đối thoại, không cộng tác.
Mong giáo dân không tìm cách ảnh hưởng lên cha xứ, cố gắng làm được một chức gì đó trong xứ rồi ỷ thế làm càn, mang tiếng cho cha xứ, gây gương mù.
Mong giáo dân không vay mượn tiền bạc cũng như vật dụng của cha xứ, vì vay mượn thì dễ mà trả thí khó, sinh ra nhiều phiền phức; cũng đừng lừa dối cha xứ về tình, tiền, quyền.
Mong giáo dân không bè phái, cực đoan dòng họ, làm việc thì ít mà bàn mưu tính kế hại nhau, làm mất mặt, mất thể diện của nhau thì nhiều…
g) Nơi Chính quyền
Mong Chính quyền tôn trọng, và tạo điều kiện để giáo dân thi hành bổn phận tôn giáo của mình. Đồng thời tạo sự đoàn kết, thông thoáng hơn trong các vấn đề xã hội, để giáo dân có thể tham gia nhiều hơn trong việc đóng góp xây dựng đất nước.
Mong Chính quyền để giáo dân được tham gia nhiều hơn trong các lĩnh vực: y tế, giáo dục, bác ái xã hội. Thay đổi những chính sách, hay thái độ cư xử kỳ thị, thù nghịch, không công bằng; không làm gì cách áp chế, khiến người dân có ác cảm với chính quyền.
2. GIÁO DÂN TRÔNG ĐỢI LINH MỤC
a) Trong tương quan với giáo dân
Giáo dân Việt Nam rất quí trọng linh mục. Lòng quí trọng này vừa là một lợi điểm lại vừa là một nguy cơ. Là lợi điểm vì giúp cho linh mục cảm thấy mình cần thiết và có ích, ít cảm thấy bị cô đơn. Là nguy cơ, vì lòng quí trọng ấy có thể làm cớ cho linh mục ỷ y mà tôn mình lên, coi thường thiên hạ, cho mình có quyền ăn trên ngồi trước, hách dịch, quan liêu.
Phải coi lòng quí trọng này là một ơn riêng Chúa dành cho hàng ngũ linh mục Việt Nam, để nhờ đó các vị được an vui và phấn khởi trong chức vụ chứ không phải ngược lại.
b) Trong căn tính linh mục
Giáo dân được nghe nói linh mục là một Đức Kitô khác. Chức linh mục được đề cao và do sự đề cao quá đáng quyền chức này mà linh mục dễ bị cám dỗ tôn mình lên, nhất là trong ngày chịu chức, khi người ta đến xin phép lành đầu tay hay ngỏ lời chúc mừng. Đây là một cử chỉ đầy lòng tin và sự khiêm nhường. Chớ gì tân linh mục xúc động mà tăng thêm lòng tạ ơn Chúa.
Giáo dân muốn linh mục nên giống Chúa Giêsu về lòng nhân ái và tinh thần phục vụ. Chúa Giêsu luôn gần gũi tiếp xúc với người ta và tìm cách làm ơn cho họ. Giáo dân cũng đợi chờ nơi linh mục đức tính này là dễ gặp, dễ nhờ. Vì đức tính này mà linh mục được định nghĩa rất sâu sắc và thâm thuý là con người “bị ăn” (Le prêtre est un homme mangé).
Nhiều linh mục ngày nay dành nhiều thời giờ cho mình mà ít cho giáo dân. Có linh mục làm lễ sáng xong là rút lui lên lầu, suốt ngày sống với máy vi tính và các thứ máy móc khác, hoặc đi vắng không mấy khi có mặt ở nhà, mọi việc giao cho thầy xứ, dì xứ hay Ban hành giáo, khiến cho giáo dân nhiều người cần gặp mà không gặp được. Có những cha sở tuy gặp được, nhưng giáo dân rất sợ tính lạnh lùng và hay bẳn gắt của cha. Vì thế, giáo dân mong linh mục hoạ lại hình ảnh Chúa Giêsu trong cách hành xử, nói năng và tiếp xúc.
Đức Giáo hoàng Grêgoriô Cả than phiền là có nhiều linh mục, nhưng rất ít linh mục chịu làm việc theo chức năng của mình hay có làm thì lại làm những việc ở bên ngoài chứ không phải việc bên trong. Việc chính yếu của linh mục là rao giảng lời Chúa, cử hành bí tích, giáo dục đức tin và lo phần rỗi cho các tín hữu. Những việc này phải làm trước rồi mới đến những việc khác như xây cất, mở mang cơ sở, hoạt động xã hội, phát triển dân sinh v.v…
Ở Việt Nam, cha sở có một vị trí xã hội tốt, nói thì dân dễ nghe và người ta cũng hay nhờ thế cha sở để làm công kia việc nọ. Vì thế, cha sở cũng dễ bị cám dỗ trở thành một nhân vật ngoài đời để có thế ăn nói với người ta. Điều này có thể đưa linh mục đi ra khỏi phạm vi chức vụ chính thức của mình. Linh mục phải coi chừng với tính thích làm quan tự nhiên của mình mà luôn nhớ rằng linh mục chính yếu là người phục vụ Chúa và Tin Mừng của Người.
Linh mục không chỉ biết có phòng thánh, nhà thờ và nhà xứ, mà cũng không ham mê lo những công việc bên ngoài. Phải theo bậc thang giá trị mà dành ưu tiên cho những việc thuộc bổn phận linh mục: làm lễ, giải tội, giảng thuyết, đi kẻ liệt, thăm viếng người nghèo khổ, ốm đau bệnh tật. Một linh mục làm đầy đủ bổn phận của mình thì chẳng còn thời giờ rảnh rỗi bao nhiêu; mà nếu có rảnh rỗi thì cũng nên dành thời giờ để học hành đọc sách vở thêm.
c) Trong đời sống tri thức
Làm linh mục rồi nhưng vẫn còn phải học, phải viết bài giảng và giảng thế nào cho người ta nghe được. Thường sau khi làm linh mục rồi, ít vị còn thích hay tiếp tục làm việc tinh thần. Vì vậy, giáo dân mong linh mục dành giờ làm việc tinh thần mỗi ngày: soạn bài giảng không dài quá, không chạy theo thời sự nhưng chú trọng vào sứ điệp lời Chúa, không khuyên lơn hời hợt nhưng mở lối cho những áp dụng thiết thực, không chiều theo thị hiếu người nghe mà chú tâm vào việc giáo dục đức tin và đem lại cho người ta một cái gì có chất lượng.
Dân chúng hôm nay thích sự hào nhoáng và hình thức bên ngoài; thích vui, thích dễ, thích ồn ào. Linh mục phải giữ chừng mực; nếu chiều theo khuynh hướng này thì linh mục cũng dễ trở thành hời hợt nông cạn.
d) Trong tác phong linh mục
Giáo dân muốn linh mục có tác phong thích đáng trong cách ăn mặc, nói năng, cư xử. Ăn mặc như người ta có cái lợi là dễ hoà đồng, thoải mái, nhưng có cái bất lợi là có thể làm cho linh mục quên căn tính của mình mà không còn giữ gìn hay ít giữ gìn trong lời ăn tiếng nói, trong cách ăn mặc và cư xử với người ta nữa. Vì vậy, tuy ăn mặc như người đời, nhưng linh mục vẫn phải giữ cho mình cái cốt cách là linh mục: đơn sơ xứng đáng với con người được học hành, có chữ nghĩa và có văn hoá, không chải chuốt quá đáng mà cũng không lôi thôi, bừa bãi trong cách ăn mặc, lối nói năng, chứ không áo quần luộm thuộm, đầu tóc bù xù, nói năng bừa bãi. Có dư luận nhiều linh mục trẻ sau 1975 thiếu nhân bản trong cách hành xử, đáng cho các linh mục lưu ý vì có liên quan đến ảnh hưởng và uy tín của các vị trong vấn đề làm chứng cho Chúa và cho đạo.
Thận trọng trong vấn đề vật chất: tiền bạc, của cải, đất đai nhà ở, đồ dùng cá nhân. Giáo dân rất để ý. Họ thích những linh mục không lo làm giầu hay tìm kiếm của cải vật chất cho mình hoặc bà con họ hàng. Họ nể trọng những linh mục sống đơn sơ giản dị, không xa hoa trong cách ăn mặc và biết sử dụng tiền bạc cách đích đáng.
e) Trong các tương quan
Một trong những lý do khiến ít người theo đạo, dù đạo có tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh, nhà thờ đẹp đẽ, nhiều cơ sở to lớn và các lễ nghi rất tưng bừng lôi cuốn, đó là tại giới linh mục xa cách dân chúng. Do đó, linh mục phải để ý hơn đến những nghèo và ít học, chứ không chỉ chơi với người giầu có và học thức.
Giáo dân mong muốn thấy cha sở và cha phó sống gắn bó thân tình, đồng tâm nhất trí với nhau trong công tác mục vụ và hướng dẫn cộng đoàn. Gương sống thân mật, kính trọng, yêu thương và nhường nhịn nhau giữa các vị mục tử là yếu tố có sức thuyết phục nhất đối với cộng đoàn dân Chúa.
Họ mong linh mục bén nhạy với mọi diễn biến đổi thay của tình hình xã hội để có những kế sách và phương án uyển chuyển, thích nghi năng động và cảm thông sâu sắc những khó khăn trong việc sống đạo của người tín hữu. Mong các ngài nhiệt thành việc tông đồ và vui vẻ hoà nhã, tậm tâm phục vụ như người cha, người anh và là trụ cột vững vàng trong đại gia đình giáo xứ giữa những biến động phức tạp của xã hội hôm nay.
3. Kết luận
Chớ gì mỗi người theo đuổi cho đến cùng những ước mơ và dự phóng tương lai của mình. Xin Chúa tiếp tục cho đến hoàn thành tốt đẹp những gì Ngài đã khởi sự với chúng ta và cho chúng ta.
[1] MP. Trần Minh Huy, Đào tạo và tự đào tạo thiêng liêng… tr.283-291.
[2] Vaticanô II, Vui Mừng và Hy Vọng, 7/12/1965, số 1.
[3] Phụ Lục: Thủ dâm trẻ nít và tuổi dậy thì.
[4] JP II, Tông huấn Ecclesia in Asia số 30.
[5] Thư HĐGMVN ngày 8/10/2008 gửi Cộng đồng Dân Chúa tại Việt Nam ký bởi Chủ tịch HĐGMVN và đại diện ba giáo tỉnh.
[6] JP II, Tông huấn Ecclesia in Asia số 48.
[7] HĐGMVN, Quan điểm về một số vấn đề trong hoàn cảnh hiện nay, I,2 và II,2, ngày 25/9/2008)
[8] JP II, Tông huấn Ecclesia in Asia số 48.
[9] Vaticanô II, Hiến chế Mục vụ Vui Mừng và Hy vọng, số 1.
[10] JP II, Tông huấn Ecclesia in Asia số 15.
[11] JP II, Tông huấn Ecclesia in Asia số 41.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Người sống đời độc thân thánh hiến có thể có tình bạn khác giới không?
Nếu Chúa Kitô, trong nhân tính của Ngài, đã làm bạn với phụ nữ để lôi kéo họ tới thiên tính của Ngài, thì tình bạn giữa người nam và nữ sống đời độc thân thánh hiến đã được Thiên Chúa phê chuẩn. Và Chúa Giêsu trở thành mẫu gương hoàn hảo của tình bạn khác giới của người sống đời độc thân thánh hiến.
Mẫu gương sống động về tình bạn của Chúa Giêsu với phụ nữ có căn bản Thánh Kinh cho loại liên hệ này trong cuộc đời con người. Cha Felix M. Padimatham nói rằng Chúa Giêsu trở thành mẫu gương hoàn hảo của tình bạn khác tính luyến ái. Ngài cũng chỉ ra nhiều mẫu gương các Thánh và Chân Phước đã có loại tình bạn này trong cuộc đời các ngài, như:
- thánh Hiêrônimô và bà quả phụ Paula,
- thánh Gioan Kim Khẩu và nữ trợ tế Olympias,
- thánh Phanxicô Assisi và thánh nữ Clara,
- thánh nữ Catarina Siena và Chân Phước Raymon Capua,
- thánh nữ Têrêsa Avila và thánh Gioan Thánh Giá, v.v…
Và mẫu gương của Chúa Giêsu vẫn còn có giá trị cho những người theo Ngài, trong tất cả mọi chiều kích nhân bản và thiêng liêng của đời sống ơn gọi và sứ vụ.
Rõ ràng, sự yếu đuối và những nguy hiểm đã không đe dọa Chúa Giêsu, nhưng có thể đe dọa những người nam và người nữ sống đời thánh hiến trong những liên hệ như vậy. Do đó, chúng ta phải biết cân nhắc các giới hạn cần thiết.
Chúng ta đừng bao giờ quên rằng mọi thân xác đều mang giới tính và bất cứ tương quan nam nữ nào cũng có yếu tố phái tính (“trai khôn không ở với mạ, má khôn không ở với trưa”).
Vì thế, quà tặng độc thân thánh hiến có thể bị nguy hiểm, nhất là trong quan hệ độc hữu, khi mà một người nam đơn độc ở với một người nữ đơn độc (solus cum sola) lâu giờ trong một nơi kín đáo cửa khóa chặt, chẳng ai biết và trông thấy, mà không có bất cứ khoảng cách nào, cùng với những biên giới cần thiết về thể lý, tâm lý và thiêng liêng, nhất là ý thức về sự hiện diện thường hằng của Chúa (x. Câu chuyện “Một nơi kín đáo không ai thấy”).
Người độc thân thánh hiến không có sự quân bình tự nhiên của người sống đời đôi bạn, nên phải thiết lập cho được và sống thế quân bình siêu nhiên bằng đời sống cầu nguyện, mật thiết với Chúa, đời sống huynh đệ, tận tụy với sứ vụ, cảnh giác toàn bộ cách ứng xử và cảm xúc của mình, ý thức rằng mình “gìn giữ kho tàng ấy trong những chiếc bình sành” dễ vỡ (2 Cor 4,7).
Sự thiếu quân bình trong đời sống và sứ vụ cộng với những khó khăn, thử thách đau khổ, yếu đuối nhân loại bên trong và cám dỗ lôi cuốn từ bên ngoài, khiến người ta có khi đi tìm lại sự quân bình tự nhiên kia mà vấp ngã.
Kinh nghiệm cho thấy những linh mục, tu sĩ bỏ đời sống cầu nguyện, thiếu tình huynh đệ cộng đoàn và bỏ bê bổn phận sớm muộn gì cũng sẽ sa ngã, bỏ cuộc. Vì thế, chúng ta được thúc đẩy thiết lập mối tương quan trưởng thành, lành mạnh, hài hòa và quân bình giữa cả hai phái. Người ta nên tốt hay không đều do các mối tương quan của họ.
TÌNH HUYNH ĐỆ
Tình anh em sẽ là:
một sự đoàn kết bên nhau để cùng tiến bước,
một cuộc đối thoại thường xuyên trong cuộc sống đa nguyên đa diện,
một cuộc gặp gỡ cởi mở hơn cho cuộc hành trình đầy gian khó và nguy hiểm,
một sự có mặt khích lệ hay một nâng đỡ hỗ trợ tinh thần,
một lời vui, một tiếng cười thanh thỏa cùng chia sẻ tình thương dâng lên vời vợi,
một cái nhìn cảm thông khi vướng trở ngại, hay khi bị thất bại chua cay,
một “tôi khác” để mỗi người có dịp phản tỉnh nhìn lại bộ mặt của mình, có khi đã hoen ố bụi đời,
một bạn đồng hành để con đường thập giá bớt nỗi đơn côi,
một Simong vác đỡ hay một Vêrônica lau mặt,
một cái gì khỏa lấp chỗ trống vắng tình thương sau tình yêu Thầy Chí Thánh,
một hiện diện và hiện thân của Thiên Chúa cao xa vô hình.
Mỗi người chúng ta trước hết hãy là người bạn như thế cho kẻ khác.
(slideshow TÌNH BẠN LÀ GÌ?)
II. CÁC MỐI TƯƠNG QUAN CỦA LINH MỤC VỚI NGƯỜI NỮ[1]
1. Linh Mục Tương Quan với Phụ Nữ: Trợ Lực hay là Vấn Đề cho Cuộc Sống và Sứ Vụ?
Theo sách Sáng Thế (St 2, 18-24) và theo quan niệm Á Đông về Âm-Dương, người nam và người nữ rất gắn bó nhau, hấp dẫn nhau và bổ túc cho nhau. Người nam không thể là một con người nếu không có người nữ và ngược lại. Điều này đã khởi sự ở trong gia đình và ngay từ thời niên thiếu: người nam và người nữ bổ túc cho nhau, và sự sống, cả nhân bản và thiêng liêng, vẫn tiếp tục trải ra và phát triển.
Sự việc cũng như thế với các linh mục và phụ nữ, nữ tu hay nữ giáo dân. Trong những mối tương quan này, có nhiều phương diện của cuộc sống thật ý nghĩa và đẹp đẽ và có nhiều công việc thật tuyệt vời. Tuy nhiên, họ không luôn luôn là trợ lực, nhưng lắm khi cũng là vấn đề và sa lầy không lối thoát cho một số linh mục.
Mọi thân xác đều mang giới tính. Quà tặng độc thân của linh mục có thể bị nguy hiểm, nhất là khi một người nam đơn độc ở với một người nữ đơn độc lâu giờ trong một nơi cửa khóa chặt, mà không có bất cứ khoảng cách nào, cùng với những biên giới cần thiết về thể lý, tâm lý và thiêng liêng. Và, vì một người đàn bà, một số linh mục đã từ bỏ thừa tác vụ, nhất là trong bối cảnh hiện nay của nền văn minh lấy cái tôi làm trọng tâm, vật chất, hưởng thụ, khoái lạc, phim con heo và nhục dục.
Vì thế, đời sống độc thân linh mục cần được bảo vệ cách ý thức bằng việc đặc biệt giữ cảnh giác cảm xúc và toàn bộ cách cư xử của mình, với ý thức rằng “chúng ta gìn giữ kho tàng ấy trong những chiếc bình sành” dễ vở (2 Cor 4,7). “Cách thực tế, một lối sống phù hợp với chức linh mục không thể được phát triển, nếu chủng sinh dấn thân vào một mối quan hệ độc hữu với một phụ nữ.”
Do hoàn cảnh cuộc sống, nhất là học hành từ nhiều thập niên qua trong các trường đời, vì trường đạo không được phép tồn tại, bên cạnh các bạn đồng giới, các ứng sinh linh mục có nhiều bạn là con gái từ nhà trẻ, mẫu giáo, lên bậc tiểu học, rồi trung học, cao đẳng, đại học, cũng như trong các sinh hoạt xã hội và ngành nghề; thậm chí có một số ứng sinh không chỉ có bạn là con gái, mà là «bạn gái» nữa.
Đối diện với những vấn đề này, các ứng sinh được thúc đẩy thiết lập một mối tương quan trưởng thành, lành mạnh, hài hoà và quân bình giữa cả hai phái. Các ứng sinh có thể tự hỏi về quan niệm của mình đối với người khác phái, về cách quan hệ với họ và về những ảnh hưởng hổ tương? Có mối quan hệ riêng biệt nào không? Đâu là nguyên nhân của mối quan hệ này? Có cảm nhận gì hay triệu chứng nào đáng nghi không?
2. Tương quan của Linh Mục với Nữ Tu:
Phải Khôn Ngoan và Tỉnh Thức
Linh mục hãy giữ trong trí óc và tâm hồn sự lệ thuộc của chính mình, cũng như sự lệ thuộc của các nữ tu đối với Chúa, và luôn ý thức phải “trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa” (x. Mc 12,17): Cái đã cho rồi, không lấy lại mà cho người khác!
Do lý tưởng hiến dâng và môi trường mục vụ chung, linh mục và nữ tu có thể có mối tương quan thân mật, bằng sự cởi mở tâm sự cho nhau, bằng sự hiểu nhau và chia sẻ sứ vụ, những thành công cũng như những khó khăn thất bại, tin tưởng nhau, cảm thông nhau, dịu dàng và ân cần chăm sóc nhau.
Cũng trong tinh thần này, phải kể đến những người nữ cùng làm việc tông đồ với linh mục trong các đoàn hội, hay ân nhân, bảo trợ, mạnh thường quân: “Em ngồi em kể công ơn, bạc vàng nặng ít nghĩa nhơn nặng nhiều.” Không ai cho cái gì mà cho không cả, và nhiều khi ÂN đòi được trả bằng TÌNH !
Chính từ sự thân mật này, một cảm nhận “yêu thương” có thể dễ dàng phát sinh và phát triển, rồi tình trạng có thể trở nên nguy hiểm hơn, với những hình thức được bộc lộ ra theo tiến trình: muốn chiếm hữu - ghen tuông - và muốn độc quyền.
Linh mục đừng quên lời khuyên của Chúa Giêsu (x. Mt 26,41; Mc 14,38): là những con người thánh hiến, nhưng linh mục vẫn không thôi là những con người với những yếu đuối nhân loại. Thánh Phaolô chia sẻ: “Có ai trong anh em yếu đuối mà tôi không cảm thấy yếu đuối, có ai trong anh chị em sa ngã mà tôi không cảm thấy như thiêu như đốt?”
Linh mục cũng phải ý thức rằng sự thân mật là nhu cầu của con người, nhưng sự thân mật trong đời sống độc thân thánh hiến không cần (và không được) biểu lộ có tính cách thể lý phái tính, cùng với hoạt động truyền sinh.
Sự thân mật độc thân thánh hiến có mức độ thích hợp của nó. Chính mức độ riêng biệt này cung ứng cho linh mục đủ tự do để yêu thương mọi người và không vượt qua các giới hạn.
Linh mục hãy khuôn đúc các mối tương quan nam nữ của mình theo gương mẫu đời sống của Chúa Ba Ngôi và kêu xin ơn can đảm để thăng tiến, vượt thắng và thánh hoá “tiếng gọi nhân loại” này, ngõ hầu giúp nhau sống và chu toàn những gì đã cam kết trong ơn gọi và sứ vụ của mỗi người, vì tình yêu nhiều khi không có tuổi và giờ hẹn:
Chúa đã gọi cha,
Chúa đã gọi con.
Chúa đã gọi, sao còn một tiếng gọi?
Trong trường hợp ấy, linh mục phải biết tôn trọng: nơi chốn - thời gian - thời lượng - khoảng cách và giới hạn cần thiết, về thể lý cũng như tâm lý, của các cuộc gặp gỡ. Có thế mới mong:
Lòng như lòng can đảm dẹp mến thương,
Vâng tiếng Chúa, sống cho tròn sứ mệnh.
Linh mục phải rõ ràng và thành thật với chính mình, với người khác và với Chúa, bởi vì lắm khi sự “hẹn hò yêu thương ấy” thường được che giấu dưới những cớ hợp pháp và chính đáng của các công tác và hoạt động mục vụ, nhưng “thực tế đó là những nghiêng chiều nguy hiểm của con tim.” Và chớ gì đừng vì thế mà dại dột can thiệp giữ lại hay cản trở việc thuyên chuyển chính đáng của Nhà Dòng.
“Đức Giê-su quay lại bảo ông Phê-rô: "Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Con làm cớ cho Thầy vấp phạm, vì con không nghĩ đến việc của Thiên Chúa, mà chỉ nghĩ đến việc của loài người” (Mt 16,23). Mỗi linh mục hãy nhớ rằng mình không thôi là con người: Chúng ta có thể làm cớ cho người khác vấp phạm, và người khác cũng có thể làm cớ cho chúng ta vấp phạm: “Tại cả anh, tại cả ả, tại cả và hai!”
Trong hoàn cảnh tế nhị này, sự hiện diện yêu thương và đời sống huynh đệ cộng đoàn sẽ mang lại sự trợ giúp cần thiết. Nhờ tình bạn dâng hiến và nhiệt tình, mỗi người có thể là sự trợ giúp lớn lao cho người khác, trong việc soi sáng và khích lệ lẫn nhau, khi phải chịu đựng những hoàn cảnh nguy hại khác nhau, cũng như sự lây nhiễm một thứ tinh thần thế tục nào đó.
Hơn nữa, linh mục cũng đừng cả dám tự phụ quên đi cái nghịch lý mà thánh Phaolô đã trăn trở: «có những điều tốt tôi muốn làm thì tôi lại không làm được, và có những điều xấu tôi không muốn làm thì tôi lại làm !»
Linh mục không được quên nhu cầu cầu nguyện, khổ chế, ăn chay và chiêm niệm: “Người ta không thể đi theo con đường khó nếu không có một thứ khổ chế đặc biệt.” Chúa Giêsu tha thiết cầu nguyện với Chúa Cha cho linh mục: “Con không còn ở trong thế gian nữa, nhưng họ còn ở trong thế gian... Con không xin Cha cất họ ra khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian. Xin Cha lấy sự thật mà thánh hóa họ. Lời Cha là sự thật. Như Cha đã sai con đến thế gian thì con cũng sai họ đến thế gian. Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật họ cũng được thánh hiến” (Ga 17,11,15-19)
Mặc trần thế ngày ngày giăng cạm bẫy
Đây một lòng xin tuân phục ý Cha
Đã tốn công gieo rắc chẳng nề hà
Hương ngào ngạt Chúa Kitô khắp cõi.
Bắt thân xác phải hy sinh đền tội
Lấy lời kinh mà nuôi dưỡng tâm thần
Những coi thường các lợi lộc phù vân
Tìm ân thưởng phúc trường sinh chân thật.
Thánh Thi Kinh Sáng Lễ Chung Thánh Nữ
Cho tấc dạ trinh bạch như tuyết trắng
Mãi can trường trong thử thách đau thương
Khi tiết độ, khi cầu kinh nguyện ngắm
Vững tâm theo đường đạo lý luân thường
Thánh Thi Kinh Sáng Thứ Tư Tuần IV
Nhưng trên hết, mỗi người phải tin rằng tình yêu của Thiên Chúa lớn hơn tình yêu nhân loại (một tình yêu lớn hơn vượt thắng tình yêu nhỏ hơn và những hấp dẫn của nó); rằng chỉ có Thiên Chúa mới làm thoả mãn được con tim chúng ta và chúng ta thế nào thì Ngài yêu thương chúng ta thế ấy, và Ngài yêu thương chúng ta cho đến tận cùng; và rằng chúng ta cũng phải yêu thương Ngài đến tận cùng như vậy. Chúa luôn hiện diện trong cuộc đời chúng ta như là “người canh giữ”, như là “bóng mát” của cột mây ban ngày và cột lửa ban đêm để soi đường trong sa mạc, và như là “cánh tay uy quyền” của người bảo vệ.
3. Những Con Đường Tương Quan Tốt
a. Tương Quan với Mẹ và Chị Em của Mình
Mối quan hệ đầu tiên và cơ bản nhất của linh mục với các phụ nữ phải kể cụ thể là mối quan hệ với chính mẹ và chị em của mình. Mẹ linh mục là người phụ nữ mà ngài đã nhận được sự sống, và nhờ mẹ mà ngài có được ơn kêu gọi. Sự dịu dàng và chăm sóc yêu thương của tình mẹ nâng đỡ và bảo vệ ngài, giúp ngài lớn lên trong đời sống nhân bản cũng như đời sống thiêng liêng. Mẹ và chị em luôn tiếp tục đồng hành với ngài, với tình yêu thương, cầu nguyện, với chăm sóc canh phòng nhưng đầy kính trọng. Một linh mục tốt luôn giữ mối liên hệ mật thiết với mẹ và các chị em mình, đặc biệt trong thời gian dao động tình cảm và bị cám dỗ.
b. Đối xử với các Cụ Bà như là mẹ, và với các thiếu nữ như chị em với tấm lòng trong sạch” (1 Tm 5,2):
Để sống hồng ân quí giá là đời sống độc thân linh mục vì Nước Trời trong con đường trưởng thành và trong sáng, điều xem ra đặc biệt quan trọng là linh mục phải phát triển cách sâu xa trong chính mình, hình ảnh của các phụ nữ như mẹ và chị em mình, với cùng một lòng yêu thương và kính trọng như đối với mẹ và chị em mình.
Trong thời đại hôm nay, linh mục phải biết “khám phá ra phẩm giá và ơn gọi của phụ nữ trong Giáo Hội và trong thế giới.” Sự thăng tiến này làm cho người nam và người nữ cảm thấy bình đẳng và biết tôn trọng nhau trong mọi khía cạnh.
Nhưng, Đức Phaolô VI cũng nhắc Dân Chúa trách nhiệm của họ là cầu nguyện và chân thành trợ giúp các linh mục vượt qua mọi nỗi khó khăn, tận tình yêu thương các ngài với tình con thảo và sẵn sàng cộng tác với các ngài, với kính trọng và tế nhị dè giữ, khích lệ và an ủi, vì các ngài là những người hoàn toàn tận hiến cho Chúa Kitô và Giáo Hội.
c. Nhìn Cách Ứng Xử và Mối Tương Quan Hài Hoà của Chúa Giêsu với Phụ Nữ
Phúc Âm cho chúng ta biết rằng thái độ ứng xử của Chúa Giêsu mang lại tự do và hòa điệu giữa Ngài và các phụ nữ. Chúng ta hãy xem vài khuôn mặt chính:
Mẹ Maria, người mà Ngài đã tỏ lòng yêu thương của một người con và hết lòng kính trọng vâng phục; và Mẹ đã trở nên bản đối chiếu mật thiết của Ngài trong việc lắng nghe và thực thi ý Chúa;
Mattha và Maria ở Bethania, nơi mà Chúa thường ghé qua trong cuộc hành trình truyền giáo; và Ngài đã trở nên rất gần gũi với họ;
Người phụ nữ xứ Samaria, được hoán cải và đổi mới, đã giới thiệu Chúa Giêsu cho dân chúng vốn không biết đến căn tính đích thực của Ngài;
Maria Madalena, người được cứu sống và hoàn toàn biến đổi nhờ Chúa Giêsu; cô đã thấy Chúa Phục Sinh và nhận lãnh trực tiếp từ Ngài sứ vụ loan báo sự sống lại;
Người phụ nữ vô danh mà Chúa đã dạy cho biết hạnh phúc lớn lao là lắng nghe và thực hành lời Chúa;
Các con gái thành Giêrusalem đã theo Chúa trên con đường thánh giá.
Linh mục cần học từ Chúa Giêsu, là Thầy và Chủ của mình, cách thức quan hệ và ứng xử thế nào cho đúng mực với các phụ nữ.
III. KẾT LUẬN
Tóm lại, trong các mối tương quan của tình bạn khác phái, dù với người tu hay ở giữa thế gian, linh mục phải luôn qui hướng về Chúa Kitô, khiêm tốn nhìn nhận những điều kiện con người yếu đuối của mình, lắng nghe sự khôn ngoan và kinh nghiệm của kẻ khác, đừng bao giờ dám tự phụ cho mình là mạnh, trái lại nhớ luôn rằng «con chim nhát là con chim sống» hay «tam thập lục kế, vi tẩu thượng sách».
Ngoài ra, phải phát huy tình huynh đệ linh mục. Khi mà linh mục thực sự yêu thương nhau, ai cũng thỏa mãn được nhu cầu tâm lý căn bản yêu và được yêu của con người, thì chẳng ai thèm đi tìm bù trừ hay đón nhận một tình cảm nào khác.
Thế nhưng trong bất cứ cuộc chiến đấu nào cũng có chiến thắng và chiến bại. Nếu gặp phải trường hợp chiến bại, hãy cư xử theo lòng nhân hậu của Chúa Kitô, giúp chuyển bại thành thắng, chỗi dậy đứng lên tiếp tục hành trình với bài học kinh nghiệm và tâm hồn đổi mới. Hãy coi lầm lỗi như một lúc con tàu bị trật bánh ra khỏi đường ray. Nếu khéo léo điều chỉnh, bánh xe sẽ lại trở về đúng vị trí để con tàu tiếp tục vận hành. Người lầm lỗi được chân thành thương yêu, quảng đại tha thứ và nhân từ nâng đỡ sẽ đủ nghị lực kiên trì biến đổi nên tốt, với sự trợ giúp của ơn thánh Chúa.
Tâm lý chung của những người cầu toàn khi phát hiện một lầm lỗi là muốn làm om sòm lên. Nhưng liệu sự om sòm ấy có làm thay đổi được tình hình hay nó lại càng "vạch áo cho người xem lưng“ về tình trạng thiếu yêu thương của mình. Trước hết nên bình tĩnh, nhìn lại chính mình. Ai cũng có thể bị « vi-rút » tình cảm và tình dục tấn công. Vấn đề là cần có sức đề kháng tốt để tránh được bệnh. Sức đề kháng đó nằm ở chính sự kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu và tình huynh đệ bí tích của linh mục với nhau, là nhân tố làm thỏa mãn nhu cầu yêu và được yêu trong bối cảnh của đời sống ơn gọi, được đặt trọng tâm nơi Chúa Giêsu.
(Hát CHÚNG CON CẦN ĐẾN CHÚA)
E. KHÍA CẠNH TÂM LÝ VÀ TÍNH DỤC
TRONG ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tự nhiên, chúng ta được tự do một phần trong sự chọn lựa sử dụng ý muốn, lý trí hầu có thể làm chủ bản thân, điều khiển chính mình đến một đối tượng khao khát nhằm mục đích tối hậu là được biến đổi trong Chúa Kitô thành một lời đáp trả trọn vẹn với ân sủng và hội nhập vào chính cuộc sống mình.
Bản thân (Cái Tôi) mỗi người là điểm gặp gỡ của Tâm lý học và Thần học: Như những con người, chúng ta đáp lại Thiên Chúa qua các định luật tâm lý mà Ngài đã ghi khắc trong chúng ta.
Trong tiến trình đáp trả đó, chúng ta bị thách đố đặt trật tự vào cuộc đời chúng ta: « Nhân đức là tình yêu có trật tự » (thánh Augustinô). Nhưng khi tình yêu bị rối loạn (mất trật tự), chúng ta nhận ra qua các dấu hiệu này: sự đi trệch định hướng cuộc đời và tìm tự tôn vinh mình.
Các cấp độ của cái Tôi được mô tả qua bốn vòng tròn đồng tâm :
- Vòng ngoài cùng: Thế giới, các thực tại bên ngoài (tha nhân, xã hội, tạo thành, các biến cố …)
- Vòng kế tiếp: Thân xác – tâm sinh lý
- Vòng tiếp theo: Tâm thể - tâm lý xã hội
- Vòng tâm: Tinh thần con người – tâm lý tinh thần hay tinh thần hữu lý, gồm có:
· khả năng hiểu biết - cảm nhận - trực giác - tưởng tượng – ký ức – ý muốn
· Khả năng cho các nhân đức như tình yêu – tha thứ - niềm vui - nhẫn nại …
“Chỉ có người có khả năng làm chủ mình có thể trở thành một quà tặng cho kẻ khác, một quà tặng cho Chúa trọn vẹn đến nỗi người ấy thành chiếc bình trong suốt cho ánh sáng của Chúa chiếu qua” (J. Riddick)
Cái Tôi có hai định hướng:
Định hướng sai lầm: Tình yêu cho thế gian… một đời sống trống rỗng “Anh em đừng yêu thế gian và những gì ở trong thế gian. Kẻ nào yêu thế gian thì nơi kẻ ấy không có lòng mến Chúa Cha, vì mọi sự trong thế gian như dục vọng của tính xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của, tất cả những cái đó không phát xuất từ Chúa Cha, nhưng phát xuất từ thế gian; mà thế gian đang qua đi, cùng với dục vọng của nó. Còn ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa thì tồn tại mãi mãi” (1 Ga 2, 15-17). Cái nổi bật trong định hướng sai lầm này là tính chất trần tục: khoái lạc, của cải, địa vị / quyền lực.
Định hướng đích thực: Sự sống dồi dào “Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá hủy. Phần tôi, tôi đến để chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Cái nổi bật trong định hướng đích thực này là sự sống trở nên giống Chúa Kitô trong các thiên hướng – thái độ - nhân đức dẫn tới lời mời gọi của mọi tín hữu.
Cuộc chiến đấu: Chúng ta trải nghiệm những sức lôi cuốn và thúc đẩy đến từ hai hướng đối nghịch nhau: cái tôi bị thống trị bởi các nhu cầu và cái tôi bị thống trị bởi các giá trị.
Ơn gọi vào đời sống thánh hiến là triệt để đi theo Chúa Giêsu. Đó là lời kêu gọi tới một sự biến đổi con tim nhân loại qua các Lời Khuyên Phúc Âm.
Mỗi người sống kinh nghiệm ơn gọi đều trải qua kinh nghiệm sống cái tôi của mình, hoặc đặt trọng tâm nơi mình hoặc đặt trọng tâm nơi Chúa, mà có định hướng đúng hay định hướng sai lầm:
· Định hướng sai lầm đi theo hình ảnh cái Tôi: khoái lạc, sở hữu của cải, địa vị/quyền lực.
· Định hướng đích thực họa theo hình ảnh Thiên Chúa: Thanh Khiết, Khó Nghèo, Vâng Lời.
· Chiến đấu: Trong cả hai định hướng này, chúng ta kinh nghiệm sự có mặt của những thúc đẩy của con người tự nhiên: vui thích, tăng trưởng, cho đi và lãnh nhận.
II. LINH MỤC CŨNG LÀ CON NGƯỜI
1. NHU CẦU TÌNH YÊU
Nhu cầu là một cái gì cần phải có để làm đầy đủ nhân cách của chúng ta. Nó là một đòi hỏi bên trong cần phải được thỏa mãn một cách phải lẽ, nếu chúng ta muốn có hạnh phúc trong đời sống mình.
Khi nhu cầu được thỏa mãn thì có sự điều chỉnh thích hợp, còn khi không được thỏa mãn thì có sự điều chỉnh không ăn khớp trong nhân cách của chúng ta.
Kết quả của việc không thỏa mãn nhu cầu là chúng ta cảm thấy hụt hẫng, căng thẳng, mất quân bình, không ổn định v.v… trong đời sống, ảnh hưởng đến đời sống thiêng liêng và sứ vụ.
Mọi con người đều có một ước nguyện nội tâm và nhu cầu tình yêu, một nhu cầu tâm lý cơ bản. Một trong những thúc đẩy sâu xa nhất của bản tính tự nhiên của con người là yêu và được yêu.
Yêu một người nào có nghĩa là lắng nghe, hiểu biết, thấu cảm, chấp nhận, tôn trọng, và săn sóc người đó. Được yêu có nghĩa là được người khác chọn làm đối tượng đặc biệt của cảm giác yêu mến và thích thú của họ. Được yêu làm cho người ta hạnh phúc, và càng được yêu, người ta càng trở nên tự do hơn để yêu chính mình và yêu những người khác.
Khi nhu cầu tâm lý này không được thỏa mãn, bị bỏ bê, bị lờ đi thì một sự trống rỗng sâu xa phát triển nơi một người, và kết quả là người ấy cảm nghiệm những chán nản, khó chịu, thiếu hạnh phúc, tha hóa, vỡ mộng, cô đơn v.v… tác động tiêu cực lên đời sống thiêng liêng và sứ vụ.
Do không thỏa mãn nhu cầu yêu thương này, người ta đau khổ vì thiếu dinh dưỡng tâm lý và tình yêu; có thể nhiễm chứng căng thẳng thần kinh, bị stress, cản trở việc tăng trưởng thiêng liêng.
Con người cố gắng đáp ứng những nhu cầu tâm lý qua cách ứng xử của mình. Và việc thiết lập tình bạn thân mật sẽ thỏa mãn nhu cầu tâm lý căn bản yêu và được yêu của mình. Nhưng sự thỏa mãn đó phải được biểu lộ trong bối cảnh của đời sống ơn gọi thánh hiến.
(xin đọc “Tình BẠn Như NhiỆm TÍch”).
2. NHU CẦU THÂN MẬT
Thân mật là một tình cảm đặc biệt đối với một người nào đó. Mọi người cần đến loại thân mật này để sống nhân bản lành mạnh. Tuy nhiên cấp độ của sự thân mật này có thể thay đổi từ người này đến người khác.
Người độc thân cũng ước mong sự liên hệ này, tức là muốn yêu thương một người nào đó và muốn được người ấy yêu thương mình.
Là người độc thân, chúng ta cũng nên thừa nhận rằng chúng ta cũng có những nhu cầu này trong cuộc sống, và những nhu cầu này phải được đáp ứng bên trong bối cảnh ơn gọi của chúng ta.
Nếu mỗi người chân thành yêu thương người khác và cảm nhận được người khác yêu thương thì nhu cầu kia được thỏa mãn và tình cảm con tim được bảo hòa.
Chúng ta nên nhớ rằng tất cả chúng ta đều là những con người bất toàn, chứ không phải những con người hoàn hảo. Chúng ta không thể nói rằng chúng ta đã được giải thoát khỏi mọi nhu cầu này, vì chúng ta đã hiến dâng cuộc đời vì Nước Thiên Chúa. Chúng ta không thể nói rằng những nhu cầu này không có ảnh hưởng gì trên cuộc đời chúng ta vì chúng ta được Thiên Chúa kêu gọi để thi hành sứ mệnh của Người. Hãy nhìn nhận sự kiện chúng ta trước hết là con người, rồi là linh mục; và những nhu cầu này phải được kiện toàn trong bối cảnh ơn gọi của mình.
(video TÌNH YÊU VÀ SỨ MỆNH)
Trước Vatican II, sự quen thân và tình bạn thân mật chỉ được chia sẻ với Chúa Kitô, chứ không được chia sẻ với con người nào khác. Nhưng sau Vatican II, người ta hiểu rằng chúng ta không được lơ là thân mật với Chúa, nhưng đồng thời được khuyến khích thân mật với con người.
Quả thế, Hiến Chế Mục Vụ Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Nay nói: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ... Họ phải cảm thấy thực sự liên hệ mật thiết với loài người và lịch sử nhân loại”[2]
Đôi khi chúng ta chia ra từng ngăn đời sống bằng cách nói rằng chúng ta, những linh mục và tu sĩ, phải kính mến một mình Thiên Chúa thôi, con người không được xen vào: “… Người không kết bạn thì chuyên lo việc Chúa và tìm cách làm đẹp lòng Người. Còn người kết bạn thì lo lắng việc đời và tìm cách làm đẹp lòng bạn mình, thế là bị phân chia.” (1 Cor 7,32)
Thánh Gioan Tông Đồ nhấn mạnh tính cách quan trọng của lòng kính mến Chúa và yêu thương cận nhân: “Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được?” (1Ga 3, 17)
“Thiên Chúa chưa ai được chiêm ngưỡng bao giờ. Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, và tình yêu của Người nơi chúng ta mới nên hoàn hảo” (1Ga 4, 12)
“Nếu ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối, vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy.” (1Ga 4, 20)
Vậy mệnh đề trái tim không phân chia không làm tương phản liên hệ hay tình yêu của người độc thân thánh hiến và người có gia đình đối với Thiên Chúa và tha nhân, đúng hơn nó biểu thị phẩm tính của mối liên hệ tình yêu nơi người tín hữu và người độc thân thánh hiến: Thiên Chúa là nguyên ủy và là trọng tâm.
(Slideshow TÌNH YÊU ĐÃ CHỌN)
3. NHU CẦU HẠNH PHÚC
Con người luôn luôn khao khát hạnh phúc, tìm kiếm hạnh phúc và dừng lại để thụ hưởng hạnh phúc, từ hạnh phúc cao khiết của tinh thần, cho đến cảm khoái vật chất và nhục dục. Nhưng không bao giờ con người cảm nhận được thỏa mãn hạnh phúc trọn vẹn ở trong những sự đời này.
Từ chỗ đó, con người đi tìm hạnh phúc vĩnh cửu và bắt gặp được Thiên Chúa. Thánh Augustinô cảm nghiệm sâu sắc điều đó khi ngài nói: “Linh hồn tôi khắc khoải cho đến khi nào được nghỉ yên trong Chúa.”
III. NĂM ĐỊNH LUẬT TÂM SINH LÝ NAM NỮ
1. LUẬT ƯU TIÊN
Nơi người nữ: trái tim ưu tiên. Điều ưu tiên là một quả tim, một tình cảm. Một trái tim muốn được hòa nhịp với trái tim khác, một tình cảm tha thiết muốn hiến trọn cho người mình yêu. Nó ẩn chứa một cái gì thanh nhã trong đó: Người nữ muốn mang đến cho người mình yêu một trái tim muốn yêu và muốn được yêu đến cực độ.
Nơi người nam, thể xác ưu tiên. Khi người nam nghĩ đến người nữ thường hình dung tới thân hình, đường nét, sắc diện thể chất… Do đó, đứng trước một thiếu nữ đẹp, người thanh niên sẽ thấy thể xác xúc động trước, rồi sau đó tình cảm và trái tim mới hoà nhịp theo. Người nam dễ bị lôi cuốn bởi thể xác người nữ, và thường mau chóng hướng tới việc kết hợp thể xác.
Sự sai biệt này có thể gây nên những khó khăn, những nguy hiểm...
Người nữ dễ dàng bị chinh phục bằng tình cảm: nể nang, tội nghiệp, thương hại…, để rồi dễ dàng mất tự chủ trước tiếng gọi của con tim, đưa đến nguy cơ nhượng bộ đòi hỏi thể xác của phái nam.
Người nam dễ bị chinh phục bởi những đường nét duyên dáng nơi thân xác người nữ, khó lòng tự kiềm chế và thường đòi hỏi kết hợp thể xác, coi đó như một bằng chứng tình yêu.
Người nữ nên để ý điểm này để tránh những nhượng bộ gây lỡ làng, với hậu quả đáng tiếc khiến phải ân hận suốt đời.
Người nam nên để ý điểm yếu của mình để làm chủ bản thân, kính trọng người nữ, hiểu rằng người nữ nặng về tình cảm, sự săn sóc tế nhị, lời âu yếm, cử chỉ thân mật, dịu dàng, kính trọng. Do đó, người nam đừng quá chú ý tới thể xác hoặc vội vàng đốt giai đoạn trong khi gần gũi với...
Người nữ dễ bị chi phối bởi tình cảm, tính nhẹ dạ hay thay đổi, óc lý luận thường hướng về hành động mau chóng... Chị hãy thận trọng trước những xúc cảm đầu tiên hay trước hành động của mình, đừng nghe lời dỗ ngọt của các anh, đừng nhượng bộ.
Chị hãy lưu ý tới óc lý luận của anh để bổ khuyết cho nhau cho có tình có lý, không nên bắt anh theo tình cảm của mình mà nhiều khi rất vô lý.
Anh nên tránh những cuộc cãi lý với chị, chị không nghe anh lý luận đâu, nói nhiều vô ích. Hãy khơi dậy tình cảm, lòng trắc ẩn của chị sẽ thành công.
Trong đời sống hôn nhân, người vợ biết tâm lý đàn ông như vậy thì nên thực tế, đừng quá khắt khe, đừng buồn khi thấy anh quá chú ý tới thể xác, việc ăn ở, hoặc quá lý tưởng khi yêu đương.
Chị nhớ chăm sóc thân hình gọn gàng, sạch sẽ, dễ thương… Đừng có coi thường chồng, nghĩ rằng mình chỉ là một thân xác để anh thỏa mãn, từ đó sinh ra lạnh nhạt, bất mãn. Có khi vì thế mà người chồng sinh ra nghi ngờ tình yêu của vợ đối với mình: có thể vợ không yêu mình nữa hay đã có người yêu khác nên mới xử sự như vậy!!!
2. LUẬT PHÂN CÁCH
Trái tim người nữ chỉ có một ngăn và dành hết cho tình yêu. Trái tim người phụ nữ có thể nói là một toàn thể dành hết cho người mình yêu, không có phân cách.
Trong đời sống yêu đương, mối tình dành cho anh chiếm hết trái tim chị. Chị chỉ nghĩ đến anh, sống chỉ vì anh, sống để yêu và được yêu. Vì thế khi không yêu nữa thì lập tức anh bị tống khứ hoàn toàn ra khỏi trái tim chị, và đứa con hoặc nhân tình sẽ thay thế.
Tình yêu chi phối mọi hoạt động. Một trái tim, một tình yêu. Hai mối tình không thể chung sống hòa bình. Đó là đặc điểm trái tim phụ nữ.
Trái tim người nam có tới bốn ngăn và dành cho bốn lãnh vực độc lập với nhau:
- Tình yêu,
- Lý tưởng,
- Sự nghiệp
- Giải trí.
Các chuyên gia tâm lý nói trái tim người nam thì lại khác: rắc rối, nhiều chuyện, có tới 4 ngăn và các ngăn ấy hoàn toàn biệt lập nhau, khiến cho người nữ không hiểu nổi.
- Ngăn thứ nhất: dành cho vợ. Anh yêu chị và khi ở với chị là không nghĩ tới gì khác.
- Ngăn thứ hai: dành cho sự nghiệp. Trong đời người nam sự nghiệp chiếm địa vị quan trọng: Có nhiều người vì sự nghiệp mà quên cả vợ con, gia đình.
- Ngăn thứ ba: dành cho những việc anh làm vì sở thích, vì lý tưởng, chính trị, xã hội, giáo dục…
- Ngăn thứ tư: dành cho giải trí, nghỉ ngơi.
Chị hãy an tâm tin rằng anh yêu chị, thương gia đình. Đừng thấy anh say mê những công việc khác mà nghĩ rằng anh thờ ơ với gia đình, rồi đâm ra nghi ngờ, khó chịu. Chị hãy tập cảm thông với anh, chia sẻ với anh và trong mọi lúc hãy tươi cười đón anh, lo âu với anh, an ủi anh và khuyến khích anh. Đừng ngăn cấm hoặc cản trở công việc của anh.
Anh không nên bắt chị phải theo những hoạt động anh thích, và phải chừng mực trong công việc. Biết dùng tình yêu để dung hòa những dị đồng. Nếu được, nên để chị tham gia công việc với mình. Biết đền bù cho chị bằng lời nói, thái độ, cử chỉ yêu thương, hành vi phụ giúp công việc của chị. Nhớ rằng chị coi trọng gia đình hơn nghề nghiệp, quan tâm đến con người hơn công việc.
3. LUẬT THÍNH GIÁC
Người nữ có lỗ tai to. Chị không chỉ là một trái tim mà còn là một lỗ tai: Một lỗ tai to gắn liền với trái tim. Những gì vào lỗ tai rơi thẳng ngay vào tim. Do đó chị có nhược điểm này: thích nghe và dễ tin những điều người ta nói.
Chị dễ tin những lời tán tỉnh, dịu ngọt; dễ chú ý đến điều người ta nói hơn là việc người ta làm: “Chuông già đồng điếu chuống kiêu, anh già lời nói em xiêu tấm lòng!” Chị muốn được yêu bằng những lời âu yếm dịu dàng tâm sự. Anh làm những công việc này nọ giúp chị mà không nói gì, chị vẫn cho là anh không thương chị hoặc chưa thương trọn vẹn. Tóm lại: chị thích NGHE.
Người nam lại ngắn lưỡi. Người nam ở trong gia đình nhiều khi lại là người thiếu cái lưỡi. Ở quán xá hoặc ở những nơi khác anh nói thao thao bất tuyệt về những chuyện chính trị, xã hội, nghề nghiệp… vì những chuyện đó có tính cách chung chung, vô thưởng vô phạt. Ở nhà thì ngược lại: miệng anh câm như hến, ít nói, trầm ngâm, vì anh không thích những chuyện vụn vặt, chi tiết. Anh ngại tâm sự, bộc lộ có đụng chạm tới bản thân mình.
Trong đời sống gia đình, sự im lặng thường tạo nên bầu không khí nặng nề. Người chồng vì thế thích ra quán cà phê hay đến một nơi vui nhộn. Còn bà vợ sẽ thích la cà bên nhà hàng xóm để chuyện trò (ngồi lê đôi mách, vuốt râu cha nọ đặt cằm bà kia…)
Vì thế muốn tránh bầu không khí nặng nề, nguyên nhân đưa tới xa cách, các bạn nên chú ý đến luật tâm lý này. Giữa vợ chồng phải có đối thoại, trao đổi. Đối thoại sẽ giúp tránh được những nghi ngờ, hiểu lầm, xích mích. Vậy phải tập đối thoại với nhau.
Yêu là nói, là nghe. Nghe vợ tâm sự, nói chuyện nhà cửa, gạo cơm, con cái, bạn bè… Nghe chồng nói chuyện về chính trị, xã hội, thể thao… Yêu là đối thoại, là mở tâm hồn và lý trí để cùng đón nhận, tham dự, chia sẻ tâm tình của nhau.
Anh phải tập nói, phải phá tan bầu không khí nặng nề trong gia đình. Anh phải nói gì? Những câu nói yêu thương, tỏ tình… Nhắc lại những kỷ niệm đẹp, êm đềm ngày trước, vì chị thích sống lại những quá khứ đẹp. Anh phải nói với cung điệu nhẹ nhàng ôn tồn. Những gì anh nói với giọng dịu dàng, âu yếm, kính trọng, chị sẽ cho là đúng, chị sẽ chấp nhận.
Những gì anh nói với giọng gắt gỏng, khó chịu hoặc khinh khỉnh, chị sẽ cho là sai, khó chấp nhận mặc dầu đó là những điều đúng. Vậy khi phải chỉ trích, xây dựng những khuyết điểm của chị, anh phải áp dụng như thế; đừng bao giờ chê trách hoặc chế diễu chị, nhất là trước mặt người khác.
4. LUẬT CHI TIẾT
Người nữ để ý đến các chi tiết, hay chú ý đến những cái cỏn con của sự việc, thích những mẫu tin vụn vặt.
Người nam quan tâm đến điều cốt yếu, chỉ nhớ đến những nét đại cương, những chuyện đáng để ý, lại thích những tin chính trị, xã hội, quốc sự…
Sự sai biệt tâm lý này là nguyên do nhiều vui buồn, đau khổ
Chị chú ý, quan sát và nhớ kỹ những chi tiết trong đời sống của anh, của gia đình trong khi anh ít để ý và hay quên (sinh nhật, kỷ niệm...)
Chúa sinh ra chị có giác quan nhạy cảm về chi tiết để chị có khả năng chu toàn sứ mạng làm vợ, làm mẹ, săn sóc gia đình, nuôi con… đòi hỏi phải làm bao nhiêu việc nhỏ, bao nhiêu chi tiết.
Một việc nhỏ cũng làm chị bực mình, đau khổ. Một quên sót của anh đối với chị làm chị buồn tủi, giận dữ, nghi ngờ. Anh thường dễ bực bội, cáu kỉnh khi vợ hay than phiền về những chuyện nhỏ nhặt, hoặc khó chịu khi thấy chị hay dò xét…
Hiểu như vậy, chị hãy rộng lượng với anh, thông cảm với những dự tính công việc, những sinh hoạt hoặc giao tế của anh.
Vì thế anh hãy chịu khó để ý đến chị, nhẫn nại nghe chị nói, dầu là những chuyện nhỏ mọn. Hãy lợi dụng những cơ hội, những chi tiết làm chị vui: quà tặng ngày sinh nhật, ngày kỷ niệm, những ngày vui buồn của chị, một lời khen, một quan tâm, một giúp đỡ…
Cả hai phải biết rằng Yêu là nghĩ đến người yêu và tìm hạnh phúc cho người yêu.
5. LUẬT BẤT ĐỒNG CẢM
Người nữ phản ứng chậm, nhưng kéo dài. Trong phạm vi tình cảm, người nữ như một trái bom nổ chậm. Chị không phản ứng cùng lúc, nhưng sau anh. Tuy nhiên khi đã xúc cảm thì nỗi cảm xúc ấy kéo dài hơn anh. Người nữ như một đầu máy xe lửa: chuyển bánh chậm, khi có đà đi rất nhanh, nhưng ngưng lại chậm.
Người nam phản ứng nhanh, nhưng cũng mau dứt. Nơi người nam, tình cảm chóng bộc phát mà cũng chóng nguội tàn. Vì vậy mà “cú sét ái tình” thường xảy ra nơi thanh niên hơn nơi thiếu nữ. Trong mọi việc, anh hãy kiên nhẫn, chờ đợi, chuẩn bị... Trong tình yêu thân mật cũng vậy: tránh những cử chỉ vội vàng, hấp tấp, mà nên dịu dàng, tế nhị.
Hiếu biết định luật tâm lý này để biết tha thứ cho nhau, tránh những xích mích nghi kỵ.
(Slideshow TRUYỀN THUYẾT TẠO DỰNG NGƯỜI NỮ)
6. KẾT LUẬN
Những định luật vừa nói trên không áp dụng riêng rẻ nhưng bổ túc, liên hệ với nhau và là những định luật rất quan trọng chi phối đời sống vợ chồng, nam nữ. Đó không phải là tất cả những sự khác biệt, bởi mỗi cá nhân là một “huyền nhiệm” không dò thấu.
Những định luật này rất hữu ích để giúp các đôi bạn hiểu được nhau và khi nắm vững được những khác biệt tâm lý này sẽ tránh được những phán đoán, những thái độ chủ quan thường đưa đến bất hòa.
IV. TƯƠNG QUAN NAM NỮ IỚI TÍNH
1. TƯƠNG QUAN NAM NỮ
Tương quan nam nữ khởi sự từ đầu khi Thiên Chúa sáng tạo con người: người nam và người nữ là một phần của nhau, bổ túc cho nhau và sự sống vẫn tiếp tục trải ra và phát triển, cả nhân bản và thiêng liêng.
Thiên Chúa đã dựng nên con người có nam có nữ.
Biểu tượng Âm-Dương chứa đựng tất cả triết lý về cuộc sống con người. Vòng tròn mô tả tính phổ quát của âm dương. Phần màu đen tượng trưng cho Âm, còn phần màu trắng tượng trưng cho Dương.
Âm Dương tách biệt nhau, không phải bằng một đường thẳng, song bởi một đường cong hòa điệu và mềm mại. Do đó, tất cả những gì tiến tới, hoạt động và sáng là dương, còn những gì lùi lại, tiếp nhận và tối là âm.
Dương tượng trưng cho trời, ngày, mặt trời, đàn ông, lửa, hành động, sức mạnh, niềm vui. Ngược lại, Âm tượng trưng cho đất, đêm, mặt trăng, đàn bà, nước, nghỉ ngơi, yếu đuối, đau khổ.
2. THÂN MẬT GIỚI TÍNH
Desmond Morris (người Anh) chia các hành vi của các bộ phận cơ thể đối ứng tương tác với nhau theo hai giai đoạn yêu thương:
1) Giai đoạn yêu thương chia sẻ:
. Mắt đối với cơ thể
. Mắt đối mắt
. Lời đối lời
2) Giai đoạn yêu thương có tiếp xúc cơ thể trực tiếp:
. Bàn tay đối bàn tay
. Cánh tay đối vai
. Cánh tay đối eo
. Miệng đối miệng
. Tay đối ngực
. Miệng đối ngực
. Tay đối cơ quan sinh dục
. Cơ quan sinh dục đối cơ quan sinh dục
Khi đôi bạn chuyển từ giai đoạn yêu thương chia sẻ sang giai đoạn yêu thương có tiếp xúc cơ thể trực tiếp bằng một thứ ngôn ngữ không lời, thì tình cảm giữa họ càng sâu đậm hơn.
Các hành vi đầu giúp thắt chặt thêm tình cảm giữa hai người, còn giai đoạn cuối cùng là hiệu ứng nảy sinh từ những hành vi thân thiết ấy, có tác dụng kết tinh tình cảm và tình dục của cả hai.
Đối với loài người, hành vi tình dục đem lại những cảm nghiệm sâu đậm đến tận xương tủy, gắn liền với những yếu tố nền tảng của luân lý và đạo đức.
Hãy dành thời gian học cách yêu thương, học cách nhận biết và đáp đền. Hai bên hãy kìm giữ tốc độ chậm lại, ngay cả sức lực định dồn vào chuyện yêu đương cũng nên chuyển thành dịu dàng và kiên nhẫn, đồng thời tăng mức độ và thời gian suy nghĩ, cảm nhận, hướng về nhau.
Tình dục không nằm trong sự bảo trợ của tình yêu nồng thắm thì không những không thúc đẩy tình yêu thăng hoa, mà ngược lại còn có thể giết chết tình yêu.
Sự phát triển tâm lý giới tính thường trải qua 3 giai đoạn:
- thời kỳ phân cảm giới tính dẫn đến xa lánh người khác phái,
- thời kỳ cảm tình với ngưới khác phái,
- và thời kỳ luyến ái lãng mạn.
Những xúc động, xao xuyến của tình cảm đầu đời nếu được sẻ chia, nâng đỡ, định hướng đúng sẽ là con đường đạt tới sự nếm trải trọn vẹn hạnh phúc làm người.
Nếu không được quan tâm và giáo dục đúng, để mặc các em mò mẫm tự tìm cho mình lờì giải đáp, sẽ dễ bị sa ngã dưới sức ép của bản năng.
Thân thể của ta chỉ thuộc về ta, ta phải chịu trách nhiệm về nó. Biết trân trọng thân thể của mình, biết yêu lấy chính mình là ta biết cách ứng phó với mọi tình huống, có cách nhìn nhận về tình bạn, tình yêu, quan hệ giới tính một cách nghiêm túc, tránh được sa ngã và những hậu quả thương tổn đến đời sống thể lý, tâm lý, thiêng liêng và hành trình ơn gọi.
Do đó, mỗi người cần được trang bị những kiến thức đúng đắn về giới tính. Không chỉ là những kiến thức khoa học về sinh lý, sự thai nghén sinh nở, di truyền, các bệnh tình dục...
Mà điều quan trọng chính là giáo dục về nhân bản, tình bằng hữu, tình yêu thương, sự tự do, ý thức trách nhiệm, lòng thuỷ chung với chọn lựa và cam kết cuộc đời.
V. VẤN ĐỀ THỦ DÂM
1. ĐỊnh nghĩa VÀ ThỰc trẠng
a. Nhận thức
MASTURBATION: Manus (tay) – Turbatio (kích thích). Thủ dâm là dùng tay kích thích bộ phận sinh dục để tìm đạt được khoái cảm sinh dục.
b. Cảm nhận
Sau hành động thủ dâm, phần đông cảm thấy ngượng ngập, mặc cảm tội lỗi, lo lắng, chán nản, hận mình.
c. Thực tế
Thủ dâm được thực hành khá phổ biến, nhất là nơi người độc thân, có người coi như không có gì sau hành động ấy, còn người khác lại bị lương tâm ray rứt vì hành động tính dục đơn độc riêng tư và do căng thẳng trầm trọng này (x. Giải mã giấc mơ tình dục)
Thủ dâm có thể xảy ra cùng với những liên hệ khác tính luyến ái (KTLA) hay đồng tính luyến ái (ĐTLA): làm cho mình, làm cho người khác và để người khác làm cho mình.
Có người coi thủ dâm là sự dữ nhỏ hơn trong hai sự dữ (minus malum): cái thay thế cho hoạt động ĐTLA hay KTLA; hoặc để điều hướng cái tôi của mình hơn là dính líu với trẻ em hay một người nào đó.
Thủ dâm không kéo dài suốt đời người độc thân, cũng như giao hợp không kéo dài suốt đời người có gia đình (x. St 18,12: Sara cười thầm tự bảo ‘Mình đã cằn cỗi rồi còn tìm lạc thú nữa sao? Ông nhà mình lại là một ông lão!)
Đó là một cuộc chiến đấu và phải đi vào cuộc chiến đấu ấy: Bỏ được là lý tưởng, để việc tận hiến cho Chúa được chu toàn và hoàn toàn trao hiến cho Chúa.
Cầu nguyện cho bỏ được thủ dâm như một phần cần thiết cho tăng trưởng và phát triển con người.
Ngày sáu khắc êm trôi lặng lẻ, Chúa ngăn ngừa chẳng để phút giây, Tay chân miệng lưỡi hình hài, Buông theo tội lỗi mà đầy bợn nhơ.
Thánh Thi Kinh Sáng Thứ Năm Tuần I TN
2. Các loẠi thỦ dâm
1) Thủ dâm trẻ nít
Trẻ, trước tuổi dậy thì, tìm khám phá cơ thể, trong đó có vùng sinh dục của mình, như một phần tăng trưởng bình thường.[3]
2) Thủ dâm thiếu niên
Xảy ra trong tuổi dậy thì và đa số trường hợp thủ dâm thuộc thời kỳ này.
3) Thủ dâm trưởng thành
Loại thủ dâm này phổ thông với người trưởng thành (người độc thân, người chưa kết hôn tránh giao hợp trước hôn nhân) và như một lối thoát căng thẳng.
4) Thủ dâm xúc phạm
Chọn bộ phận sinh dục để giao hợp “một mình.” Có tính cách tác hại vì phân rã hơn là hiệp nhất nhân vị.
3. MỘt sỐ quan điỂm
1) Freud và William Fleiss:
Thủ dâm là biểu hiệu bệnh thần kinh phổ quát, có thể có hậu quả mù, điên, bất lực.
2) Fenichel:
Thủ dâm là triệu chứng bệnh hoạn, là khả năng làm thỏa mãn bị xáo trộn.
3) Những biện pháp vô nhân đạo:
Mang giây lưng thanh khiết hành xác, thiến hoạn (nam) và cắt bỏ âm vật (nữ).
4) Xã hội học và tâm lý học hiện đại:
Thủ dâm là phát triển bình thường vào một thời kỳ nào đó trong đời người, dẫn tới sự chín mùi tâm lý tính dục lành mạnh; là tiền thân của ứng xử tính dục liên nhân vị.
5) Quan điểm của Giáo Hội:
Trước Vaticanô: thủ dâm là điều xấu trầm trọng và là trọng tội, vì vi phạm bản tính tự nhiên và ích kỷ.
Huấn thị của Bộ Giáo lý Đức Tin, “Tuyên bố về một số vấn nạn liên quan đến đạo đức tính dục”: Thủ dâm là một hành vi bóp méo và trái ngược của khả năng tính dục, là sự thiếu trưởng thành, thiếu quân bình tâm lý, và do thói quen. Thủ dâm không luôn luôn là lỗi nặng, nhưng vẫn là nguồn mặc cảm tội lỗi và lo lắng.
4. Nguyên do và mỤc tiêu
1) Do ngứa ngáy; buồn chán, lo lắng, tâm trạng vở mộng, cô đơn.
2) Lối thoát dễ dàng để xả căng thẳng.
3) Thay thế cho quan hệ tình dục.
4) Đối phó và trốn thoát sự thân mật tính dục liên nhân vị
5) Bắt im lặng lời mời gọi vào tình dục yêu đương liên nhân vị.
5. NhỮng thỎa hiỆp
1) Sợ đàn bà:
Không muốn bị liên lụy tình dục hay tình cảm với đàn bà (sợ hậu quả), hay vì không được liên hệ với đàn bà, nên tìm thỏa hiệp với những hình thức tính dục khác (đồng tính ái), gây nên một tâm lý tính dục thiếu trưởng thành.
2) Sách báo, phim ảnh khiêu dâm:
Nhằm kích thích tính dục do:
- miêu tả các đối tượng và những tình cảnh gợi tình (tác phẩm, hình vẽ, điêu khắc, trình diễn…)
- mô tả sự lạm dụng phụ nữ (nếu không tàn bạo thì cũng xuống cấp) và vì vị nễ mà chìu, rồi sau đó cứ bị ám ảnh.
- đồi trụy: phá hoại phẩm tính tương quan tính dục, đưa tới khai thác và kinh doanh tính dục, lạm dụng tình dục trẻ em.
- Bù trừ: nhòm lỗ khóa/nhìn chỗ kín/thích xem phim khiêu dâm, nhất là giới nam (mở đầu/tăng cường hoạt động tính dục, thủ dâm, lạm dụng trẻ em).
3) Phô bày bộ phận sinh dục của mình (cho người khác phái) để được khoái lạc tính dục bởi sự nhìn xem.
4) Mặc y phục của người khác phái, thay thế vai kề vai với người khác phái mong ước, rồi thủ dâm để xả căng thẳng.
5) Hành động thú tính: ham muốn và thực hiện tính dục với súc vật.
6) Bạo động với chính mình (thường là phái nam) để bảo vệ độc thân: Origène; nhiều vị tử đạo sẵn lòng chịu chết để bảo vệ trinh tiết/đức tin: hai cha truyền giáo ở Lào.
6. TiẾn trình phát triỂn lành mẠnh
1) Trẻ khám phá hết mọi chỗ trong cơ thể nó, trong đó có vùng bộ phận sinh dục: tiến trình tăng trưởng bình thường (x. Chuyện hai bà mẹ tắm cho con: “Con gái dở quá, có một cái mà cũng làm vỡ” – “Sao con không có một cái như thằng đó?”)
2) Trò chơi sinh dục/Táy máy chân tay (do liên hệ khắng khít mẹ/con, cha/con) thiết lập ý thức về bản thân. Bé trai có ý thức nhạy bén về khả năng cương cứng đưa tới làm chủ bản thân, đụng chạm dương vật để tự trấn an.
3) Chưa trưởng thành: Thủ dâm là một hoạt động tính dục thiếu trưởng thành, nhưng trẻ dùng thủ dâm để học điều khiển bản năng tính dục của nó (chơi đùa có tính chất thăng hoa mà thủ dâm không có).
4) Can thiệp khôn khéo: Nếu bắt trẻ chận đứng thủ dâm cách không khôn khéo, nó sẽ có ý tưởng rằng tính dục là xấu xa và nguy hiểm, khiến trẻ có thể bị chứng loạn thần kinh chức năng và biến dạng nhân cách.
5) Can thiệp thiếu thích hợp: Những cấm kỵ thủ dâm có thể đưa tới những hình thức bệnh hoạn. Nhưng nếu thủ dâm với lương tâm xấu và lo lắng cũng đưa tới hậu quả bệnh hoạn.
7. HưỚng dẪn hỮu hiỆu và chỮa lành
1) Quan tâm thích đáng: Phải khảo sát tỉ mỉ trong một khung cảnh rộng lớn hơn, (tiểu sử gia đình, cá nhân đương sự để tìm biết những động lực sâu hơn), chứ không phải chỉ là nhục dục (bệnh cơ quan sinh dục cần chữa trị bằng y khoa; chớ gì có nữ tu bác sĩ chuyên ngành phụ khoa cho các nữ tu)
2) Lắng nghe để hiểu: Phải lắng nghe chăm chú và nhạy cảm đối với người có những hình ảnh tưởng tượng kèm theo thủ dâm (trước và sau)
3) Nhìn lại để thương: Thủ dâm là cách thức dễ dàng để làm dịu sức ép và căng thẳng. Do đó phải khảo sát những nguồn sức ép và căng thẳng để tiêu diệt/giảm thiểu chúng: ăn một thực đơn cân bằng, nghỉ ngơi và giải trí thích hợp.
4) Đừng vẽ đường cho hươu chạy: Những phơi bày thái quá trước những kích thích tính dục thường thúc đẩy thủ dâm. Do đó, tránh những kích thích đó sẽ giảm thiểu tính thường xuyên của thủ dâm.
5) Tự chủ và liên đới: Tập tự chủ bản thân; mở rộng liên hệ với người khác (không chỉ qui về mình và yêu mình). Phải phát triển những tình bạn sâu xa với nhiều người nam lẫn nữ, đừng để bị sự cô lập xã hội và khó khăn trong các mối tương quan dồn ép.
6) Tìm kiếm sự bình an: Không nên để bị tâm trạng lo lắng trầm trọng xâu xé, mà nên tìm chữa lành và bình an qua việc xưng tội.
7) Nhìn vào lý tưởng: Từ bỏ gia đình vì Nước Trời là sự thăng hoa bản năng tính dục: hãy thành thật nhìn nhận thất bại: [Hai sức mạnh đối nghịch hằng giao chiến trong tôi khiến những điều tốt tôi muốn làm tôi lại không làm được và những điều xấu tôi không muốn làm thì tôi lại làm. Ai cứu tôi khỏi cái xác hay chết này? – Ơn Ta đủ cho con] (x. 2 Cr 12:7-9)
8) Trợ lực cảm thông: Tình bạn chia sẻ đem lại khuây khỏa và nâng đỡ chống lại chiến đấu bên trong và áp lực bên ngoài. Đã có chiến đấu là có chiến thắng và chiến bại. Hãy lấy thất bại làm bài học chiến thắng: thua keo này bày keo khác! [“Ai từng chiến thắng mà không hề chiến bại? Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần? Nhưng đây chưa phải trận sau cùng chiến đấu!”]
9) Chia sẻ chữa trị: Thái độ mới thích hợp của việc điều trị nhóm: Những tình bạn sâu sắc khiến người ta cởi mở chia sẻ những cuộc chiến đấu, công khai nhìn nhận mình thủ dâm, nhóm không bối rối hay bình luận tiêu cực gì, là một nâng đỡ rất lớn trong việc hội nhập tính dục với tu đức, thăng tiến đời sống thiêng liêng.
10) Trợ giúp thiêng liêng: Tính dục là một chiều kích của đời sống con người ảnh hưởng đến cuộc hành trình thiêng liêng một cách sâu xa. Những can thiệp thiêng liêng cũng ảnh hưởng trên tính dục một cách sâu xa. Sự trợ giúp thiên linh là một khí cụ hùng mạnh trong việc biến đổi sự yếu hèn và chán nản của con người.
Do đó, phải khuyến khích chạy đến với sức mạnh của cầu nguyện, của các bí tích, của khổ chế, của việc linh hướng thường xuyên.
Xin thương bảo vệ hương thanh khiết, Sợ lúc đêm về giữa cô đơn, Lợi dụng tối tăm thần quỷ quyệt, Phóng tên ác độc giết tâm hồn.
Che chở trí lòng luôn thoát khỏi, Dục tình cường bạo cứ đuổi theo, Và muôn cảm nghĩ đầy tội lỗi, Cho mảnh hồn thiêng mãi yêu kiều.
Thánh Thi Kinh Chiều Thứ Ba Tuần IV TN
11) Ý thức cam kết ơn gọi: Chú tâm sống cam kết độc thân, rèn luyện tỉnh thức, điều độ.
12) Sức mạnh của lời cầu nguyện: Dĩ nhiên phải luôn khiêm tốn cầu nguyện. Chúa Giêsu dạy: “Các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn để khỏi sa chước cám dỗ, tinh thần thì nhẹ nhàng chóng vánh, nhưng xác thịt lại nặng nề yếu đuối”
Thánh Phaolô chia sẻ: “Ai trong anh em yếu đuối mà tôi không cảm thấy yếu đuối, ai trong anh em sa ngã mà tôi không cảm thấy như thiêu như đốt” (2Cr 11,29).
13) Đồng hành tin cậy: Người trợ giúp phải tỏ ra đáng tin cậy, niềm nở đón tiếp vô điều kiện và sẵn sàng đồng hành với đương sự trong những chiến đấu của đương sự khiến đương sự cảm thấy thoải mái và tin tưởng. Có thế mới giúp hội nhập tính dục và ơn gọi độc thân.
(Slideshow NỞ HOA CHO CUỘC ĐỜI)
BÀI ĐỌC THÊM
THỦ DÂM TRẺ NÍT VÀ TUỔI DẬY THÌ
Hiện tượng bé trai 3, 4 tuổi sờ mó cơ quan sinh dục không phải là biểu hiện phát dục sớm. Sự trưởng thành tâm sinh lý của con người là một quá trình phát triển liên tục, nên một số vùng hưng phấn trên thân thể (bộ phận sinh dục) bị đánh thức trước tuổi dậy thì.
Trẻ mới sinh khi bú mẹ giống như quá trình hưng phấn tính dục của người lớn. Trẻ 7-8 tháng mân mê bộ phận sinh dục, làm một số động tác kẹp đùi,… Trẻ trai 3, 4 tuổi phát hiện cảm giác dễ chịu, là lạ ở "chồi nụ" của mình qua một kinh nghiệm ngẫu nhiên: lúc mắc tiểu, được cha mẹ kỳ cọ làm vệ sinh khi tắm rửa, cọ xát vào quần khi đùa nghịch, đi lại,…hoặc cũng có thể do bệnh tật (phimosis - chít hẹp bao da quy đầu gây viêm nhiễm ngứa ngáy phải gãi liên tục) từ đó chợt phát hiện và khơi dậy tiềm năng hưng phấn tính dục, dẫn đến thích thú và đòi hỏi loại khoái cảm này.
Xét về bản chất, mục đích trò chơi tính dục của trẻ là phi tính dục, vui chơi và giao hữu nhưng trong chiều sâu nội tâm không lý giải và ý thức được điều đó. Đừng áp đặt "Tabu văn hoá" của mình lên trẻ, không la mắng trách phạt trẻ, mà nên làm phong phú sinh hoạt của trẻ một cách đa dạng, thú vị:
- hướng trẻ vào những trò chơi trí tuệ: vẽ, nặn, xếp giấy…
- hạn chế không để trẻ bị kích thích trong môi trường dẫn đến hoạt động tính dục (trèo cây, ôm gối, ngủ chung giường với cha mẹ...).
- hướng dẫn một số thường thức về tính dục bình thường, dạy cách giữ vệ sinh, giúp trẻ hiểu về cơ quan sinh dục, cách tự bảo vệ mình tránh khỏi bệnh tật, những thói quen xấu, tránh bị xâm hại tình dục.
Để giải đáp mọi thắc mắc hóc búa của trẻ về tính dục:
- Nên có thái độ tự nhiên ôn hoà, thẳng thắn, không nói dối, không cần trả lời quá tỉ mỉ.
- Giải thích ngắn gọn về cơ quan sinh dục, khuyên trẻ tự bảo vệ mình như thế nào, không thể tự tiện đùa nghịch "cái ấy''.
- Trả lời kiên quyết, rõ ràng, không nên dài dòng, liên tưởng.
- Nên nói nhẹ nhàng, không nên mắc cỡ hoặc gây cảm giác sợ hãi hay thần bí.
`
Ai cũng trải qua thời kỳ "khủng hoảng" của tuổi dậy thì, những thay đổi về tâm sinh lý gây cho ta tinh thần bất an và khơi gợi trí tò mò về những điều không biết trước được.
So với thế hệ trước, lớp trẻ thời nay dậy thì sớm hơn, nghĩa là độ chín về mặt giới tính đến sớm hơn. Nhưng có một điều là sự chín chắn về mặt xã hội và tâm lý lại chậm hơn so với thế hệ trước. Tuổi trẻ hôm nay dường như nông nổi hơn, tự do hơn trong việc quyết định cuộc sống của mình.
Những nét đặc trưng tâm lý của tuổi hoa niên thì bao đời nay vẫn thế:
. Một số bạn gái xuất hiện kinh nguyệt từ 10-12 tuổi,
. Một số bạn trai 12-14 tuổi đã có những giọt tinh trùng đầu tiên trong những giấc mơ (mộng tinh) hoặc do thủ dâm.
Tâm trạng của người trong cuộc phụ thuộc vào hiểu biết của bản thân về hiện tượng này, nếu được đọc sách hoặc được cha mẹ thầy cô và người đi trước chỉ dẫn thì sẽ bớt lo âu, sợ hãi, chỉ còn lại sự hồi hộp.
Các em gái lúc này vóc dáng đã mềm mại uyển chuyển hơn, làn da mịn màng hơn, đã quan tâm đến bộ ngực của mình, e thẹn khi mặc thêm chiếc áo lá hoặc chiếc nịt ngực bên trong lần áo ngoài, hơi chùng người xuống hoặc ôm cặp phía trước để che đi phần nào độ lớn của chúng. Một số em khác lại ngượng ngùng, thậm chí cảm thấy bất hạnh, khi đến tuổi này mà ngực vẫn phẳng lì "trước sau như một". Cả hai trường hợp đều bộc lộ sự thiếu tự tin.
Tình cảm lứa tuổi này rất dễ biến đổi, dễ xúc động và biểu hiện tính hai cực rõ rệt: các em thường tự khép kín thế giới nội tâm của mình đồng thời lại có cảm giác mình cô độc. Nếu không được giải toả tâm lý dễ dẫn đến trầm cảm.
Ngoài ra xuất hiện những đặc điểm này: Tính đối kháng và tính phục tùng, tính độc lập và tính ỷ lại, tâm lý ất an, thích kết bạn, lòng tự trọng cao…
Nhiều cô còn hay ghen tị với người khác hoặc mặc cảm tự ti về bản thân một cách thái quá...
Con trai khi bước vào tuổi dậy thì cũng có một số biến đổi về cơ thể và tâm lý để dần trở nên người đàn ông trưởng thành: lông tóc mọc rậm và mau dài hơn, mọc ria mép và râu ("nam tu nữ nhũ"), cục yết hầu nổi lên ở cổ, "vỡ giọng", mọc mụn trứng cá ở trên mặt..., tăng chiều cao và bắp thịt tạo nên dáng vẻ riêng của phái mạnh. Các cậu bắt đầu quan tâm đến nửa kia của mình và luôn sẵn sàng ra tay giúp đỡ người khác, thể hiện chí khí nam nhi của mình.
Tâm tính thay đổi thất thường: hay nổi nóng, lòng tự ái cao, hay chống đôi người cùng phái (cha, anh, thầy giáo...); có bạn hay chải chuốt, ăn diện gây sự chú ý cho mọi người, có bạn lại ăn mặc xuề xoà - "bụi bụi" đến mức... phủi ra bụi - vì cho rằng chỉ có phe tóc dài mới hay đi shopping và quan tâm đến vẻ bề ngoài.
Vì tâm lý bốc đồng hay nổi máu anh hùng nên các cậu dễ bị sa đà hoặc bị kẻ xấu lôi kéo, lợi dụng.
Cũng có những bạn gặp "trục trặc" trong tiến trình phát triển giới tính mà chúng ta quen gọi là những người thuộc "giới tính thứ ba“ (á nam á nữ).
VI. VẤN ĐỀ ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI
(Slideshow DẪU CON LÀ AI)
Nằm vắt tay lên trán ta nghĩ đến chuyện cuộc đời, ngồi bấm đốt ngón tay ta nghĩ đến chuyện ngày qua. Nằm vắt tay lên trán ta nghĩ đến chuyện bây giờ, ngồi bấm đốt ngón tay ta nghĩ đến chuyện ngày mai.
1. NHẬN ĐỊNH
Theo trình thuật sáng tạo loài người trong sách Sáng Thế (St 2,18-24) và theo quan niệm Âm-Dương Á đông, người nam và người nữ hấp dẫn nhau, cần nhau, gắn bó nhau và bổ túc cho nhau, tạo một thế quân bình tự nhiên, được biểu lộ đặc biệt trong đời sống hôn nhân.
Cuộc sống tu trì thiếu mất sự quân bình tự nhiên đó. Nếu không thiết lập được và sống trong một thế quân bình siêu nhiên trong các môi trường đồng giới nam và đồng giới nữ (bằng đời sống cầu nguyện, đời sống huynh đệ cộng đoàn, tận tụy với sứ vụ), thì sự cuốn hút đó có thể được bù trừ bởi một sự chuyển hóa tâm lý, vì trong mỗi con người đều có cả hai yếu tố nam và nữ; yếu tố này có thể trội hơn yếu tố kia tùy người
Sự chuyển hóa tâm lý này có thể đưa tới một mối tương quan thiếu quân bình hay lệch lạc trong ứng xử tình cảm và giới tính ở một số đôi bạn đồng giới, nhưng không hẳn đã là đồng tính luyến ái thực thụ, dù có thể đưa tới đồng tính luyến ái.
Ngày nay, nền văn minh lấy cái tôi làm trọng tâm, tôn thờ vật chất, hưởng thụ khoái lạc nhục dục, suy thoái đạo đức làm nảy sinh và gia tăng tình trạng đồng tính luyến ái (như sẽ trình bày dưới đây).
Trong bối cảnh ấy, người ta nghi ngại và lo sợ đến đỗi nhầm lẫn với cả những tình bạn thân thiết tốt lành, vốn mang lại nhiều lợi ích lớn lao trong mọi lãnh vực cuộc sống, nhất là khi có được người bạn tri âm tri kỷ, có thể nói được với nhau bất cứ điều gì hầu giúp nhau sửa chữa nên tốt: “Thầy không còn gọi các con là tôi tớ nữa, Thầy gọi các con là bạn hữu của Thầy, vì tất cả những gì nghe biết nơi Cha Thầy thì Thầy tỏ cho các con biết”
Tuy nhiên cũng có những tình bạn làm tha hóa cuộc đời con người. Vì thế mà có sự lo lắng trước những biểu hiện tình bạn thân thiết trong các môi trường đồng giới nam hay nữ, khiến những người có trách nhiệm đào tạo, đánh giá và cất nhắc các ứng sinh thường lo lắng và đề phòng trước những biểu hiện tình cảm giới tính không phù hợp với đời sống linh mục và tu sĩ, đặc biệt vấn đề đồng tính luyến ái.
Nỗi lo của các ngài là chính đáng. Chúng ta kính trọng, cảm thông chia sẻ trách nhiệm của các ngài và nhận ra động lực yêu thương của các ngài.
Nhưng cách hiểu và đánh giá chính xác bản chất đồng tính luyến ái là gì? thế nào? cũng như cách thức và mức độ của các biện pháp phòng ngừa và giải quyết thì cần được quan tâm làm sáng tỏ, đưa tới hiệu quả tích cực, trong đào tạo cũng như trong cuộc sống sứ vụ.
2. ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI LÀ GÌ?
a. Hiện tượng đồng tính luyến ái trong Kinh Thánh 1) Kinh Thánh Cựu Ước.
Tính dục đồng giới hay đồng tính luyến ái không phải là điều mới lạ, nhưng đã có từ xưa vì bản tính tội lỗi của con người. Trong tiếng Anh có danh từ sodomy (từ tên thành Sôđoma) mô tả những hành động kết hợp tội lỗi giữa những người nam với nhau.
Trong Kinh Thánh Cựu Ước, thuật ngữ này phát xuất từ tên thành phố Sôđôma là thành phố tội lỗi đã bị Chúa hủy diệt bằng lửa. Khi Chúa sai hai thiên thần đến giải cứu gia đình ông Lót, cháu ông Ábraham, cư ngụ tại Sôđôma thì dân thành Sôđôma đã đòi có những hành động tội lỗi với hai thiên sứ mà họ nghĩ là hai người đàn ông:
“Hai sứ thần đến thành Xơ-đôm vào buổi chiều; ông Lót lúc ấy đang ngồi ở cửa thành Xơ-đôm. Vừa thấy các ngài, ông Lót đứng lên ra đón các ngài và cúi sấp mặt xuống đất.2 Ông nói: "Thưa các ngài, kính xin các ngài ghé lại nhà tôi tớ các ngài đây để nghỉ đêm và rửa chân, rồi sớm mai các ngài tiếp tục đi đường." Họ đáp: "Không! Chúng tôi sẽ nghỉ đêm ngoài đường phố."3 Nhưng ông nài nỉ các ngài mãi nên các ngài ghé lại và vào nhà ông. Ông làm tiệc đãi các ngài, nướng bánh không men, và các ngài đã dùng bữa.4 Các ngài chưa đi nằm thì dân trong thành, tức là người Xơ-đôm, bao vây nhà, từ trẻ đến già, toàn dân không trừ ai.5 Chúng gọi ông Lót và bảo: "Những người vào nhà ông đêm nay đâu rồi? Hãy đưa họ ra cho chúng tôi chơi."
6 Ông Lót ra trước cửa gặp chúng, đóng cửa lại sau lưng,7 rồi nói: "Thưa anh em, tôi van anh em đừng làm bậy.8 Đây tôi có hai đứa con gái chưa ăn ở với đàn ông, tôi sẽ đưa chúng ra cho anh em; anh em muốn làm gì chúng thì làm, nhưng còn hai người này, xin anh em đừng làm gì họ, vì họ đã vào trọ dưới mái nhà tôi."9 Chúng đáp: "Xê ra! Tên này là một ngoại kiều đến đây trú ngụ mà lại đòi xét xử à! Chúng tao sẽ làm dữ với mày hơn là với những tên kia! " Họ xô mạnh ông Lót và xông vào để phá cửa.10 Nhưng hai người khách đưa tay kéo ông Lót vào nhà với mình, rồi đóng cửa lại.11 Còn những người đứng ngoài cửa, thì các ngài làm cho chúng ra mù, từ người nhỏ nhất đến người lớn nhất, khiến chúng không sao tìm ra cửa.
12 Hai người khách nói với ông Lót: "Ông còn ai ở đây nữa không? Con rể, con trai, con gái, và tất cả những gì ông có trong thành, hãy đưa ra khỏi nơi này."13 Chúng tôi sắp phá huỷ nơi này, vì tiếng kêu trách dân thành quá lớn trước nhan ĐỨC CHÚA, và ĐỨC CHÚA đã sai chúng tôi đến huỷ diệt chúng" (St 19,1-13)
Khi con dân Chúa đi qua sa mạc vào Đất Hứa, Chúa đã ban luật lệ cho họ và một trong những điều luật đó là: Chớ ăn nằm với người nam như người ta ăn nằm với người nữ; đó là một điều quái gở. Nếu một người nam ăn nằm với một người nam khác, hay một người nữ ăn nằm với một người nữ khác, thì hai người đó hẳn phải bị xử tử, vì họ đã làm một điều gớm ghiếc; máu họ sẽ đổ lại trên mình họ (Lêvi ký 18,22 “Ngươi không được nằm với đàn ông như nằm với đàn bà: đó là điều ghê tởm”; 20,13 “Khi người đàn ông nào nằm với một người đàn ông như nằm với đàn bà, thì cả hai đã làm điều ghê tởm; chúng phải bị xử tử, máu chúng đổ xuống đầu chúng”).
2) Thánh Kinh Tân Ước,
Thánh Phaolô đã viết trong thư gửi các tín hữu tại Rôma, thủ đô đế quốc Lamã lúc bấy giờ, mô tả về tình trạng tội lỗi của con người. Ông viết: “Họ buông theo dục tình đồi bại. Đàn bà không quan hệ theo lẽ tự nhiên, mà lại làm điều trái tự nhiên.27 Đàn ông cũng vậy, không quan hệ với đàn bà theo lẽ tự nhiên, mà lại đem lòng thèm muốn lẫn nhau: đàn ông bậy bạ với đàn ông. Như vậy là chuốc vào thân hình phạt xứng với sự lầm lạc của mình” (Rm 1, 26-27).
Trong thư gởi cho tín hữu tại Corinthô, ông viết: “Những kẻ tà dâm, thờ thần tượng, ngoại tình, đồng tính luyến ái, trộm cắp, tham lam, say sưa, chưởi rủa, cướp giật sẽ không được thừa hưởng nước Chúa” (Thư 1 Cor 6,10).
b. Nói rõ hơn về đồng tính luyến ái
Không nên vội vàng kết luận một người là đồng tính luyến ái, dù thấy có sự thúc đẩy và vài ứng xử có liên quan.
Đồng tính luyến ái đích thực là khi hai người cùng phái có sự thu hút dai dẳng, có đáp ứng xúc cảm và ứng xử tính dục với nhau, nghĩa là người ước muốn nhục dục tìm cách thực hiện ước muốn đó bằng những hành động nhục dục với một người cùng phái.
Nguồn gốc đồng tính luyến ái là do di truyền hay do lượng hooc-môn dị thường. Phân tâm học cho là do những xáo trộn sâu xa trong tương quan cha-mẹ-con-cái, nhất là khi một người quá ràng buộc thân thiết có sức hấp dẫn cám dỗ. Những yếu tố hoàn cảnh, tâm lý, văn hóa, xã hội, sinh học làm hiện tượng đồng tính luyến ái trở nên phức tạp.
Người đồng tính luyến ái có sự khiêu dâm trổi vượt đối với người đồng phái khác. Nhưng người đó cũng phải đau khổ chịu đựng sự thiếu hụt trong nam tính hay nữ tính của mình.
Đồng tính luyến ái cũng có thể là một khao khát sự gắn bó đã bị mất (đối với cha hay mẹ).
Đồng tính luyến ái được xã hội ngày nay chấp nhận nhiều hơn, nhưng vẫn là nguồn lo âu đối với nhiều người. Thậm chí có một ít nước cho những đôi đồng tính luyến ái qui chế hôn nhân nữa! Giáo Hội và những người có lương tri kịch liệt phản đối.
Một người khác tính luyến ái sẽ phải đau khổ khi có thể chạm trán với người đồng tính luyến ái, dù không thường xuyên.
Ba tầm mức đánh giá một người có phải thực sự là đồng tính luyến ái không:
- hấp dẫn: ai hấp dẫn, nam/nữ?
- khiêu gợi: ai khiêu dâm và gợi tình?
- từng trải: những hành vi tính dục ấy làm thỏa mãn thế nào?
c. Thái độ đối xử tích cực
Người trợ giúp phải cẩn thận lắng nghe không kết án và đón nhận vô điều kiện, đồng thời giúp đương sự phân biệt có phải là đồng tính luyến ái đích thực hay ứng xử ấy chỉ do hoàn cảnh ép buộc hay một yếu kém đạo đức.
Phải nhân ái với họ, vì họ là nạn nhân của chính hướng chiều yếu đuối của họ: “Có ai trong anh em yếu đuối mà tôi không cảm thấy yếu đuối, có ai trong anh em sa ngã mà tôi không cảm thấy như thiêu như đốt” (Thánh Phaolô)
3. LẬP TRƯỜNG CỦA GIÁO HỘI
Huấn Thị của Bộ Giáo Dục Công Giáo về những tiêu chuẩn để biện phân ơn gọi đối với những người có khuynh hướng đồng tính luyến ái và việc chấp nhận họ vào Chủng Viện và lên Chức Thánh do Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI phê chuẩn ngày 31-08-2005 và ra lệnh phát hành tại Roma ngày 04-11-2005, lễ kính nhớ thánh Charles Bôrrômêô, Bổn Mạng các Chủng Viện, được ấn ký do
Đức Hồng Y ZENON GROCHOLEWSKI, Bộ Trưởng
Đức Cha J. MICHAEL MILLER, C.S.B., Thư Ký
Cần phải có một sự biện phân kỹ càng những vấn đề liên quan đến lãnh vực tình cảm và giới tính, trong suốt thời gian đào tạo, và cả về sau nữa.
Huấn thị đưa ra những quy tắc liên quan đến một vấn đề đặc biệt càng lúc càng cấp bách do tình huống hiện tại gây ra, đó là: Có được chấp nhận vào Chủng Viện và lên Chức Thánh những ứng sinh có khuynh hướng sâu nặng về đồng tính luyến ái không?
Ứng sinh phải luôn ý thức rằng toàn bộ đời sống phải được điều khiển bởi việc hiến dâng toàn thân, và phải đạt tới một sự trưởng thành tình cảm và tính dục. Sự trưởng thành này cho phép đương sự có được những tương quan thích đáng với cả người nam và người nữ.
Giáo lý Công giáo phân biệt những hành động đồng tính luyến ái và những khuynh hướng đồng tính luyến ái.
Truyền Thống Giáo Hội vẫn luôn xem những hành động đồng tính luyến ái là những hành động vô luân tự bản chất và ngược lại với luật tự nhiên. Vì thế, không có trường hợp nào trong những hành động này được chấp thuận.
Những khuynh hướng đồng tính luyến ái đã bám rễ sâu mà người ta thấy nơi một số người nam cũng như nữ được xem là vô trật tự và thường là một thử thách khó vượt qua đối với những người này.
Tuy nhiên, những người này phải được tiếp đón cách kính trọng và tế nhị, tránh mọi phân biệt đối xử bất công. “Trái lại, phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô” (Eph 4:32).
Giáo hội, dù vẫn kính trọng sâu xa những người này, không thể chấp nhận vào chủng viện và vào các chức thánh những người thực hành đồng tính luyến ái, có những khuynh hướng đồng tính luyến ái đã bám rễ sâu và ủng hộ cái được gọi là văn hóa đồng tính nam, vì thiếu những tương quan chính đáng với những người nam và người nữ khác.
Trái lại, những khuynh hướng đồng tính luyến ái dù chỉ là biểu hiện của một vấn đề tạm thời, chẳng hạn như vấn đề của tuổi thanh niên chưa được hoàn tất, cũng phải được vượt qua ít là ba năm trước lúc truyền chức phó tế.
Như thế, nếu mới chỉ là khuynh hướng đồng tính luyến ái và có thể chữa trị với thời gian thì không bị ngăn trở. Phải phân biệt hiện tượng và bản chất: Hiện tượng sẽ qua đi, bản chất mới khó thay đổi.
Nếu một ứng sinh thực hành đồng tính luyến ái hoặc có những biểu hiện của khuynh hướng đồng tính luyến ái đã ăn rễ sâu xa, thì vị linh hướng cũng như cha giải tội của ứng sinh, có bổn phận lương tâm ngăn cản anh không tiến tới việc Truyền chức.
Thật là không ngay thẳng trầm trọng khi một ứng sinh nào che dấu việc đồng tính luyến ái của mình để đạt tới các chức thánh cho bằng được. Một thái độ không trung thực như thế là không phù hợp với tinh thần chân lý, tinh thần ngay thẳng và sẵn sàng phục vụ Chúa Kitô và Giáo Hội.
4. THÁI ĐỘ PHẢI CÓ
Căn cứ vào những khảo sát khoa học và lập trường của Giáo Hội, chúng ta phải có cái nhìn thấu cảm và thái độ tôn trọng, tin tưởng đối với nhau, không phán đoán thiếu cơ sở và vội vàng kết luận những ai đó là đồng tính luyến ái.
Dù có nghi ngờ những ai đó có biểu hiện đồng tính luyến ái cũng không được phân biệt đối xử, cô lập hay tẩy chay, không những lỗi bác ái mà lỗi cả đức công bằng. Nhất là khi điều nghi ngờ thực tế không có thì ai sẽ đền bù sự oan uổng bất công đó?!
Phải lấy tinh thần bác ái huynh đệ mà trực tiếp trao đổi chỉ bảo (như Chúa Giêsu đã dạy), lấy tinh thần siêu nhiên mà cầu nguyện và phó thác cho Chúa định liệu, nhẫn nại chờ đợi vì cuộc sống thực mỗi ngày sẽ mạc khải đúng chân tướng con người: “Vì chẳng có gì bí ẩn mà lại không trở nên hiển hiện, chẳng có gì che giấu mà người ta lại không biết và không bị đưa ra ánh sáng” (Lk 8:17).
Không tìm cách xen vào cuộc đời người khác: “Tôi nghe nói trong anh em có một số người sống vô kỷ luật, chẳng làm việc gì, mà việc gì cũng xen vào” (2 Tx 3: 11).
Không ác ý theo dõi, rình mò dò xét để báo cáo bằng thư nặc danh; cũng không nhận làm ăng-ten tố cáo nhau, vì như thế sẽ tạo nên nghi ngờ thù oán nhau, làm mất bầu khí bình an, tin tưởng và thương yêu, là cái cần thiết để xây dựng cộng đoàn: “Anh em đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp, để xây dựng và làm ích cho người nghe” (Eph 4:29).
Phải nhớ lời Chúa Giêsu bảo Phêrô: “Nếu Thầy muốn nó ở lại cho đến khi Thầy đến, việc gì đến con, con hãy cứ theo Thầy”- “Các con đừng xét đoán để khỏi bị xét đoán; các con đong bằng đấu nào thì sẽ đong trả lại bằng đấu ấy cho các con”
Hãy cho người biết lỗi, cho họ cơ hội sửa lỗi, và cho họ thời gian nữa, vì không ai một sớm một chiều mà sửa ngay được. Tin tưởng vào sự biến đổi tốt đẹp trong tương lai (“nhân thùy vô quá, hữu quá tắc cải, thị vị vô quá”): Mỗi vị thánh đều có một quá khú, và mỗi tội nhân đều có một tương lai.
Trái lại, người có trách nhiệm sẽ đích thân kiểm soát bằng sự phục vụ đầy chăm sóc và gần gũi yêu thương. Nhờ đó sẽ phát hiện kịp thời và có cách thích hợp nhất để uốn nắn, đào tạo với lòng cảm thông.
Trong trường hợp biết rõ ai đó có đồng tính luyến ái thật và để tránh thiệt hại lớn cho cộng đoàn lẫn đương sự, sau khi đã trực tiếp làm mọi cách có thể, và nhất là cầu nguyện, hãy theo lương tâm, can đảm đích thân kín đáo trình bày với Bề trên và sẵn sàng chịu trách nhiệm kiểm chứng về điều mình nói.
Các đôi bạn thân thiết cũng hãy dè dặt, khôn ngoan và bác ái tránh gây cớ hiểu lầm cho người khác: không thường xuyên chỉ đi lại vui chơi tâm sự với nhau, song mở ra với mọi người; nhất là tránh những biểu lộ tình cảm quá thân mật về mặt thể lý…
Nhưng cũng đừng vì sợ con mắt nhòm ngó, tỵ nạnh mà xa tránh nhau làm tổn thương tình bạn cao đẹp đã có. Mười hai tông đồ, mà Chúa Giêsu vẫn thân tín hơn với Phêrô, Giacôbê và Gioan, nhất là Gioan đó thôi, dù vẫn có vài hiểu lầm và bất bình!
Hồn con thương để xa rời,
Những niềm ân oán mưu đời ghét ganh;
Bao nhieu vị kỷ thấp hèn,
Tay Ngài giải cứu vững bền con đi.
Ngàn năm con vẫn kiên trì,
Yêu người yêu Chúa ngại gì nước non,
Dầu cho sông cạn núi mòn,
Tình con sau trước vẫn còn thiết tha.
Thánh Thi Kinh Sách Thứ Năm Tuần I TN
Cuộc sống hiên ngang đầy can đảm,
Mưu thần chước qủy biết phòng xa,
Khổ đau không để chồn chân bước,
Nẻo chính hằng theo bỏ lối tà.
Không ngừng bảo vệ luôn gìn giữ,
Thể xác tâm linh mãi vẹn toàn,
Đốt lửa cháy bừng tin cậy mến,
Tiểu trừ tà ý khỏi tâm can…
Đoan trang đức hạnh ngay từ sớm,
Tựa buổi ban mai dệt nắng hồng,
Lửa nóng tin yêu thành chính ngọ,
Tâm thần sẽ thóat khỏi cảnh hòang hôn.
Thánh Thi Kinh Sáng Thứ Hai Tuần I TN
Cho con được tràn đầy thanh thản,
Đổi mới con xán lạn chói lòa,
Chẳng chi xảo trá điêu ngoa,
Sạch từ vạn ý sạch ra muôn lời.
Ngày sáu khắc êm trôi lặng lẽ,
Chúa ngăn ngừa chẳng để phút giây,
Tay chân miệng lưỡi hình hài,
Buông theo tội lỗi mà đầy bợn nhơ.
Chúa theo dõi đường tơ kẻ tóc,
Nhìn xem ta thấu suốt ngọn nguồn,
Công to việc nhỏ ngàn muôn,
Từ bình minh tới hoàng hôn rõ ràng.
Thánh Thi Kinh Sáng Thứ Năm Tuần I TN
Ước mong đời sống có tình,
Sầu thương vương nhẹ như hình mây bay, Rồi ra phải trái có ngày,
Ai đời đi trả nợ nần chẳng vay,
Phù sinh một phút trắng tay,
Hơn nhau một chút dở hay ở đời,
Xét đoán là việc Chúa Trời,
Ai mà kết án những người anh em,
Mặt mình cũng có lọ lem,
Tiên vàn lo rửa pha dèm làm chi?
Hận thù hãy mau lấp đi,
Yêu thương xây dựng khắc ghi trí lòng,
Sống sao đáng được khoan hồng,
Trong ngày thẩm phán chí công sau cùng.
VII. NHỮNG YẾU TỐ NỒNG CỐT CỦA TRƯỞNG THÀNH TÌNH CẢM
1. DẤU HIỆU CỦA SỰ THIẾU TrƯỞng thành
Có thể xác định được cái tạo nên sự trưởng thành tình cảm không? Ta hãy cố gắng xem xét các thành phần cấu tạo nền tảng của nó để có thể định nghĩa trưởng thành tình cảm như sự hòa điệu giữa trí óc và con tim.
Trí óc (Lý trí): là phía hữu lý của con người; khả năng suy nghĩ hợp lý; khả năng theo đuổi mục đích; khả năng lấy quyết định; khả năng điểu chỉnh với thực tại (đối với Freud, đây là “tiến trình đệ nhị”)
Con tim: là phía tình cảm của con người; các cảm nhận, các nhu cầu, các ước vọng, các thúc đẩy, các giấc mơ (đối với Freud, đây là “tiến trình đệ nhất”)
Sự hòa điệu hay hội nhập giữa hai chiều kích căn bản của con người mang lại bình an nội tâm, và đến phiên nó, sự bình an nội tâm tạo nên sự bình an với tha nhân và khả dĩ hòa điệu với thực tại.
Để hiểu thấu đáo trưởng thành là gì, chúng ta hãy nhìn hai hình thức không trưởng thành mà cả con tim và lý trí đều mắc phải.
1) Sự bốc đồng, hấp tấp
Bộc lộ tình cảm ra bên ngoài và hành động theo sự thúc đẩy, không tự chủ thích đáng, như một đứa trẻ con... là cái người ta thường hiểu là “không trưởng thành” hay “tính trẻ con.”
Coi sự thỏa mãn các nhu cầu là ưu tiên để thỏa mãn các ham muốn (được gọi là nguyên tắc lạc thú).
Sự thiếu tự chủ có thể chỉ giới hạn ở một hay hai lãnh vực, chẳng hạn kiềm chế cơn giận bùng nổ hay những khó khăn giới tính.
Có thể có nhiều cách bộc lộ khác nhau của hình thức không trưởng thành này, tùy thuộc vào các nhu cầu và cảm xúc thoát khỏi sự kiểm soát.
Việc này có thể dẫn đến xung đột với tha nhân và xã hội, nếu các hành động do bản năng tác hại cho người khác (như không thể kiểm soát cơn giận hay trạng thái buồn rầu ủ rũ); hoặc xung đột trong bản thân mình, nếu thái độ ứng xử là không thể chấp nhận được đối với lương tâm mình hay ý thức tự trọng (không có khả năng vượt thắng một cảm nhận oán giận đối với người khác).
2) Sự khắt khe cứng cỏi
Sự hoàn toàn kiểm soát trên cảm xúc và ước muốn của mình sẽ đưa tới hậu quả là đánh mất tính tự phát và thích thú.
Người tự kiểm soát được mình thường xem ra “trưởng thành và có trách nhiệm”, như đối nghịch lại với người bị thúc đẩy, bốc đồng. Nhưng một sự kiểm soát như thế thường được bắt rễ trong sự ức chế và được đặc trưng bởi sự khắt khe cứng cỏi.
Trong sự không trưởng thành có ứng xử nghèo nàn hoặc vì sử dụng không thích hợp hoặc vì sự sử dụng thái quá cơ chế tự vệ.
Căn nguyên của tự vệ là sự lo âu. Để kiểm soát nỗi lo âu, người ta cố che đậy chính mình và kẻ khác cái mà người ta không thích.
Khi mọi sự tự vệ bị đập tan, người ta gặp phải sự tê liệt hoàn toàn - đuợc gọi là nỗi lo âu hay sự hoảng loạn tấn công, rất giống với cơn đau tim.
3) Những chỉ dẫn của sự thiếu trưởng thành
Những chỉ dẫn sau đây có thể giúp khám phá sự có mặt của vài bệnh lý nhẹ hay vài nhược điểm căn bản trong nhân cách bên dưới lối ứng xử không trưởng thành - mặc dù cho đến nay vẫn bình thường.
a. Trong tương quan với bản thân
· Tinh thần phòng vệ thái quá;
· Luôn luôn cảm thấy mình bị coi thường;
· Có những phản ứng mạnh không thích hợp làm tình hình căng thẳng;
· Tình trạng trống rỗng và khô khan thường xuyên;
· Thiếu xác tín cá nhân;
· Cẩu thả và thiếu xác thực trong cuộc sống hằng ngày và trong các nhiệm vụ thông thường.
b. Trong tương quan với tha nhân.
· Thui thủi một mình, dường như sống trong một thế giới của riêng mình;
· Có khuynh hướng đánh giá thấp kẻ khác và nhìn họ cách tiêu cực, nhất là khi quá lý tưởng hóa bản thân;
· Người hay gây rối;
· Tính cáu kỉnh trẻ con khi không vừa ý hay co mình lại;
· Mánh khoé lôi kéo kẻ khác cho các nhu cầu tập trung của mình;
· Sự thiếu căn tính bản thân được nhìn thấy trong khuynh hướng lý tưởng hóa các khuôn mặt quyền bính và đồng hóa với họ.
c. Trong tương quan với thực tại
· Không có khả năng đối phó cách xây dựng với thực tại;
· Thường xuyên thiếu óc tập trung;
· Không có khả năng kiên trì trong nhiệm vụ đơn giản, trừ khi được thường xuyên hướng dẫn hay giám sát.
Kết quả đáng suy nghĩ của một cuộc nghiên cứu
· Thời gian mới vào có 60-80% ứng sinh có những mâu thuẫn. Họ vào với lý tưởng bản thân nhưng bị tác động bởi các mâu thuẫn của mình.
· Sau một thời gian khá dài, chỉ có một số nhỏ các ứng sinh trên đã lớn lên trong sự trưởng thành tình cảm. Trong số những người còn lại, các mâu thuẫn vẫn thắng thế và các xung đột vẫn không được giải quyết.
· Thách đố: chương trình đào tạo phải nhìn vào cái tôi sâu xa hơn của mỗi con người.
2. TIẾN ĐẾN SỰ TRƯỞNG THÀNH
1) Bốn đường lối căn bản để bảo vệ chính mình
a. Đường lối thứ nhất: PHỦ NHẬN
Chúng ta gạt bỏ sự hiện hữu của chính mối đe dọa hoặc tính nghiêm trọng của nó, nhờ đó chúng ta không để nó ảnh hưởng lên cuộc đời chúng ta. Chẳng hạn “suy tưởng cách tích cực” thường dựa trên sự phủ nhận. Nó cho phép chúng ta nhìn khía cạnh thú vị của cuộc đời, nhờ đó chúng ta thấy được bầu trời sáng bạc sau đám mây (trong cái rủi vẫn có cái may, họa trung hữu phúc).
b. Đường lối thứ nhì: TRỐN CHẠY
Mối đe dọa quá nghiêm trọng khiến chúng ta trốn chạy khỏi nó, và trốn đi càng xa càng tốt nếu chúng ta có thể (tam thập lục kế, vi tẩu thượng sách). Cảm nhận bên trong về sự không an toàn có thể được đặt sai chỗ trên thực tại bên ngoài, khiến chúng ta phải sợ và tránh nó. Đây là những ám ảnh về ma quái, bóng tối, gặp người nọ kẻ kia…
c. Đường lối thứ ba: CHIẾN ĐẤU
Thay vì chạy trốn, chúng ta chuẩn bị mình để chiến đấu. Chúng ta dùng sự hiểu biết để kiểm soát nỗi lo âu và bất cứ cái gì nó gây nên, chẳng hạn đọc nhiều về thần học luân lý để biết hầu tránh tội. Chúng ta hỏi ý kiến những người khôn ngoan từng trải để tìm sự an toàn, hoặc chúng ta giữ vật và người dưới sự kiểm soát để tránh sự không chắc chắn.
d. Đường lối thứ tư: MĨM CƯỜI
Như cây tre đong đưa theo gió, chúng ta làm cho mình ra yếu mềm để tránh bị nghiền nát. Chúng ta có thể làm như trẻ con để tránh xung đột hay vẫn ở như trẻ con để tránh thách đố. Thay vì đối mặt với một trách nhiệm, chúng ta có thể cáo bệnh, điều đó cũng có thể cho phép chúng ta được người khác chăm sóc. Chúng ta mĩm cười trước những mối đe dọa và tránh những cuộc tấn công bởi tính ngoan ngoãn, dễ phục tùng.
2) Bốn phương diện của sự trưởng thành
· Tự ý thức
· Tự hiểu mình
· Tự chấp nhận mình
· Tự thay đổi và tự do quyết định
3) Tiêu chuẩn để đánh giá sự trưởng thành tình cảm
Danh sách 12 tiêu chuẩn sau đây như những chỉ dẫn ứng xử có lẽ tương đối dễ thực hiện, được chia ra ba nhóm chính:
a. Thái độ đối với bản thân
- Tinh thần cởi mở và hiểu biết chính mình (ngược lại tinh thần phòng vệ);
- Sự kiểm soát mềm dẻo trên các nhu cầu, cảm xúc, các thúc đẩy (ngược lại tính bốc đồng hấp tấp);
- Giá trị cam kết;
- Cách ứng xử có dự đoán trước, không khắt khe cứng cỏi và căng thẳng quá đáng.
b. Thái độ đối với tha nhân
- Khả năng yêu thương, vừa tình cảm vừa hữu hiệu;
- Các mối tương quan tốt với đồng nghiệp;
- Các mối tương quan tốt với người khác phái;
- Thái độ tốt đối với quyền bính;
- Khả năng lãnh đạo.
c. Thái độ đối với thực tại
- Xét đoán phân minh;
- Khả năng làm việc tốt;
- Ý thức hài hước
VIII. THẾ NÀO LÀ TRƯỞNG THÀNH?
1. Các đặc tính của sức khoẻ tinh thần
Một nhóm các nhà phân tâm học liệt kê các yếu tố của sức khoẻ tinh thần như sau:
- Sự phấn khởi, hoan hỉ
- Tinh thần thanh thản lạc quan
- Khả năng vui thích làm việc
- Khả năng vui thích giải trí
- Khả năng yêu thương
- Khả năng đạt tới mục đích
- Không bộc lộ cảm xúc thái quá
- Tự biết mình cách sâu sắc
- Trách nhiệm xã hội
- Phản ứng thích hợp với mọi cảnh huống.
2. Các chuẩn mực của một con người trưởng thành
Mở rộng ý thức về bản thân: Tham gia vào vài lãnh vực ý nghĩa của nỗ lực nhân loại định hướng cho cuộc sống. Sự trưởng thành tiến tới cân xứng với cuộc sống trở nên tử tế từ cái trực tiếp ồn ào của thân xác và của cái tôi lấy mình làm trung tâm điểm.
Liên kết bản thân với tha nhân có hai khía cạnh: Khả năng sống thân mật sâu xa với tha nhân và Khả năng sống thanh thoát làm cho mình trở thành người không có khuynh hướng chiếm hữu nhưng tôn trọng kẻ khác cách sâu xa.
An toàn tình cảm (chấp nhận chính mình): khả năng mang nổi sự thất vọng (thất bại), chấp nhận lầm lỗi của mình mà không phản ứng quá dữ dội với tha nhân và các biến cố bên ngoài. Một con người như thế đã học được để sống với các trạng thái tình cảm của mình, nhờ đó không bị chúng phản bội lại bằng cách đưa mình vào những hành động bốc đồng quấy rầy cuộc sống hạnh phúc của tha nhân. Người như thế bộc lộ các xác tín và cảm nhận của mình với lòng trân trọng các xác tín và cảm nhận của người khác.
Nhận thức thực tế, các kỹ năng, phận vụ: khả năng đánh giá thực tại đúng như nó là, chứ không như mình mong muốn nó trở thành; có những kỹ năng thích hợp để giải quyết các vấn đề khách quan; có khả năng quên mình vì một nhiệm vụ quan trọng. Tóm lại, một người trưởng thành sẽ va chạm gần gũi với một “thế giới thực”, nghĩa là nhìn xem sự vật, con người và các hoàn cảnh theo cái mà chúng là.
Thể hiện mình cách khách quan: Biết rõ mình và hài hước. Biết rõ mình, một sự hiểu biết đầy đủ về những điểm mạnh và những điểm yếu của mình. Luôn luôn có tinh thần hài hước đi cùng. Có khả năng coi thường những cái mình yêu thích (dĩ nhiên bao gồm cả bản thân và tất cả những gì liên quan đến bản thân), và vẫn yêu thích chúng. Cái trái ngược là sự giả bộ màu mè, tức là khuynh hướng xuất hiện bề ngoài mình là cái gì đó mà thực ra không thể.
Triết lý thống nhất đời sống: một sự hiểu biết rõ ràng về mục đích của cuộc đời trong những hạn từ của một lý thuyết dễ hiểu. Nói cách khác, một hệ thống ý nghĩa và trách nhiệm, một định hướng giá trị, trong đó các hoạt động chủ yếu của cuộc sống được thực hiện.
3. Một con người trưởng thành thể hiện tốt chính mình
Nhận thức cao về thực tại và có những liên hệ thoải mái với nó. Người này phán đoán về các tình huống và con người cách chính xác. Họ không bị đe dọa và hoảng sợ, như người không trưởng thành tỏ ra quá cần thiết đến thê thảm sự chắc chắn, an toàn, sự chính xác và mệnh lệnh.
Sự chấp nhận bản thân và thiên nhiên: Họ cảm thấy thoải mái với thiên nhiên và bản tính con người. Họ chấp nhận toàn bộ các nhu cầu và tiến trình tự nhiên, không chán ghét, nhưng trân trọng các đức tính cao hơn làm nên sự trưởng thành nhân bản.
Tính tự phát: Khả năng thưởng thức nghệ thuật, những thời kỳ tốt lành, cuộc sống thú vị. Không quá câu nệ tập tục, nhưng có thể nắm lấy những kinh nghiệm tột đỉnh về cuộc đời.
Vấn đề tập trung: Làm việc hiệu quả và kiên trì trong những nhiệm vụ khách quan; có thể hy sinh chính mình trong các vấn đề đích thực mà không bận tâm đến bản thân.
Sự thanh thoát: Cần sự riêng tư và tự túc. Tình bạn và sự gắn bó đối với gia đình không bám dai dẳng, không xâm phạm hay chiếm hữu.
Độc lập với văn hóa và môi trường: Liên hệ gần gũi là khả năng để lấy hay để bỏ các thần tượng của thương trường. Dù nịnh hót hay chỉ trích cũng chẳng làm xáo trộn quá trình phát triển căn bản của mình.
Tính chất mới mẻ trong việc đánh giá: dễ cảm với kinh nghiệm mới.
Chân trời không biên giới: quan tâm với bản chất tối hậu của thực tại; những cảm nhận thần bí hay bao la như đại dương là yếu tố tôn giáo trong sự trưởng thành.
Cảm thức xã hội: có một cảm nhận căn bản về thiện cảm và tình thương, bất kể sự giận dữ hay thiếu nhẫn nại thỉnh thoảng xảy ra. Lòng cảm thông đối với đồng loại là một dấu hiệu của sự trưởng thành.
Tương quan xã hội sâu xa và có chọn lựa: có thể có những sự gắn bó cá nhân sâu xa khác thường. Vòng tròn các gắn bó gần gũi có thể nhỏ hẹp, nhưng cũng có thể nhẹ nhàng mở ra với những mối liên hệ bên ngoài quỹ đạo này.
Đặc tính tự do: cảm nhận và tỏ lòng kính trọng đối với bất cứ người nào chỉ vì đó là một cá vị con người; tỏ ra độ lượng trong lãnh vực đạo đức và tôn giáo.
Sự chắc chắn đạo đức: biết sự khác biệt giữa cái đúng và cái sai trong cuộc sống thường ngày; không lẫn lộn phương tiện và mục đích, và cương quyết theo đuổi cho bằng được những mục đích mà mình thấy là đúng.
Ý thức thân thiện của tính hài hước: Không chơi chữ, giễu cợt hay mưu kế thù nghịch, nhưng tự phát hài hước.
Tính sáng tạo: Cách sống có một sức mạnh chắc chắn và một cá tính gây ấn tượng trên bất cứ cái gì mình làm (viết lách, sáng tác hay công việc).
CHƯƠNG HAI
CON ĐƯỜNG SỐNG THÁNH
A. ĐỊNH HƯỚNG TỔNG QUÁT
(slideshow TRĂM PHẦN TRĂM)
Mọi sự đều tùy thuộc ở thái độ của con người. Chính THÁI ĐỘ và CÁI NHÌN của chúng ta đối với cuộc sống làm cho cuộc đời chúng ta nên 100%
Như thế, để vươn đến đỉnh cao nhất và để đạt được 100% trong cuộc sống, điều thực sự giúp chúng ta vươn cao hơn, xa hơn, chính là THÁI ĐỘ và CÁI NHÌN của chúng ta vào cuộc đời, vào ơn Chúa.
Mọi việc đều có giải pháp riêng của nó, chỉ khi chúng ta thay đổi thái độ và cái nhìn của chúng ta, chúng ta mới thực sự tìm được đúng giải pháp cần thiết.
Thái Độ và Cái Nhìn là giải pháp căn bản đứng trước tất cả mọi vấn đề. Hãy thay đổi thái độ và cái nhìn của mình, ta sẽ thay đổi được cuộc đời ta.
Vậy thái độ thích hợp của chúng ta trong những lần gặp mặt này là cùng nhắc nhở nhau về đời sống thiêng liêng, mà ai cũng đã biết, đã sống, đang sống và sẽ tiếp tục mãi, như cha ông chúng ta thường bảo “Dao năng mài thì sắc, lời năng nhắc thì nhớ”
Tuy nhiên, chúng ta cũng đừng quên “Rượu nhạt uống lắm cũng say, lời hay nói mãi cũng nhàm” và “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.”
Đúng hơn là chúng ta chia sẻ và học hỏi lẫn nhau, như hình chữ này diễn tả: TEACH – LEARN. Như thế, chúng ta sẽ nhấn mạnh hơn về cảm nhận thực tế, kiểm điểm đời sống và kinh nghiệm sống, hơn là nặng về lý thuyết.
Không chỉ nhắc nhở, mà còn phải giúp đỡ và nâng nhau dậy nữa, chứ không bàng quang đứng nhìn theo chủ thuyết “mackeno”: “Tưởng rằng chị ngã em nâng, ai hay chị ngã em bưng miệng cười !”
Nhất là nhìn vào lòng nhân hậu của Thiên Chúa, “tội thì tha, lỗi thì sửa”: Cây sậy đã rạp xuống, Ngài không bẻ gãy; tim đèn còn leo lét khói, Ngài không dập tắt.
Chẳng ai có thể biết được và tự bảo đảm ngày mai mình sẽ ra sao. Thật thế, bao lâu còn sống là còn động, nghĩa là còn có biến dịch và thay đổi: Tội nhân có thể trở thành thánh nhân, và thánh nhân cũng có thể trở thành tội nhân: “Tiên cũng có khi đọa, thánh cũng có khi lầm,” phương chi con người hèn yếu chúng ta!
Ta phải sợ rằng “cười người hôm trước hôm sau người cười” và “bảy mươi chưa què chớ khoe mình lành”; nhất là có những lãnh vực con người không ai dám tự cho rằng mình mạnh mẽ cả, như thánh Phaolô chia sẻ: “Có ai trong anh chị em yếu đuối mà tôi không cảm thấy yếu đuối, có ai trong anh chị em sa ngã mà tôi không cảm thấy như thiêu như đốt” (2 Cor 11:29).
Trong khóa học này, chúng ta theo đuổi một mục đích kép: Không những học cho chúng ta hôm nay, mà còn học cho sứ vụ của chúng ta ngày mai nữa. Trong tương lai, anh em sẽ trở thành những linh mục, những nhà lãnh đạo và đào tạo! Chính vì thế mà anh em được chọn vào Chủng viện. Hãy vui sống với lòng biết ơn và trách nhiệm để trau dồi kiến thức và đức độ, chuẩn bị cho thời giờ của Chúa (“sống lâu ra lão làng”).
Mỗi ngày chúng ta tiếp tục biện phân ơn gọi, sống ơn gọi và trang bị cho mình những kỹ năng của người linh mục đích thực như lòng Chúa mong muốn, Giáo Hội tin tưởng và trần gian chờ đợi.
Dù chúng ta được hướng dẫn có một định hướng chọn lựa dứt khoát sớm và nhiều người mong ước "chọn một lần dứt khoát cho tất cả", nhưng thực ra chúng ta phải làm mới lại chọn lựa ấy mỗi ngày trong suốt đời (‘bắt đầu, lại bắt đầu’), thậm chí có khi phải chọn lựa khác đi nữa.
(Hát: XIN GIỮ CON).
B. ĐỊNH NGHĨA ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG
ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG
LÀ ĐỜI SỐNG NHÂN BẢN ĐƯỢC SỐNG
TRONG CHÚA THÁNH THẦN
Định nghĩa này phải hiểu trong tiến trình:
Con Người → Tu Đức Nhân Bản (đạo làm người) → Nhân Bản Thiêng Liêng (đạo làm người/con Chúa) → Thánh Nhân (hiệp thông tình bạn với Chúa: Ga 15,15)
Đời sống nhân bản khởi sự từ khi sinh ra, trải dài cho đến lúc chết, và còn tiếp tục cả sau khi chết, qua danh thơm tiếng tốt hay ố danh tiếng xấu (“Cọp chết để da, người ta chết để tiếng”).
Đời sống thiêng liêng là đời sống nhân bản đó được sống trong Chúa, vì Chúa và cho Chúa: “Dầu ăn, dầu uống, dầu làm bất cứ điều gì khác, anh em hãy làm cho sáng danh Chúa” (thánh Phaolô)
Trong cả hai cuộc sống ấy (nhân bản và thiêng liêng), mỗi người được mời gọi sống tới mức độ trưởng thành tốt nhất, mức độ trọn hảo: “Hãy nên trọn lành như Cha trên trời là Đấng trọn lành” (Mt 5,48), hay nói theo ngôn ngữ hiện nay là “trăm phần trăm”
Chính thái độ sống làm cho cuộc sống đạt tới mức 100%. Vậy thái độ của chúng ta đối với môn Tu Đức này sẽ rất có ý nghĩa. Nó không phải chỉ là một hiểu biết mang tính kiến thức về đời sống thiêng liêng, mà là một cuộc sống. Và nếu là cuộc sống, thì bao lâu còn sống, bấy lâu chúng ta còn học Tu đức, còn thực hành tu đức, sống tu đức và thăng tiến nhờ tu đức.
Tuy nhiên, dường như có sự thiếu liên tục giữa giai đoạn đặc biệt đào tạo chuyên sâu về tu đức như năm đầu tiên mới vào Chủng viện được gọi là Năm Tu Đức, trong đó đời sống thiêng liêng phải vượt trổi hơn đời sống tông đồ, và các giai đoạn đào tạo kế tiếp khác.
Sau giai đoạn đó, việc đào tạo tu đức dần dần bị coi là xong rồi, như đã đạt được một mớ kiến thức về tu đức. Ngoài ra, nhiều khi không có sự tiếp tục đào luyện tu đức có hệ thống trong những năm kế tiếp nữa. Nhưng biết được chưa chắc đã sống được: “Nói thì hay mà vỗ tay thì lỗi” hay như thánh Phaolô thú nhận: "Có những điều tốt tôi muốn làm nhưng tôi không làm được, và có những điều xấu tôi không muốn làm mà tôi lại làm!"
Và cũng thiếu một sự tương tác giữa các môn học khác với môn học và đời sống tu đức. Chớ gì chúng ta có thể chiêm ngắm và cầu nguyện trong và qua các môn học khác.
Chính tinh thần sống tu đức này thổi sinh khí và gia tăng nghị lực cho chúng ta trong việc học các môn học khác nữa [chia sẻ kinh nghiệm năm chuẩn bị thi Thành Chung].
Hầu hết các ngành đào tạo hiện nay đều đòi hỏi một thời gian thực tập, sau khi học xong phần lý thuyết (Y khoa, Sư phạm v.v...). Điều đó càng đúng hơn nữa với đào tạo nhân bản và đào tạo thiêng liêng.
Hai việc đào tạo này luôn luôn gắn kết, quyện lấy nhau và bổ túc cho nhau. Sự trưởng thành nhân bản và thiêng liêng không tùy thuộc vào tuổi tác và địa vị (xem Daniel và hai bậc kỳ lão trong chuyện bà Suzana).
Và cũng vì thế người ta nói đến “nhân đức thật” và “nhân đức ảo.” Còn Chúa Giêsu thì căn dặn “hãy nghe những lời họ nói, nhưng đừng bắt chước việc họ làm, vì họ nói mà không làm.” Và người bình dân Việt Nam lại thách đố: "Làm quan hãy xét cho dân, không tin ngài xuống ngài mần ngài coi!"
Vì thế, hai việc đào tạo nhân bản và thiêng liêng này phải song hành với nhau trong suốt cả cuộc đời mỗi người, trải nghiệm qua thành công và thất bại: “Tiên cũng có khi đọa, thánh cũng có khi lầm.” Nhưng Nguyễn Thái Học an ủi, khích lệ: “Ai từng chiến thắng mà không hề chiến bại, ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần, nhưng đây chưa phải trận sau cùng chiến đấu!”
Ai trong chúng ta cũng có những lần trải nếm kinh nghiệm của thánh Phaolô về hai sức mạnh đối nghịch nhau trong bản thân mỗi người, khiến những điều tốt ta muốn làm thì lại không làm được, và những điều xấu không muốn làm thì ta lại làm.
Hãy chấp nhận những giới hạn, bất toàn và bất lực của mình, càng ngày chúng ta càng trở nên khiêm tốn hơn về chính mình, trước mặt Chúa, cũng như trước mặt người khác.
Và mỗi người chúng ta cũng hãy nghĩ như thế cho tha nhân: bao lâu còn mang nặng thân phận con người, họ cũng có những yếu đuối, sai sót, lỗi lầm, bất toàn và bất lực của họ, dù họ là ai đi nữa: ngang hàng với mình, Bề trên hay bề dưới. Càng chấp nhận họ như họ là như thế, ta sẽ càng trở nên cảm thông với họ hơn, độ lượng với họ hơn, tha thứ và bỏ qua cho họ hơn.
Cảm thông, độ lượng, tha thứ, bỏ qua cho người và khiêm tốn về mình, các mối quan hệ nhân bản của ta sẽ được cải thiện tốt hơn và đời sống thiêng liêng cũng sẽ được phát triển đúng mức.
Cuộc đời nhân bản – thiêng liêng của chúng ta lắm khi cũng “ba chìm bảy nổi chín long đong.” Và tiền nhân chúng ta cũng thường nhắc nhở: “Lênh đênh qua cửa Thần Phù, khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm.”Chớ chi chúng ta biết chìa tay ra cho nhau như Chúa Giêsu đã chìa tay cứu Phêrô khỏi chìm.
Như thế, cuộc đời chúng ta không được biểu diễn như một đường thẳng, mà là những đường gợn sóng hoặc là những đường xoắn trôn ốc.
(slideshow CÙNG ĐI VỚI CHÚA GIÊSU)
Nhưng Thiên Chúa luôn luôn viết thẳng trên những đường cong của cuộc đời của chúng ta.
Vì vậy đào tạo tu đức không chỉ là công việc và nỗ lực của con người, mà là công việc của chính Chúa Thánh Thần và đương sự, cùng với sự cộng tác tích cực của toàn thể Giáo Hội lữ hành, mang sẵn trong mình đủ các yếu tố: cả thần linh và nhân loại, cả thánh thiện và tội lỗi, cả sức mạnh và yếu đuối, cả thương tích và chữa lành…
Chúng ta sẽ cố gắng thực hiện hài hòa việc được đào tạo và tự đào tạo, trong đó việc tự đào tạo của anh em đóng vai chính: “chính ứng sinh là người chịu trách nhiệm trước tiên trong việc huấn luyện chính mình” (PDV 69).
Việc tự đào tạo biến chúng ta thành những sinh vật có xương sống hay có vỏ cứng, luôn luôn tự mình có thể đứng vững được, dù có xây xát và thương tích.
Nếu không có tự đào tạo, thì việc đào tạo chỉ dừng lại ở những lời hoa mỹ của phương diện tri thức lý thuyết, và chỉ tạo nên những sinh vật không có xương sống hay tầm gửi, luôn dựa dẫm vào người khác hay cộng đoàn, dễ vấp ngã khi phải sống một mình.
(slideshow HOA VÀ CHIM)
C. CÁC MỐI TƯƠNG QUAN VÀ CON ĐƯỜNG SỐNG THÁNH
Con người không phải là thiên thần, mà cũng chẳng phải là con vật, nhưng mang sẵn cả hai yếu tố đó, trong mọi chiều kích nhân bản và thiêng liêng.
Tất cả mọi người đều được mời gọi nên thánh qua tiến trình làm người, làm người kitô hữu và làm người tông đồ, nghĩa là thành nhân đã rồi mới thành thánh nhân.
Người đi tu làm linh mục và tu sĩ vẫn không thôi là con người, khi đang nỗ lực nên thánh trong bậc sống ơn gọi và sứ vụ của mình.
VẬY THÁNH THIỆN LÀ GÌ?
Trước hết, sự thánh thiện không phải là, hay không chỉ là:
- một cái gì trừu tượng,
- một cái gì chúng ta mặc vào mình,
- những việc đạo đức tốt lành nào đó trong đời mình,
- một vai trò chúng ta đảm nhận,
- vấn đề luân thường đạo lý,
- một hệ thống tự hoàn hảo của con người,
- chỉ qui về đời sống bên trong của một người...
Sự thánh thiện là tất cả những cái đó ở trong một bối cảnh rộng lớn hơn, nghĩa là, đạt đến sự thánh thiện không chỉ là nỗ lực của con người, nhưng còn là công trình của ân sủng Chúa, qua các mối tương quan của cuộc sống.
Như thế, sự thánh thiện có liên quan đến các mối tương quan, ở trong các mối tương quan và nhờ các mối tương quan. Đã có một thời người ta liên kết sự thánh thiện với việc đọc kinh, thực hành các bổn phận tôn giáo và những việc đạo đức, một cách cá nhân. Thực ra, sự thánh thiện được liên kết chặt chẽ với các mối tương quan với Chúa, với bản thân, với tha nhân và với môi trường thiên nhiên, trong đó tương quan với Chúa là nền tảng.
"Lời mời gọi nên thánh trong mối tương quan sâu xa với Thiên Chúa và lời mời gọi phục vụ và hy sinh dựa trên việc thiết lập những tương quan lành mạnh với mọi người" (Trích Thông cáo báo chí của Hội Nghị Các Giám Mục Á Châu từ 27/8 - 1/9/2007 tại Thái Lan)
Con người muốn nên thánh phải nỗ lực mỗi ngày để nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu (Tình yêu bao gồm và không loại trừ), trong các mối tương quan với Chúa, với chính mình, với tha nhân, với thiên nhiên và với tứ chung, dưới sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần.
Các mối tương quan này rất tương thuộc và tương tác lẫn nhau, nên nếu có cái gì “trục trặc” trong một tương quan thì các tương quan khác cũng bị ảnh hưởng. Chính trong và qua các mối tương quan này mà chúng ta được lớn lên trong sự thánh thiện. Do đó, để có được sự thánh thiện, các mối tương quan này đều phải hòa nhập và giữ đúng vị trí, hài hòa, quân bình và trưởng thành.
Có được các mối tương quan như thế được coi là có được sự thánh thiện. Như vậy, sự thánh thiện không được hiểu theo một cá nhân biệt lập, nhưng theo mối tương quan toàn diện của cá nhân với Thiên Chúa, với tha nhân, với chính mình và với môi trường sống (thiên nhiên) trong viễn ảnh cách chung.
Sự thiếu trưởng thành thiêng liêng của chúng ta là do việc chúng ta thiếu những tương quan đích thực, hay có những tương quan không trưởng thành, những tương quan sai lầm, những ngăn chặn và sợ hãi tâm lý của chúng ta trong những tương quan.
Khi những tương quan vắng mặt trong đời sống chúng ta thì sự thánh thiện cũng vắng mặt. Và khi những tương quan bị ngăn cản trong đời sống chúng ta thì sự thánh thiện cũng bị ngăn cản. Do đó, người ta nói đến sự thánh thiện hay nhân đức ảo và nhân đức thật.
THÁNH THIỆN và TỘI LỖI
Chúng ta cũng cần nói đến mối tương quan giữa sự thánh thiện và tội lỗi:
Tội lỗi và sự thánh thiện nên được hiểu theo những mối tương quan đích thực hay không đích thực. Nếu những mối tương quan của chúng ta là những liên hệ tình yêu không chân chính hoặc thiếu tình yêu đích thực thì lúc đó có tội.
Theo Kinh Thánh, tội lỗi và sự thánh thiện được hiểu trong bối cảnh của những mối tương quan. Trong Cựu Ước: tội của Ađam và Evà, tội của Israel, tội của Cain, tội của Vua Đavít… tất cả là những tội ở trong và bởi các mối tương quan. Trong Tân Ước, tội cũng được hiểu theo sự không có hoặc thất bại không thiết lập được những tương quan, hay thiếu những tương quan tình thương hoặc có những tương quan tình thương sai lầm và đi xa khỏi những tương quan ngay chính.
Chúa Giêsu coi tội là tình trạng tha hóa phẩm giá con người hơn là chỉ những vô trật tự luân lý (ngày Sabbath vì con người, chứ không phải con người vì ngày Sabbath). Chính những người Biệt phái và Luật sĩ cũng hiểu tội lỗi và sự thánh thiện trong bối cảnh lề luật và nghi thức.
I. LIÊN HỆ VỚI THIÊN CHÚA,
TƯƠNG QUAN NỀN TẢNG
1. Tương quan với Chúa Cha
2. Tương quan với Chúa Giêsu, đặc biệt Chúa Giêsu chịu đóng đinh và Chúa Giêsu Thánh Thể
3. Tương quan với Chúa Thánh Thần
4. Tương quan với Đức Mẹ
5. Tương quan với các thiên thần, nhất là thiên thần giữ mình
6. Tương quan với thánh cả Giuse, thánh Quan Thầy và các thánh
Liên hệ với Thiên Chúa là khía cạnh quan trọng nhất của đời sống độc thân linh mục.
Liên hệ với Thiên Chúa là tuyệt đối then chốt để sống độc thân linh mục hiệu quả. Do đó quyền ưu tiên phải được dành cho liên hệ này.
Liên hệ với Thiên Chúa được bày tỏ qua đời sống thiêng liêng và cầu nguyện. Cầu nguyện không là gì khác hơn là liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa. Cầu nguyện là liên hệ với Thiên Chúa, đối thoại với Thiên Chúa, thông hiệp với Thiên Chúa, ở với Thiên Chúa, ở trước nhan Thiên Chúa, ý thức về Thiên Chúa.
Đây là liên hệ siêu ngôi vị. Liên hệ siêu ngôi vị này bao gồm hai ngôi vị: một ngôi vị thần linh và một ngôi vị con người. Trong liên hệ này, ngôi vị Thần linh đến với chúng ta và chúng ta, những con người, đi tới Người, trong tiến trình cầu nguyện mang chiều kích vừa thần linh vừa nhân loại.
Thiên Chúa là Chúa của liên hệ và liên kết.
Khi Thiên Chúa liên hệ với chúng ta, chúng ta có thể hoặc nói “vâng” hoặc nói “không” với Ngài. Khi chúng ta nói “vâng” thì lúc ấy có liên hệ. Và đây là liên hệ siêu ngôi vị và cũng là sự thánh thiện siêu ngôi vị.
Độc thân linh mục phải giúp chúng ta phát triển liên hệ này với Thiên Chúa. Do đó, chúng ta chú ý đến một sự nối kết chặt chẽ giữa đời sống độc thân và đời sống cầu nguyện.
Độc thân linh mục là một hồng ân liên hệ đặc biệt với Thiên Chúa. Chính nhờ liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa, chúng ta di chuyển đến tất cả những liên hệ khác. Kính mến Thiên Chúa nâng cao liên hệ tình yêu của chúng ta với người khác.
Nếu chúng ta loại trừ Thiên Chúa ra khỏi liên hệ của chúng ta, thì chúng ta có thể trở thành phá hoại chính bản thân mình và người khác.
Thiết lập mối liên hệ cá nhân với Thiên Chúa qua đời sống cầu nguyện là chiều kích hàng dọc trong liên hệ của chúng ta (đối thần); còn thiết lập liên hệ cá nhân với anh chị em chúng ta là chiều kích hàng ngang trong liên hệ của chúng ta (đối nhân). Chiều kích hàng dọc này là động cơ thúc đẩy và là ý nghĩa đích thực cho chiều kích hàng ngang trong đời sống chúng ta.
II. TƯƠNG QUAN VỚI THA NHÂN
Liên hệ của chúng ta với nhau được gọi là liên hệ liên nhân vị. Có một thời người ta cho việc liên hệ của mình với Thiên Chúa mới quan trọng, còn liên hệ với nhau thì không mấy quan trọng. Kết quả là linh mục, tu sĩ tránh liên hệ gần gũi với những người mình thi hành thừa tác vụ cho.
Những liên hệ với con người chỉ được coi là vấn đề riêng tư. Kết quả là một số linh mục, tu sĩ có liên hệ trí thức và thiêng liêng với con người, chứ không có liên hệ tình cảm và nhân bản, luôn giữ thái độ xa cách và loại trừ. Và tình trạng có thể đưa tới bất cập hay thái quá.
Liên hệ liên nhân vị là một chiều kích quan trọng của tình yêu của người độc thân thánh hiến. Thánh Gioan chối bỏ khả năng kính mến Chúa ở đâu thiếu vắng tình yêu con người. Ngài mặc nhiên nối kết lòng kính mến Chúa với tình yêu con người. Ngài nhấn mạnh rằng không thể kính mến Chúa nếu không yêu thương con người.
Tình yêu Thiên Chúa là suối nguồn, là nền tảng và động lực của tình yêu con người. Tình yêu con người là sao chép, biểu lộ và diễn tả tình yêu Thiên Chúa. Người không yêu thương cận nhân của mình thì không thể biết Thiên Chúa, không thể kính mến Thiên Chúa được: “Nếu một người nói rằng mình kính mến Thiên Chúa, nhưng lại ghét anh em mình thì người ấy là kẻ nói dối. Vì người ấy không thể kính mến Thiên Chúa, Đấng mà người ấy không thấy, nếu người ấy không yêu thương người anh em của mình, người mà người ấy thấy. Ai kính mến Thiên Chúa thì cũng phải yêu thương anh em” (1Ga 4, 7-21).
Trong khi chúng ta đi tìm kiếm Thiên Chúa, thì chúng ta cũng phải đi qua tình yêu và tình bạn nhân loại (Nhịp cầu: “qua sông nên phải lụy đò, tối trời nên phải lụy O bán dầu”). Chính nhờ chúng ta cảm nghiệm tình yêu nhân loại, chúng ta mới cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa.
Một số người trong chúng ta chưa tiếp xúc được với tình yêu Thiên Chúa và chưa được tình yêu Thiên Chúa tác động, vì chúng ta chưa thực sự tiếp xúc với con người và chúng ta chưa để cho con người tiếp xúc với chúng ta. Nếu chúng ta không yêu thương một con người khác, mà chỉ kính mến Thiên Chúa, thì chúng ta chẳng yêu mến ai cả. Nếu chúng ta chưa phải lòng con người, thì chúng ta chưa thực sự phải lòng hữu thể thần linh: “Không thể có cảm nghiệm về Thiên Chúa, nếu không được một cảm nghiệm về thế giới làm trung gian.”
(Hát BÀI CA YÊU THƯƠNG)
“Cái làm trung gian cho cảm nghiệm về Thiên Chúa chủ yếu là liên hệ của con người với những con người khác” (Karl Rahner, Doctrine and Life tr. 71). Những mối liên hệ liên nhân vị là thánh thiêng tự bản chất và chúng mạc khải diện mạo của Thiên Chúa. Thái độ cá nhân “Tôi và Thiên Chúa” hay “Tôi và Chúa Giêsu” mà không có liên hệ với con người là xa lạ đối với ý thức Kitô giáo.
Linh mục trở thành một phần của cộng đoàn Dân Chúa gồm những con người phục vụ lẫn nhau. Nhờ những việc phục vụ này, linh mục thiết lập được mối liên hệ tình yêu với Thiên Chúa và con người. Do đó, cùng đích và cốt yếu của linh mục hệ tại việc cổ vũ những mối liên hệ quân bình, hài hòa và trưởng thành.
Nhưng vì những việc phục vụ có đặc điểm là liên hệ tình yêu, một số trong các liên hệ với con người có thể dẫn đến chỗ vi phạm độc thân thánh hiến. Do đó, linh mục và tu sĩ phải rất thận trọng trong các liên hệ của mình, vì luôn luôn có nguy cơ liên quan đến liên hệ.
Do có những nguy cơ liên quan đến những liên hệ của chúng ta, nên một số người trong chúng ta tránh xa con người và những mối liên hệ, và để hết tâm trí vào công việc; thậm chí trở thành những người tham công tiếc việc.
Tâm lý tham công tiếc việc giữ chúng ta xa khỏi sự thách đố của những liên hệ độc thân thánh hiến đích thực (không có cám dỗ khơng có công nghiệp; chưa có cám dỗ chưa chắc đã được bảo đảm), và cũng làm cho sứ vụ chúng ta trở nên xa lạ và mất hiệu quả. Khi tránh xa những liên hệ thì chúng ta sẽ xơ cứng trở thành những người thực hiện, những công chức, những cỗ máy…
Chúng ta có thể thậm chí tìm những bù trừ và thay thế dễ dãi để lấp vào chỗ những liên hệ đích thực, như thích ăn nhậu, âm nhạc, báo chí, chim cá kiểng, truyền hình v.v… Những thứ đó dễ hơn nhiều so với nỗ lực thiết lập những mối liên hệ tốt với con người.
Một số người trong chúng ta tránh liên hệ và do đó trở thành những nhà trí thức lạnh lùng, thay vì những con người có tình có nghĩa trong liên hệ. Chúng ta trở thành những công chức thay vì những người phục vụ thân tình, thấu cảm. Chúng ta trú ẩn vào việc làm chuyện này chuyện nọ, vào xây cất, vào thành công, vào những lễ hội nọ cử hành kia, vào địa vị và quyền lực.
Độc thân ‘vì Nước Thiên Chúa’ phải là cái gì xây dựng được những tương quan con người mạnh mẽ. Cha Connolly nhận xét: “Giáo huấn truyền thống của chúng ta về độc thân thánh hiến đã không xử lý vấn đề này một cách tích cực hay sáng tạo. Nó mạnh mẽ can ngăn việc phát triển bất cứ liên hệ con người nồng ấm nào, bên trong hay bên ngoài cộng đoàn, và nhất là với bất cứ phần tử khác phái nào. Nó dạy chúng ta yêu người, nhưng yêu trên tầm mức phục vụ chung chung (quảng đại và dễ thương), chứ không để hết tâm trí hay không có liên hệ cá nhân” (F.B. Connolly CSSR, Religious life: A Profile of the Future. Bangalore: Asian Trading Corporation, 1985. tr. 31)
Việc phát triển liên hệ con người là nền tảng, vì không có những liên hệ ấy thì linh mục sẽ không cảm nghiệm được hạnh phúc. Sự thiếu hạnh phúc này sẽ hạn chế chứng tá của mình cho niềm vui được tìm thấy trong sự thông hiệp với Thiên Chúa. Dân ngoại đánh giá cộng đoàn kitô đầu tiên: “Xem kìa, họ thương yêu nhau dường nào!” và họ đã muốn sống như thế mà Đạo được phát triển.
Không có việc phát triển những liên hệ con người thì linh mục sẽ không là một thừa tác viên hữu hiệu của sứ điệp Thiên Chúa và tình yêu của Ngài được.
Một người được kêu gọi đến đời sống linh mục phải tìm kiếm sự thân mật với Thiên Chúa, và đồng thời, người ấy phải gầy dựng sự thân mật với những con người khác. Khi hai chiều kích của sự thánh thiện này vắng bóng trong cuộc đời và thừa tác vụ của chúng ta thì khả năng nên thánh của chúng ta cũng vắng bóng trong cuộc đời chúng ta.
Chính trong và nhờ các mối liên hệ (với Chúa và với con người) mà chúng ta lớn lên trong sự thánh thiện. Nhưng cũng chính trong và vì các mối liên hệ với con người này mà chúng ta phải chiến đấu và có khi vấp ngã, hoặc làm cho anh chị em mình phải chiến đấu và vấp ngã.
(Video TÌNH YÊU VÀ SỨ MỆNH)
1. Tương quan với Giám Mục Bản Quyền
2. Tương quan với các linh mục đàn anh
3. Tương quan với các linh mục đàn em
4. Tương quan với các linh mục tương lai và các mầm non ơn gọi giáo sĩ
5. Tương quan với các tu sĩ nam nữ
6. Tương quan với các nữ tu lớn tuổi và có trách nhiệm
7. Tương quan với các nữ tu bằng tuổi và có trách nhiệm
8. Tương quan với các nữ tu trẻ
9. Tương quan với các mầm non ơn gọi tu sĩ
10. Tương quan với giáo dân nói chung
11. Tương quan với Ban Hành Giáo
12. Tương quan với các đoàn thể
13. Tương quan với những người già cả, bệnh tật và hấp hối
14. Tương quan với các góa phụ, nhất là góa phụ trẻ
15. Tương quan với giới trẻ
16. Tương quan với giới thiếu nhi
17. Tương quan với những người phục vụ trong nhà xứ, nhất là cô bếp
18. Tương quan với Chính Quyền
19. Tương quan với các tôn giáo bạn, nhất là các vị lãnh đạo
20. Tương quan với lương dân.
21. Tương quan với giới giàu có
22. Tương quan với giới nghèo
[x. Lớp Thần Học Bổ Túc Bùi Chu, Linh Mục tốt hay không đều do các mối tương quan, 2006-2007]
III. TƯƠNG QUAN VỚI CHÍNH MÌNH
1. Người được Chúa Thánh Thần thánh hiến, chiếm hữu và hướng dẫn.
2. Người của siêu nhiên và cầu nguyện.
3. Người của linh thánh.
4. Người có một nền tảng Kinh Thánh vững chắc.
5. Người mở ra với hiệp thông.
6. Người hăng say truyền giáo.
7. Người cởi mở đối thoại.
8. Người của truyền thông xã hội.
9. Người nhạy cảm với các vấn đề xã hội.
10. Người của sứ vụ tiên tri.
MÔ HÌNH LINH MỤC HÔM NAY VÀ NGÀY MAI
Tây phương có câu ngạn ngữ “Trong khi rèn, người ta trở thành thợ rèn.” Cũng thế, càng sống đời linh mục, chúng ta càng trở nên linh mục hơn. Nhưng công cuộc được đào luyện và tự đào luyện còn nhiều gian nan, cần ơn Chúa và cố gắng bản thân.
(Hát CHÚNG CON CẦN ĐẾN CHÚA)
1. Linh Mục là người được Chúa Thánh Thần chiếm hữu và hướng dẫn
Mẹ Maria là kiểu mẫu mọi thời cho vị linh mục để mình được Chúa Thánh Thần tác động, chiếm hữu và hướng dẫn.
Trình thuật truyền tin tô đậm nét xác quyết này:
- ‘Việc ấy sẽ xảy ra cách nào được, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!’
- ‘Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa’
- “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.”
- “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.”
Lk 1, 34-35,37-38
Nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, Mẹ Maria mang thai Chúa Giêsu. Nhờ Mẹ mang Chúa đến thăm, bà Elizabeth được đầy Chúa Thánh Thần: “Bà Êlisabét vừa nghe tiếng bà Maria chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được đầy tràn Thánh Thần” (Lk 1,41)
Một số nhân vật Phúc Âm được đầy Chúa Thánh Thần:
- Gioan Tẩy Giả: “Vì em bé sẽ nên cao cả trước mặt Chúa…và ngay khi còn trong lòng mẹ, em đã đầy Thánh Thần” (Lk 1,15)
- Dacaria: “Dacaria, được đầy Thánh Thần, liền nói tiên tri rằng…” (Lk 1,67)
- Giuse (x. Mt 1,18-24; Lk 2,1-7)
- Simêon: “Ông là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi của Israel, và Thánh Thần hằng ngự trên ông. Ông đã được Thánh Thần linh báo là ông sẽ không thấy cái chết trước khi được thấy Đấng Kitô của Chúa. Được Thánh Thần thúc đẩy, ông lên đền thờ...” (Lk 2:25-27)
Đặc biệt Chúa Giêsu:
- Được Isaia báo trước: “Thần khí của Đức Chúa là Chúa Thượng ngự trên tôi, vì Đức Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, ngày phóng thích cho những tù nhân, công bố một năm hồng ân của Đức Chúa, một ngày báo phục của Thiên Chúa chúng ta; Người sai tôi đi yên ủi mọi kẻ khóc than…” (Is. 61,1-2)
- Chính Chúa Giêsu khẳng định về mình ở Hội đường Nazareth: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa… Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe” (Lk 4,18-21)
Cũng như mọi người, linh mục đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần và trở nên đền thờ Ngài ngự. Vài đoạn Kinh Thánh nói rõ điều đó:
Mk 1,8 “Tôi thì tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần.“
Lk 3,16 “Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa.”
Ga 1,33 “Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: "Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần."
Ga 3,5 Đức Giêsu đáp: "Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí.”
Cvtđ 1:5 “Ông Gioan thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần.”
Hơn ai hết, linh mục phải để Chúa Thánh Thần hướng dẫn, như đã làm với chính Chúa Giêsu:
- Mt 4,1 Bấy giờ Đức Giêsu được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ.
- Mk 1,12 “Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa.”
- Lk 4,1 “Đức Giêsu được đầy Thánh Thần, từ sông Giođan trở về...”
Linh mục cũng được Chúa Thánh Thần dạy dỗ và nhắc nhở mọi điều Chúa Giêsu đã dạy: “Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Ga 14,26)
Thánh Thần cũng sẽ dạy cho linh mục biết phải nói gì: “Khi người ta đưa anh em ra trước hội đường, trước mặt những người lãnh đạo và những người cầm quyền, thì anh em đừng lo phải bào chữa làm sao, hoặc phải nói gì, vì ngay trong giờ đó, Thánh Thần sẽ dạy cho anh em biết những điều phải nói” (Lk 12,11-12)
Thánh Thần còn nói thay cho linh mục nữa: Mt 10,20 “Thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em.” MK 13,11 "Khi người ta điệu anh em đi nộp, thì anh em đừng lo trước phải nói gì, nhưng trong giờ đó, Thiên Chúa cho anh em biết điều gì, thì hãy nói điều ấy: thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thánh Thần nói.”
Chúa Thánh Thần giúp kiện toàn đời sống và sứ vụlinh mục bằng 7 ơn của Ngài: - Khôn ngoan, - tri thức, - thấu hiểu, - sức mạnh, - lo liệu, - đạo đức - và kính sợ Chúa.
Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên các tông đồ dưới hình những lưỡi lửa, cho họ nói các thứ tiếng khác nhau, biến đổi họ nên can đảm rao giảng Chúa Kitô Phục Sinh và hôm ấy có khoảng ba ngàn người theo Đạo (x. Cvtđ 2,1-41).
Chúng ta phải trung thành và ngoan ngoãn nghe theo ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần, hầu mang lại hoa trái: Bác ái, vui mừng, bình an, nhẫn nại, tế nhị, tốt bụng, quảng đại, hòa nhã, trung tín, khiêm tốn, tự chủ và thanh khiết.
Xin Chúa Thánh Thần dùng môi miệng của ta mà
- nói điều Chúa muốn nói;
- xin Ngài soi sáng trong trí khôn cho ta viết lại;
- Ngài cũng có thể cầm tay ta giúp ta viết lên điều Ngài muốn;
- xin Ngài viết ra trên vách cho ta xem mà chép lại, như trường hợp Danien giải thích cho vua Bensatsa: “Thiên Chúa đã cho bàn tay đến viết hàng chữ kia. Đây là những chữ đã được viết ra: MƠ-NÊ, TƠ-KÊN, PƠ-RẾT.
Và đây là lời giải thích:
- MƠ-NÊ có nghĩa là đếm: Thiên Chúa đã đếm và chấm dứt những ngày của triều đại ngài;
- TƠ-KÊN có nghĩa là cân: ngài đã bị đặt trên bàn cân và thấy là không đủ;
- PƠ-RẾT có nghĩa là phân chia: vương quốc của ngài đã bị phân chia và trao cho các dân Mêđi và Batư.” (Dn 5,24-28)
2. Linh Mục là người của siêu nhiên và cầu nguyện
Linh mục phải thực sự là một con người của đạo đức và cầu nguyện, nghĩa là có đời sống thông hiệp cá nhân sâu xa với Chúa Ba Ngôi.
Điều ấy được biểu lộ rõ nét trong mối tương quan với tha nhân: linh mục suy nghĩ với tinh thần của Chúa, nhìn thấy với con mắt của Chúa, và yêu thương với con tim của Chúa…
Đời sống cầu nguyện làm cho linh mục có khả năng ý thức về chính mình và sự lệ thuộc của đời sống ơn gọi của mình vào Thiên Chúa.
Linh mục ý thức sự hiện diện và hoạt động của Chúa trong cuộc sống hằng ngày của mình bằng sự trao hiến trọn vẹn chính mình và lụy phục hoàn toàn nơi Chúa, noi gương Chúa Giêsu Kitô.
Đời sống cầu nguyện giúp linh mục tìm thấy Chúa Giêsu nơi tha nhân, đặc biệt nơi những người đau khổ, bệnh tật, nghèo hèn, ở bên lề, bị áp bức, và thấp cổ bé miệng,… ngõ hầu yêu thương và phục vụ họ, như Chúa Giêsu đã dạy và đã làm gương.
Dân chúng mong đợi nhìn thấy linh mục là người của Chúa, có kinh nghiệm sống với Chúa và dạy cho họ biết làm thế nào để cầu nguyện.
3. Linh Mục là người của linh thánh
Linh mục phải nên giống Chúa Giêsu, tiếp tục sứ vụ của Chúa Giêsu, Đấng đã được Chúa Cha thánh hóa và sai đến trong trần gian để cứu độ trần gian (Ga 10,36).
Linh mục phải để mình được đào luyện và tự đào luyện trở thành con người của linh thánh, bởi vì linh mục là “người của Chúa, thuộc về Chúa và làm cho dân chúng nghĩ tới Chúa, đồng thời giúp dân chúng trở về với Chúa và đạt tới Chúa” (PDV số 47).
Yếu tố linh thánh này rất quan trọng trong các tôn giáo truyền thống Á Châu. Nó có khả năng giúp sứ mệnh khơi dậy niềm tin tại Việt Nam. Tông huấn Ecclesia in Asia nhấn mạnh rằng dân chúng Á Châu cần nhìn thấy nhà tu là “những con người mà tâm trí luôn hướng về những sự cao siêu của Thánh Thần” (EA số 43)
Các sư sãi và ni cô của Phật giáo có một kỹ luật tu đức nhấn mạnh đến tự chế, bỏ mình và thanh thoát khỏi thế trần, hầu chiến đấu chống lại các cám dỗ và say mê tìm kiếm giải thoát. Sự kiện này thách thức chúng ta đào sâu tu đức của mình; nếu không, chứng tá của chúng ta trong xã hội Việt Nam sẽ giảm bớt khả năng thuyết phục.
Chúng ta cần học hỏi ở họ lối sống như cửa mở vào cõi thiêng và phương tiện hiệp thông với linh thánh, đồng thời củng cố đời sống nội tâm tông đồ truyền giáo của chúng ta. Nếu chúng ta thực sự sống cách vui tươi, hạnh phúc và trung thành nếp sống Phúc Âm và các nhân đức kitô giáo (đặc biệt vâng lời, khó nghèo, thanh khiết), chứng tá và sứ vụ của chúng ta sẽ rất hữu hiệu. “Điều đó rất đúng với bối cảnh Á Châu, nơi mà dân chúng cảm thấy được thuyết phục bởi đời sống thánh thiện hơn là bởi những tri thức lý sự” (EA số 42).
Đức Phaolô VI bảo rằng thời đại này tin vào các chứng nhân hơn là thầy dạy, và nếu họ có tin vào các thầy dạy thì bởi vì các thầy dạy đó là những chứng nhân.
Ở trong Giáo Hội, chúng ta có đủ mọi phương tiện thích hợp, tự nhiên cũng như siêu nhiên, để trở nên con người của linh thánh. Việc quan trọng nhất là chúng ta kiên trì thực hành các phương thế ấy trong cuộc sống hằng ngày.
4. Linh Mục phải có nền tảng Thánh Kinh vững chắc
(Hát theo slideshow LẮNG NGHE LỜI CHÚA)
Sống trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian, linh mục “được mời gọi biến đổi thế gian, chứ không phải để bị thế gian biến đổi.”
Ma quỉ đã dùng lời Thánh Kinh để cám dỗ Chúa Giêsu trong sa mạc, Chúa Giêsu cũng đã dùng Lời Chúa mà chiến thắng và xua đuổi ma quỉ. Do đó, linh mục phải là một con người đức tin, được đức tin tác động mãnh liệt, với một nền tảng Thánh Kinh vững chắc, vì mọi cuộc khủng hoảng đều do thiếu đức tin mà ra.
Tuy nhiên, linh mục cũng có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa và tâm thức xã hội, chính trị, kinh tế (nạn gian lận, hưởng thụ…). Vì thế, việc đào tạo và tự đào tạo hôm nay cần ghi nhớ các yếu tố này trong khi nỗ lực xây dựng và phát triển sức mạnh siêu nhiên hầu thăng tiến và hoàn thiện tự nhiên.
Chúng ta cũng phải ý thức về trình độ trưởng thành nhân bản và thiêng liêng của từng người, để sống và đào luyện thích hợp như thánh Phaolô nói: “Tôi cho anh em ăn sữa chứ không phải thức ăn cứng, vì anh em chưa đủ sức, và cho đến nay anh em vẫn chưa thể” (cf. 1 Cor 3,2).
Chúa Giêsu cũng nhắc các tông đồ tương tự: “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi. Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật tồn vẹn” (Ga 16,12-13)
Với nền tảng Thánh Kinh vững chắc, linh mục sẽ vượt thắng những thách đố và chiến đấu trăn trở về tự do và phục tùng với bộ ba “quyền phục, lý phục và tâm phục hay tâm bất phục” hoặc “bằng mặt mà không bằng lòng” để sống đức vâng lời trọn vẹn, vì vâng lời chính là lắng nghe: « Cá không ăn muối cá ươn, con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư. »
Quả thế, với đức tin mạnh mẽ và đâm rễ sâu trên nền tảng Thánh Kinh vững chắc, đặt trọng tâm vào Chúa Giêsu, vào Phúc Âm, vào Giáo Hội, vì các linh hồn, cầu nguyện và biện phân dưới sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, linh mục sẽ vâng lời cách sẵn lòng và siêu nhiên các vị lãnh đạo và cơ cấu của Giáo Hội, không phải như những con người và cơ cấu nhân loại, nhưng là Ý Chúa ở trong và qua những con người và cơ cấu này.
5. Linh Mục là người mở ra với Hiệp thông
Hiệp thông và hiệp nhất là lời cầu nguyện tha thiết của Chúa Cứu Thế cho các môn đệ của Ngài. Mối hiệp thông này bắt rễ trong Chúa Ba Ngôi và từ Chúa Ba Ngôi (ad intra – ad extra).
Linh mục phải sống mối hiệp thông trọn vẹn của Hội Thánh trong tâm tình vâng phục thảo hiếu, để xây dựng nhiệm thể toàn vẹn của Chúa Kitô (x. Eph 4:12)
Theo tinh thần Tông huấn Ecclesia in Asia số 43, linh mục phải sống và làm việc trong tinh thần hiệp thông và cộng tác để làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa.
Linh mục phải góp phần xây dựng mối hiệp thông của toàn thể nhân loại và thế giới được tạo thành vẫn hằng ngóng chờ ngày giải thoát (x. Rm 8:18-23)
Đối với sứ vụ của Giáo Hội, hiệp thông và truyền giáo luôn song hành và kết nối không thể tách lìa nhau (x. Ecclesia in Asia số 24), bởi vì trước khi nói về Chúa, thì phải sống hiệp thông mật thiết với Chúa, nói với Chúa và nghe Chúa nói đã: không ai có thể cho cái mình không có !
Sự duy nhất đức tin là mối quan tâm đặc biệt của các Chủ Chăn Giáo Hội. Nhưng nó cũng phải là mối quan tâm của mỗi người chúng ta. Tìm kiếm sự duy nhất trong đức tin là yêu mến và bảo toàn Giáo Hội trong sự hiệp thông. Chúng ta nhìn Mẹ Maria như người canh giữ đức tin.
Sự duy nhất đức tin được diễn tả trong phượng tự của Giáo Hội. Phượng tự này khởi đầu từ Hy tế hoàn hảo của Chúa Kitô. Máu và nước chảy ra từ cạnh sườn Ngài là nguồn các Bí tích làm cho Thân Mình Chúa Kitô được sống, được nuôi dưỡng, được lớn lên và được tồn tại. Tất cả chúng ta đều có niềm vui nhận lãnh và chuyển đạt sự sống mới của ân sủng qua Bí tích Rửa Tội và Giải Tội. Vui biết bao khi thấy một em bé hay một tân tòng được tái sinh, được đến tháp nhập vào Thân Mình Chúa Kitô, hay một người tội lỗi sám hối trở lại với Chúa và Hội Thánh. Chúng ta phải biết ơn Giáo Hội vì đã mang Chúa Kitô cho chúng ta, đã nuôi dưỡng và hướng dẫn chúng ta trong suốt cuộc đời.
Sự hợp nhất của Nhiệm Thể Chúa Kitô được diễn tả cách rõ ràng nhất trong Bí tích Thánh Thể. Chén chúc tụng mà chúng ta chia sẻ là Máu Chúa Kitô, lưu chuyển trong Giáo Hội, mang lại sự sống thần linh. Bánh mà chúng ta bẻ ra là Mình Chúa Kitô, được hiến dâng vì phần rỗi của mỗi chi thể. Chúng ta thật hạnh phúc được dâng Thánh Lễ, nhờ đó chúng ta không ngừng nhận được sự sống và hiệp nhất. Cử hành và lãnh nhận Thánh Thể là hiệp nhất với Giáo Hội trên khắp thế giới. Nhờ Thánh Thể mà mọi người được qui tụ lại trong một ngôi nhà đức tin.
Liên kết với Đức Thánh Cha, chúng ta xây dựng sự hiệp nhất ấy trong lòng Giáo Hội Địa phương mà chúng ta phục vụ, bất cứ ở đâu chúng ta có mặt. Chúng ta trăn trở làm cho Giáo Hội được lớn lên, mạnh mẽ và hiệp nhất hơn. Và ngày nay, quyền bính và sự hiệp nhất của Giáo Hội Địa phương được diễn tả qua nhiều vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là Giám Mục Bản Quyền; Ngài không chỉ là đầu, mà là con tim của giáo phận: tất cả đều qui về Giám Mục và tất cả quyền bính đều phát ra từ Giám Mục, đến đỗi “linh mục không thể làm gì mà không có Giám Mục.” Như thế sự hiệp thông trở nên dễ dàng và triệt để hơn, hiệp thông quyền bính, hiệp thông sự sống, hiệp thông sứ vụ và hiệp thông tình yêu.
6. Linh Mục là người hăng sau truyền giáo
Chúa Giêsu là nhà truyền giáo được Chúa Cha sai đi đầu tiên. Và Đức Mẹ thực hiện sứ mệnh truyền giáo khi mang Chúa Giêsu đến thăm bà Elizabeth.
Công Đồng Vaticanô II giúp Giáo Hội tái khám phá căn tính truyền giáo của mình. Truyền giáo là bản chất, là cảm thức và lẽ sống, là ý nghĩa, là nguồn gốc và mục đích của Giáo Hội (x. Ad Gentes số 2)
Do đó, linh mục là nhà truyền giáo tự bản chất và phải luôn hăng say truyền giáo. Nếu không thế, linh mục sẽ không còn là linh mục nữa và đánh mất căn tính của mình: “Vô phúc cho tôi, nếu tôi không rao giảng Phúc Âm” (1 Cor 9,16).
Đấng Cứu Thế đã sinh ra ở Á Châu, nhưng Kitô giáo ở Á châu ngày nay vẫn còn là một thiểu số tuyệt đối ở cái lục địa rộng lớn nhất địa cầu này, với gần hai phần ba dân số thế giới. Vậy chúng ta phải có trong trí óc và con tim lời kêu gọi khẩn thiết tiếp tục sứ vụ của Chúa Giêsu cho đồng bào mình, với ước vọng nồng cháy làm cho Ngài được nhận biết và yêu mến.
Vatican II mở rộng tầm nhìn của chúng ta ra với Nước Thiên Chúa (lớn hơn là Giáo Hội mà chúng ta thường quan niệm) và thúc đẩy chúng ta truyền giáo, tin tưởng rằng Chúa Thánh Thần đã khơi dậy một tinh thần truyền giáo thực sự nơi con tim của nhiều người.
7. Linh Mục là người của đối thoại
Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu và Liên Hiệp Các Hội Đồng Giám Mục Á Châu đã chỉ rõ con đường hiện diện mới của Giáo Hội với ba chiều kích đối thoại:
- đối thoại với các nền văn hóa,
- đối thoại với các tôn giáo khác,
- và đối thoại với người nghèo.
Con đường đối thoại bắt rễ trong Thiên Chúa và bắt đầu từ Thiên Chúa, Đấng luôn duy trì cuộc đối thoại với nhân loại, đặc biệt với người nghèo, người bị áp bức, người bị bỏ rơi…
Là chứng tá của Tin Mừng, linh mục phải là một con người của đối thoại, với cả bên ngoài lẫn bên trong Giáo Hội. Đáng buồn là lắm khi cuộc đối thoại bên trong Giáo Hội và cộng đoàn không mấy dễ dàng!
Đối với Á Châu, cái nôi của nhiều truyền thống văn hóa, tôn giáo lớn và đại đa số người nghèo của thế giới, sứ mệnh đối thoại và truyền giáo lại còn thích hợp và cấp bách hơn. Do đó, linh mục cần được huấn luyện và tự đào luyện tốt các kỹ năng đối thoại.
Chúng ta cần, không chỉ đối thoại ba chiều như đường lối hiện hữu và truyền giáo mới của Giáo Hội; nhưng trong bối cảnh đặc biệt của Việt Nam, chúng ta còn cần đến chiều kích đối thoại thứ tư, đối thoại với người Cộng Sản.
Cuộc đối thoại này bao gồm hai khía cạnh:
- Đối thoại bằng cuộc sống: sống tinh thần cởi mở và thân thiện, chia sẻ niềm vui nỗi buồn, những vấn đề nhân sinh và những mối bận tâm vì công lý, hòa bình và tình thương.
- Đối thọai bằng hành động: hợp tác lành mạnh vì sự phát triển toàn diện con người và lợi ích của cộng đồng, nhất là bằng việc làm chứng tá cho tình yêu Thiên Chúa đối với họ: một tình yêu lớn hơn vượt thắng một tình yêu nhỏ hơn và những lôi cuốn của nó.
Tình yêu ấy biến đổi mọi sự, một sự biến đổi từ bên trong của mỗi cơ cấu (ngày nay không ai chờ đợi một Revolution cho bằng mong đợi một Evolution).
Nhưng trước hết, chúng ta phải bắt đầu, bắt đầu lại, và luôn tiếp tục cuộc đối thoại đại kết bên trong lòng Giáo Hội,[4] vì lắm khi cuộc đối thoại với bên trong lòng Giáo Hội còn khó khăn hơn cuộc đối thoại với bên ngoài!
Quả thế, HĐGMVN trong thư ngày 8/10/2008 khẳng định : «Con đường đối thoại tìm về chân lý, công lý và lợi ích lâu dài của đất nước là con đường dài với nhiều khó khăn và trắc trở, đòi hỏi khôn ngoan và kiên nhẫn. Vì thế, xin... hiệp ý tiếp tục cầu nguyện... với tinh thần hiệp nhất, yêu thương và ôn hòa... Xin Chúa ban ơn bình an và ơn soi sáng cho tất cả mọi người biết thành tâm tìm kiếm và gặp được chân lý, công lý và lợi ích lâu dài của cả cộng đồng dân tộc. Khi tất cả mọi người đều lấy chân lý, công lý và công ích làm ánh sáng soi đường và chuẩn mực chọn lựa thì sẽ có thể vượt lên trên những khó khăn và trở ngại... »[5]
8. Linh Mục là người của truyền thông xã hội
Ngày nay, không ai phủ nhận vai trò quan trọng và ảnh hưởng vạn năng của truyền thông đại chúng, với những lợi ích và những tác hại của nó, trong đời sống của con người, “đặc biệt cuộc sống của thế hệ trẻ được sinh ra và lớn lên trong một thế giới bị điều kiện bởi truyền thông đại chúng”[6]
Linh mục ngày nay phải biết sử dụng các phương tiện tân tiến của Truyền thông xã hội, như những dụng cụ hữu hiệu để sống trong mối hiệp thông con tim và khối óc của toàn thể Giáo Hội, để cập nhật các hiểu biết về thần học và mục vụ, cũng như những giáo huấn về xã hội và luân lý của Giáo Hội, để truyền thông sứ điệp Phúc Âm, và để thăng tiến đời sống thiêng liêng của mình.
Linh mục trong thời đại chúng ta phải học cách sử dụng hợp pháp các phương tiện truyền thông, không như các chuyên gia nghề nghiệp thuộc lãnh vực này, ngõ hầu sử dụng và hướng dẫn kẻ khác, nhất là giới trẻ, làm sao sử dụng cách đúng đắn các phương tiện truyền thông trong cuộc sống hằng ngày.
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã nhận định : «Một số phương tiện truyền thông, thay vì là nhịp cầu liên kết và cảm thông, thì lại gieo rắc hoang mang và nghi kỵ. Quả thật, chưa bao giờ các phương tiện truyền thông phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng như ngày nay, nhờ đó con người được gia tăng hiểu biết và phá triển tình liên đới. Tuy nhien, các phương tiện truyền thông chỉ thực sự mang lại lợi ích cho con người và cộng đồng xã hội khi phục vụ sự thật và phản ánh thực tại cách trung thực»… «Những người làm công tác truyền thông đại chúng phải hết sức cẩn trọng khi đưa tin tức và hình ảnh, nhất là khi liên quan đến danh dự và uy tín của cá nhân cũng như tập thể. Nếu đã phổ biến những thông tin sai lạc thì cẩn phải cải chính. Chỉ khi tôn trọng sự thật, truyền thông mới thực sự hoàn thành chức năng của mình là thông tin và giáo dục nhằm xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh»[7]
Chính vì thế mà ĐGH Gioan Phaolô II khuyên rằng giáo dục truyền thông cần phải là một phần không ngừng gia tăng trong công cuộc đào tạo linh mục, chủng sinh, tu sĩ, giáo lý viên, giáo dân chuyên nghiệp, sinh viên… theo những chỉ dẫn mục vụ của Aetatis Novae, với sự lưu tâm thích hợp tới những hoàn cảnh hiện hành ở Á Châu và Việt Nam[8]
9. Linh Mục nhạy bén với những đổi thay xã hội
Mọi sự đang thay đổi và tiếp tục thay đổi đến chóng mặt. Linh mục phải là những người bắt nhịp hài hòa với tình hình hiện nay của một thế giới đang thay đổi; phải luôn sẵn sàng và bén nhạy để đọc được các thời triệu, chấp nhận các mới mẻ của những đổi thay, và can đảm thích nghi chính mình cách khôn ngoan sáng suốt với những bước chân của Chúa Thánh Thần, Đấng hằng làm cho mọi sự nên mới (x. Kh 21:5).
Sự nhạy cảm này giúp chúng ta hiểu rõ hơn các nhu cầu của dân chúng, nhận thức được những vấn nạn không lời của họ, đáp ứng các thỉnh nguyện, chia sẻ những hy vọng, những trông đợi, những niềm vui và những gánh nặng của họ:
“Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ... Họ phải cảm thấy thực sự liên hệ mật thiết với loài người và lịch sử nhân loại”[9]
Vì vậy, Công Đồng Vaticanô II thúc bách không ngừng hoàn thiện các hiểu biết về những sự của Thiên Chúa và những việc của con người, ngõ hầu đi vào đối thoại cách thích đáng với những người đương thời.
Sự nhạy bén này sẽ gợi ý và hướng dẫn những đổi thay trí não và con tim hướng tới cuộc trở lại liên lĩ với Chúa và với tha nhân, bằng việc “để cho qua đi và để cho Chúa liệu.” Đặt Chúa vào giữa thì mọi sự sẽ đến cùng nhau, với cái nhìn tích cực (thấy khía cạnh tốt của những gì xảy đến), với lòng cảm thông (tha nhân không muốn thế, nhưng Chúa bắt phải làm thế) và biết ơn Chúa và tha nhân (nhờ đó mà ta được biến đổi và lớn lên).
Chúa luôn đổi mới lời mời gọi của Ngài, xuyên qua Phúc Âm, các dấu chỉ thời đại, các biến cố thăng trầm của cuộc sống mỗi ngày, thì chúng ta, là những người theo Chúa Giêsu, cũng phải đổi mới sự đáp trả của mình cho tương xứng.
Mọi việc Chúa Kitô làm đều mang dấu ấn của thay đổi, thay đổi từ cũ sang mới, từ điều được trông đợi đến điều bất ngờ: Ngài ngồi ăn với người những tội lỗi, nói chuyện với người Xamari, vượt quá luật ngày Xabát, yêu thương kẻ thù, và Ngài hy sinh mạng sống vì người khác.
Mọi hành động ấy đều là những thay đổi. Qua những thay đổi ấy, Hội Thánh được sinh ra, và hôm nay, cũng qua những thay đổi như thế mà Hội Thánh còn tồn tại và tiếp tục sống động.
Luật của sự sống và sinh trưởng là thay đổi, và mỗi chặng đường sinh trưởng của con người đều được ghi dấu bằng những thay đổi quyết định, từ lúc được sinh ra cho đến lúc chết đi, trải qua tích cực cũng như tiêu cực: «Mai nam, trưa nắng, chiều nồm; trời còn luân chuyển huống mòm thế gian»
Trong chiều hướng này, linh mục được mời gọi trở thành những con người phục vụ khiêm tốn trong bất cứ cái gì, bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, và bất cứ thế nào, mà dân chúng cần đến.
10. Linh Mục là người của sứ vụ tiên tri
Với sự tham dự vào chức linh mục cộng đồng của Chúa Kitô, linh mục được thúc đẩy sống sứ vụ tiên tri.
Để thực hiện sứ vụ tiên tri của mình, Chúa Giêsu đã nói đến Bát Phúc, người con hoang đàng, người Samaritanô tốt bụng… Ngài đã đến với người tội lỗi, gái điếm, ngoại tình, bị bỏ rơi, nghèo hèn, ở bên lề và bị loại trừ, dù Ngài bị chỉ trích là điên khùng, phản động, phạm thượng, đi lại và ăn uống với phường thu thuế và tội lỗi.
Linh mục phải thực thi sứ vụ tiên tri của mình, với tất cả con tim, với tất cả linh hồn, và với tất cả sức mạnh của mình:
- Loan báo và sống tình yêu nồng cháy của Chúa Giêsu đối với Thiên Chúa, Nước Chúa, và đối với dân chúng.
- Tố cáo thói giả hình, bất công, áp bức,… dù phải trả với giá đắt của thập giá và cái chết: Giám mục Oscar Romero và Mục sư Martin Luther King là những chứng tá hùng hồn hiện đại cho sứ vụ tiên tri này.
Linh mục luôn có cơ hội để tuyên bố và trình bày cho thế giới và Dân Chúa sứ điệp yêu thương của Chúa, tại đây và lúc này. Đồng thời linh mục cũng phải nhắc nhở dân chúng về mối liên hệ giao ước của họ với Thiên Chúa.
Tuy sứ vụ tiên tri là một nhiệm vụ khó khăn và nguy hiểm, linh mục phải đóng vai trò chỉnh sửa ở trong Giáo Hội cũng như ở ngoài Xã Hội, khi có quá nhiều áp bức xã hội, chính trị, kinh tế và tôn giáo cực đoan, vì “kiến nghĩa bất vi bất nghĩa”
Hơn nữa phải theo nguyên tắc của Phêrô: “Các ông nghĩ thế nào cho phải lẽ trước mặt Chúa, vâng lời các ông hay là vâng lời Chúa hơn” (Cvtđ 4,19) – “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời con người” (Cvtđ 5,29)
Dĩ nhiên chỉ khi nào linh mục sống được cái đức dũng này: “Phú quí bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” nghĩa là giàu sang không ham, bần hèn không thay đổi lòng, bạo lực không khuất phục được, vì đã có Chúa làm gia nghiệp.
(Hát GIA NGHIỆP ĐỜI CON)
KẾT LUẬN
Một khi đã có bản vẽ, đã có mô hình, đã có mẫu, chúng ta sẽ bắt tay vào thực hiện công trình.
Cầu mong mỗi người chúng ta đều cố gắng hình thành cho mình một mẫu linh mục thích hợp, và nỗ lực xây dựng đời sống ơn gọi của mình theo cái mẫu đó, trong sự cộng tác tích cực và hữu hiệu giữa được đào tạo và tự đào tạo, theo đường lối của Giáo Hội, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
Với sức con người lắm khi rất khó, nhưng với Chúa thì mọi sự luôn đều là có thể.
IV. TƯƠNG QUAN VỚI MÔI TRƯỜNG SỐNG VÀ THIÊN NHIÊN
Cuộc sống nhân bản, thiêng liêng và tông đồ của linh mục cũng cần đến mối tương quan với môi trường sống và thiên nhiên.
Trong thời đạo đức sinh học của chúng ta hôm nay, linh mục cần thiết lập một mối tương quan lành mạnh với toàn thể thế giới được tạo thành, nơi mà Chúa Thánh Thần hằng hoạt động.
“Thiên Chúa ở trong tất cả” là lối hiểu nền tảng của mối tương quan giữa Thiên Chúa và thụ tạo: Thiên Chúa không ở ngoài thụ tạo và Ngài tiếp tục sáng tạo, canh tân tạo vật của Ngài cho đến kiện toàn viên mãn theo kế hoạch yêu thương của Ngài (2 Cr 5,19; 1 Cr 8,6; Eph 1,3-14; Cl 1,15-29; Ga 1,1-3; Kh 21,5), và cứu chuộc nó (Rm 8,19). Chúng ta được kêu gọi tham dự vào công trình sáng tạo này của Thiên Chúa (St 1, 28) như một trách nhiệm tôn giáo.
Thật vậy, đời sống thiêng liêng là toàn thể cuộc sống được sống trong Thần Khí, nên khi chăm sóc thụ tạo, chúng ta cũng làm cho trách nhiệm này hoà nhập vào chính đời sống thiêng liêng của chúng ta.
Để chu toàn đời sống và sứ vụ của mình, chúng ta phải nhìn vào đời sống và giáo huấn của Chúa Giêsu liên quan tới tạo vật: hạt giống, hoa cỏ, chim trời, cá biển, cây nho, cây vả, vườn tược, cánh đồng, mùa gặt, sa mạc, núi non, nắm men, thúng bột, ngọn đèn, v.v.… (nhổ cỏ / nhổ tận gốc tật xấu; chăm cây cảnh / chăm luyện tập nhân đức v.v.)
Chúa Giêsu được Thần Khí hướng dẫn và Ngài thường ra đi từ sáng sớm tinh sương hay muộn màng khi trời đã tối, ngay cả giữa đêm khuya thanh vắng, một mình, vào sa mạc hay lên núi, ở đó sứ mạng và sự hiệp thông thân mật của Ngài với Chúa Cha được thử thách, khẳng định và củng cố (x. Mc 6,31).
Chúng ta nên tìm thư giãn trong các môi trường thiên nhiên, để nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng và gia tăng hiệp thông thân mật với Thiên Chúa, bằng cách để cho trí óc và con tim ngưỡng mộ và thưởng thức vẻ đẹp của tạo vật.
Chúng ta có thể dành thời gian để suy ngắm và cầu nguyện ngay trên bờ biển lúc rạng đông lên hay khi hoàng hôn xuống, dưới ánh trăng sao dịu mát ban đêm giữa cánh đồng bao la bát ngát hay trong rừng sâu giữa mùa hè …. lắng nghe tiếng sóng vỗ của đại dương, tiếng reo của suối, tiếng thì thầm của cây cối, tiếng líu lo của chim chóc, tiếng xào xạc của hoa cỏ …. như là nghe thấy Chúa Thánh Thần[10] nói trong trí khôn, trong con tim và trong linh hồn vậy.
Chúng ta sẽ cảm nhận rõ sự hiện diện thân tình của Thiên Chúa nơi thiên nhiên, đồng thời cảm nhận được sự cao cả của Chúa và sự thấp hèn của mình. Chúng ta sẽ học thực hành sống khiêm nhường trong tương quan với Thiên Chúa, với tha nhân và với tạo thành (xem ý nghĩa và nội dung biến cố “Tráng sinh lên đường”)
Chúng ta cũng thực hành thư giãn thân thể nhờ nhịp độ của hơi thở: Khi hít vào, chúng ta tưởng tượng rằng năng lực của Chúa Thánh Thần đang chuyển vào trong mình chúng ta để chữa lành, thánh hoá và tăng thêm sức mạnh, và trong khi thở ra lại nghĩ rằng Chúa Thánh Thần đang đẩy những điều xấu ra khỏi cuộc sống mình.
Tập thư giản bằng cách hít dưỡng khí vào thật sâu qua mũi cho căng đầy bụng, rồi chuyển qua huyệt đan điền, đẩy ra toàn thân tới tận chân tơ kẻ tóc / đường gân thớ thịt. Xong lại rút thán khí về qua huyệt đan điền để đẩy ra ngoài qua miệng. Trong khi đó để tâm trí kiểm soát đường đi của hơi thở. Còn ý nghĩ thì nghĩ rằng quyền năng của Chúa Thánh Thần đi vào để thánh hóa và rút bỏ những xấu xa quỉ quái khỏi lòng trí và thân xác chúng ta.
Cuộc đời không luôn luôn xảy ra như lòng ta mong ước. Có những điều tích cực mong mãi không được, lại có những điều tiêu cực không chờ đợi vẫn đến, cố tránh mà vẫn phải gặp. Vận dụng hơi thở để giải trừ: Khi hít vào, chúng ta cũng có thể nghĩ là mình đón nhận tất cả những gì là tích cực; còn thở ra là loại bỏ tất cả những gì là tiêu cực từ bất cứ đâu mà đến.
Với cách này, chúng ta tập giữ tâm hồn ở trạng thái thanh thản, như kinh Yataka dạy ‘Con hãy giữ tâm như đất: trên đất, người ta đổ ra dầu ngọt dầu chua, dầu cay dầu đắng, dầu sạch dầu dơ, đất vẫn một mực thản nhiên, đất không giận, đất không thương’.
Một tinh thần lành mạnh trong một thân thể tráng kiện. Nếu chúng ta biết vun trồng và bảo vệ thiên nhiên, thì thiên nhiên sẽ bảo vệ và tăng sức lực cho chúng ta.[11] Chẳng hạn câu chuyện “cây thầu dầu với tiên tri Giôna”:
“Chúa khiến một cây thầu dầu mọc lên ở phía trên ông Giôna để có bóng mát che đầu ông, hầu làm ông hết buồn bực. Ông Giôna vui, vui lắm vì cây thầu dầu. Nhưng hôm sau, khi hừng đông ló rạng, Chúa khiến một con sâu cắn cây thầu dầu và cây bị héo. Khi mặt trời mọc, Chúa cho có một cơn gió đông nóng bỏng, và mặt trời giội nắng xuống đầu ông Giôna; ông ngất xỉu và xin cho mình được chết, ông nói: "Thà tôi chết còn hơn là sống.” Chúa hỏi ông Giôna: "Ngươi nổi giận vì cây thầu dầu, như thế có lý không? " Ông trả lời: "Con có lý để nổi giận đến chết được!" Chúa phán: "Ngươi, ngươi thương hại cây thầu dầu mà ngươi đã không vất vả vì nó, và không làm cho nó lớn lên; trong một đêm nó đã sinh ra, rồi trong một đêm lại chết đi. Còn Ta, chẳng lẽ Ta lại không thương hại Ninivê, thành phố lớn, trong đó có hơn một trăm hai mươi ngàn người không phân biệt được bên phải với bên trái, và lại có rất nhiều thú vật hay sao?” (Giona 4,6-11)
(xem Phụ Lục: SỐNG TƯƠNG QUAN VỚI THIÊN NHIÊN QUA MỘT SỐ THÁNH THI)
V. TƯƠNG QUAN VỚI “TỨ CHUNG”
1. Cái chết
2. Phán xét
3. Thiên Đàng
4. Hỏa Ngục
Không có cái gì chắc chắn sẽ đến như cái chết; không có gì công bằng và nghiêm ngặt cho bằng cuộc phán xét chung thẩm; không có gì cay đắng và khủng khiếp cho bằng hỏa ngục; và không có gì dịu ngọt hạnh phúc cho bằng thiên đàng.
NGHĨ VỀ CÁI CHẾT
“Hãy để cái chết làm thầy dạy cho chúng ta” (Thánh Augustinô)
1. CÁI CHẾT: MỘT CON ĐƯỜNG SỐNG THÁNH
“Đã đến giờ tôi phải ra đi. Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin. Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính; Chúa là vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày ấy, và không phải chỉ cho tôi, nhưng còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện” (2 Tm 4,6-8)
“Nếu ngày nào ta cũng sống như thể đó là ngày tận thế của mình, đến một lúc nào đó ta sẽ thấy mình đúng.” Hãy luôn nhìn vào gương mỗi ngày để tự hỏi: “Nếu hôm nay là ngày cuối của đời mình, liệu tôi có muốn làm những việc hôm nay tôi sắp làm mà lương tâm tôi sẽ ân hận không?” Và khi nhận ra câu trả lời là “không” thì ngày này qua ngày khác, tôi biết mình cần thay đổi điều gì đó.
Ghi nhớ rằng "một ngày nào đó gần thôi mình sẽ chết đi" là một bí quyết vô cùng quan trọng giúp ta quyết định những lựa chọn lớn trong đời, bởi vì hầu hết mọi thứ - những mong đợi của người khác, lòng kiêu hãnh, nỗi lo sợ, xấu hổ khi thất bại - đều phù phiếm trước cái chết, chẳng có gì quan trọng cả.
Luôn nhớ rằng mình sẽ chết là cách tốt nhất để biết tránh sa vào cái bẫy suy nghĩ rằng mình không muốn mất đi cái gì đó. Lòng ta được thanh thoát, chẳng có lý gì để không đi theo tiếng gọi của Chúa: “Không ai biết được lúc nào Chúa vạch đường ranh giới chấm dứt cuộc đời mình.”
Không ai muốn chết cả. Thế mà cái chết lại là điểm đến của tất cả chúng ta. Không ai có thể trốn khỏi nó. Có lẽ đó cũng là điều hợp lẽ, bởi Cái Chết là sản phẩm tuyệt vời nhất của Cuộc Sống. Nó là yếu tố làm thay đổi cuộc sống. Nó gạt bỏ cái cũ và mở đường cho cái mới. Ngay bây giờ “cái mới” là thế hệ chúng ta, nhưng không xa nữa đâu, chúng ta sẽ trở thành cái cũ và bị loại bỏ. Xin thứ lỗi cho tôi, nói như thế là quá gay, nhưng mà đúng như vậy đấy.
Thời gian của chúng ta là có hạn, nên đừng phí phạm bằng cách sống cuộc đời của người khác. Đừng rơi vào bẫy của sự độc đoán, giáo điều của người khác. Đừng để những ý kiến ồn ào xung quanh đánh chìm tiếng nói của Chúa ở bên trong chúng ta. Và quan trọng nhất, hãy có dũng cảm để đi theo tiếng gọi của lương tâm chúng ta và lời thúc giục của Chúa Thánh Thần. Nhờ đó, chúng ta sẽ biết được cái gì thực sự là quan trọng, còn mọi thứ khác chỉ là thứ yếu thôi.
Con người là con vật duy nhất biết mình sẽ chết. Nhưng cái biết này vẫn còn là lý thuyết xa lạ, nhất là đối với người trẻ, đang khoẻ mạnh, đang yêu, đang thành công, tương lai đang hứa hẹn và cuộc đời đang mĩm cười với. Chỉ khi nào vấp phải một chứng bệnh nan trị, khi y học khiêm tốn nhìn nhận giới hạn của mình và buộc lòng phải tàn nhẫn tuyên bố bản án tử, thì khi đó sự biết mình sắp chết mới trở nên gần gũi thiết thân, hay nhức nhối đến từng làn da thớ thịt.
Trước cái biết sắp chết này, có người tuyệt vọng, buông xuôi hoặc bất mãn, căm hận, nổi loạn “trả thù đời”, để rồi chết đi khổ sở không bình an. Nhưng có người lại coi đó là một may mắn: có thời gian chuẩn bị hành trình tốt đẹp đi về vĩnh cửu.
Vì thế, các bậc thánh hiền dạy hãy năng nghĩ đến cái chết, vì nó giúp mình sống một cuộc đời tốt lành thánh thiện hơn. Thật vậy, có ai biết chốc lát nữa mình sẽ chết mà còn ham hố những sự đời này, còn gieo rắc bất công, hận thù, còn ghen ghét tranh chấp hơn thua nữa, mà không trái lại, an hòa với mọi người, tôn trọng lương tâm của kẻ khác, giao phó cho lòng nhân từ của Chúa lời phẩm bình cuối cùng và sự xét đoán chung thẩm, nỗ lực chuẩn bị tâm hồn để ra đi trong bình an về với Chúa?
Cái may mắn cho mình, cho người và cho đời là ở chỗ đó: có gì nữa để mất đâu mà sợ mất, có gì cần được nữa ở đời này đâu mà lo cho được?! Cảm nhận được điều đó đem lại cho chúng ta sự thanh thản và sức mạnh cho tâm hồn; đồng thời nỗ lực sống một cuộc sống đẹp như lời khuyên: “Ngày con sinh ra, mọi người cười (vui mừng vì con ra đời) mà con khóc. Con hãy sống thế nào để ngày con chết đi, con cười (mãn nguyện) mà mọi người khóc (vì thương tiếc con)”
(slideshow BÀI HỌC QUÉT LÁ)
2. CÁI CHẾT: HẠNH PHÚC TRỞ VỀ
Linh mục hãy nhìn cái chết với lòng trông cậy
Những kẻ khác nói về sự khủng khiếp của cái chết. Còn linh mục hãy giảng về niềm vui của cái chết. “Ta sẽ đến như kẻ trộm”, Chúa đã nói như vậy không phải để làm cho ta sợ, nhưng vì thương ta, Chúa muốn ta luôn luôn sẵn sàng và sống từng phút giây dường như lúc ta phải vĩnh viễn ra đi: “Hôm nay có thể là ngày cuối cùng rồi đây!”
Chúng ta hãy sống trên trần gian như người đang chờ chết, như người từ cõi bên kia trở lại. Chúa luôn có mặt bên ta, ngay cả lúc mọi sự dường như đổ vỡ, và nhất là trong giờ chết của ta. Chúng ta sẽ thấy đôi bàn tay Chúa choàng xuống trên ta và ôm chặt ta vào lòng. Chúng ta sẽ khám phá ra mình đã làm việc, đã đau khổ cho ai.
Chúng ta sẽ cám ơn Chúa đã đối xử với ta như thế, đã gìn giữ ta khỏi bao nhiêu nguy hiểm phần hồn phần xác, đã dẫn dắt ta trên những con đường hết sức bất ngờ, đôi khi như lạc lối nữa, nhưng đã làm cho đời sống ta được đồng nhất trong việc phục vụ anh chị em của ta. Lời tạ ơn của ta sẽ không ngừng vang lên khi ta khám phá thấy lòng thương xót của Chúa trên ta cũng như trên thế giới.
Chúng ta hãy năng dâng cho Chúa cái chết của con người để họ được sống bằng sự sống của Chúa. Chúng ta hãy nghĩ đến cuộc gặp gỡ của chúng ta trong ánh sáng. Chính vì vậy mà ta đã được tạo dựng, đã làm việc, đã đau khổ. Khi đến phiên ta, Chúa sẽ hái lấy ta. Chúng ta hãy năng nghĩ đến đó và dâng trước cho Chúa giờ chết của ta hiệp nhất với cái chết của Chúa Giêsu.
Chúng ta cũng hãy năng nghĩ đến cái gì sẽ đến sau cái chết. Phải, ta hãy nhìn cái chết với lòng trông cậy và hãy tận dụng chuỗi ngày cuối đời mà chuẩn bị chết với tình yêu. Chúng ta cũng hãy nghĩ đến cái chết của anh chị em đồng loại, ba bốn trăm ngàn người mỗi ngày vĩnh viễn ra đi. Hãy cầu nguyện cho những người không hề nghĩ tới lúc phải ra đi. Đó là một cách hữu hiệu nhất làm cho Hy Tế Can-vê của Chúa Giêsu thêm giá trị và thánh lễ ta dâng mỗi ngày thêm phong phú.
Nhiều người chẳng hề nghĩ Chúa sẽ đến gọi họ chiều nay! Bao nhiêu tai nạn, bao nhiêu thiên tai bất ngờ, còn ta hãy ngủ yên trong vòng tay Chúa chiều nay. Hãy làm mọi việc trong khi nghĩ đến lúc đó, nó sẽ giúp ta. Chính vì yêu ta mà Chúa Giêsu đã chấp nhận cái chết. Ta chỉ có thể cho Chúa bằng chứng lớn lao khi chấp nhận cái chết kết hiệp với Chúa Giêsu.
Chúng ta hãy tiếp tục năng liên kết cái chết của ta với cái chết của Chúa Giêsu và dâng lên Chúa Cha qua tay Mẹ Maria, dưới ảnh hưởng của Chúa Thánh Thần. Nhân danh cái chết của ta liên kết với cái chết của Chúa Giêsu, ta có thể xin những ơn trợ giúp cấp thời để sống tốt hơn trong hiện tại. Hãy tận dụng điều đó.
Chính bằng cái chết của Chúa Giêsu mà Thiên Chúa đã làm cho thế gian được sống. Và bằng sự hiến dâng cái chết của Chúa Giêsu mà Chúa tiếp tục ban sự sống cho loài người. Ta hãy tín nhiệm Chúa. Chúa luôn có mặt mọi lúc trong cuộc sống trần gian của ta. Chúa sẽ có mặt lúc ta đi vào đời sống vĩnh cửu. Và Mẹ Chúa, người đã tỏ ra quá tốt với ta như thế, Mẹ cũng sẽ có mặt với ta, với tất cả sự dịu dàng từ mẫu của Mẹ.
Chúng ta cũng hãy năng nghĩ đến anh chị em của ta trong luyện ngục, họ không thể tự mình làm chi cho mình thêm công nghiệp. Họ cần đến công nghiệp của anh chị em còn ở trần gian giúp cho họ. Chớ gì mọi người, những ngươi già cả, ốm đau, bệnh tật biết dùng những năm tháng cuối đời để thêm ơn và công nghiệp cho các linh hồn và cho chính mình. Cái chết của họ sẽ dịu dàng hơn, vì Chúa đã hứa ban một ơn trợ giúp đặc biệt vào lúc trọng đại đó cho những ai sống cho kẻ khác trước mình. Chính đó là tình yêu. Với những hy sinh nhỏ bé, hãy dọn mình chết bằng cách yêu mến.
Chúa biết giờ chết của ta và cách nó sẽ xảy ra. Chính Chúa đã chọn cho ta với tất cả tình yêu. Chúa sẽ có mặt vào giờ ra đi trọng đại cuối cùng của ta, với mọi ơn cần thiết. Chính mức độ tình yêu của ta sẽ cho ta dự phần cách sung mãn. Người ta chết như người ta đã sống. Nếu ta sống trong yêu thương, cái chết sẽ đến với ta trong tình yêu. Chính Chúa sẽ đợi ta ở cuối đường đời, sau khi đã là bạn đồng hành của ta suốt cả cuộc sống. Còn ta, hãy dùng cho tốt quãng thời gian còn lại.
Chúng ta hãy rao giảng tinh thần lạc quan cho những người ngã lòng. Chúa ở với Giáo Hội mọi ngày cho đến tận thế. Thay vì ngã lòng, họ hãy kêu đến Chúa: Lạy Chúa, xin cứu chúng con kẻo chúng con chết mất. Hãy gia tăng Đức Tin vào sự hiện diện và quyền năng của Chúa. Cách trực diện với sự chết đối với ta phải là vấn đề Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến. Cái chết là một cuộc khởi hành để đến đích. Trong nhà Cha, nơi đó ta sẽ gặp lại tất cả.
Người ta chết như người ta đã sống.
Chúng ta hãy sống trong tình yêu để được chết trong tình yêu
Hôm nay, hãy ngủ yên trong vòng tay Chúa.
Và chớ gì ta sẽ ra đi như thế!
(slideshow CON XIN PHÓ THÁC)
THẦY XỨ TUYỆT VỜI
1. TƯƠNG QUAN VỚI GIÁM MỤC BẢN QUYỀN
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Tương quan chặt chẽ với Giám Mục, nhìn thấy nơi ngài một người cha thực sự. Vâng phục và yêu mến với tình con thảo, luôn tỏ lòng kính trọng, tín nhiệm và mau mắn thực hiện công việc ngài trao phó với hết tâm trí, sức lực.
Tuyệt đối vâng phục Giám mục để phục vụ dân Chúa trong tinh thần hiệp thông, nhưng vẫn có thể trình bày quan điểm riêng khi được gợi ý trao nhiệm vụ hay công tác nào đó.
Thái độ vâng phục, cộng tác, trung thành, yêu thương và kính trọng Giám Mục giúp thầy học tập và thăng tiến bản thân trong đời sống hiệp thông của Giáo Hội.
Nhiệt tình ưu tư và tích cực tiếp tay cùng Giám Mục làm phát triển cộng đoàn dân Chúa tại địa phương.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không làm tổn thương mối tương quan với Giám mục, chẳng hạn có những lời nói hay việc làm thiếu kính trọng, có tính đối phó.
Không nên có thái độ bất cần, không tín nhiệm, bất hiệp thông, dửng dưng, kính nhi viễn chi; làm trái bài sai.
Không lơ đễnh bổn phận đã được trao phó; tỏ ra thái độ dửng dưng với công việc; làm chiếu lệ.
2. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC LINH MỤC ĐÀN ANH
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Kính trọng và vâng lời, xem các ngài là người anh đầy thương mến cùng chí hướng; khiêm tốn học hỏi từ kinh nghiệm và cuộc sống mục vụ của các ngài, vì “khôn đâu có trẻ”.
Luôn sẵn lòng cộng tác với các ngài trong mọi công việc, hầu làm sáng danh Chúa và cứu rỗi các linh hồn.
Luôn biết vâng lời các vị tiền bối trong những điều hợp với Giáo lý và Giáo luật. Khi cần, có thể thẳng thắn trao đổi và bày tỏ ý kiến của mình với các vị đàn anh về chương trình hành động hay công việc gì đó trong giáo xứ.
Nhiệt tình cộng tác và chia sẻ trách nhiệm cùng cha xứ. Mọi việc, mọi chương trình trong công tác mục vụ tại giáo xứ, thầy cần lên chương trình rồi bàn hỏi cùng cha xứ, nhưng quyền quyết định thuộc về ngài.
Thầy xứ cần sống hoà mình với tất cả các linh mục, không để có những ngăn cách về tuổi tác già, trẻ, đau yếu, hầu yêu thương, kính trọng và nâng đỡ các ngài trong khả năng và mức độ có thể của thầy.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không nói hay làm những gì tổn thương tình huynh đệ và cha con. Không tự phụ, khoe khoang mình tài giỏi, trẻ trung, thức thời, năng động và linh hoạt…
Không phụ ơn thế hệ tiền bối. Không coi thường đức tính cẩn thận trong phục vụ của đàn anh. Kính trọng, nhưng cũng không nên khúm núm rụt rè quá mức.
Không gây bất hòa, chia rẽ tình huynh đệ. Không gây gương mù vì mất đoàn kết trong tình hiệp thông huynh đệ.
Không tự động làm hay lên một chương trình gì trong giáo xứ mà không thông qua cha xứ.
Không liên kết với phe nhóm nào để phản kháng hay chống cha xứ.
3. TƯƠNG QUAN VỚI ANH EM CHỦNG SINH VÀ CÁC MẦM NON ƠN GỌI GIÁO SĨ
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Nâng đỡ các chủng sinh dự bị, nhất là trong thời gian họ được thử thách tại giáo xứ bằng cách chia sẻ kinh nghiệm, phân chia công việc, tạo điều kiện cho họ cộng tác.
Đón nhận và coi các chủng sinh dự bị cộng tác với mình như những người em đáng quí trọng và yêu thương.
Tìm hiểu khả năng, sở thích và tâm trạng của họ để trao công việc thích hợp.
Làm gương sáng và đi tiên phong trong mọi công việc phục vụ. Luôn khích lệ và tán dương khi họ chu toàn bổn phận.
Quan tâm và tìm hiểu những em nào thích đi tu trong số các em thiếu nhi mình phụ trách, đặc biệt các em giúp lễ.
Nên tổ chức những đợt thi đua hoa thiêng liêng, những ngày cầu nguyện cho ơn gọi, cũng như gặp gỡ các ơn gọi theo định kỳ.
Thường xuyên động viên và khuyến khích các em không chỉ về mặt tinh thần mà cả vật chất (khen thưởng).
Làm gương sáng cho các em về đời sống hy sinh, phục vụ, cởi mở với mọi người và sống đạo đức.
Chăm lo giáo dục các em sống thật thà, yêu thương mọi người bằng việc sống bác ái.
Giáo dục các em về đời sống nhân bản, biết kính trên nhường dưới, biết nói lời cám ơn, biết nói lời xin lỗi và biết ăn năn sám hối về những tội lỗi đã phạm đến Thiên Chúa và tha nhân.
Giáo dục các em về đời sống đức tin, giáo lý của Chúa và Hội Thánh, nhất là am hiểu Lời Chúa.
Tập cho các em biết cách cầu nguyện, nhất là phải có lòng sùng kính mến yêu bí tích Thánh Thể và Mẹ Maria Vô Nhiễm.
Đôn đốc và động viên các em chuyên chăm học hành tri thức, các kỹ năng chuyên môn nhằm nâng cao hiểu biết và khả năng phục vụ sau này.
Quan tâm và cổ võ ơn gọi thánh hiến, bằng cách kêu gọi, tổ chức các lớp ơn gọi...
Quan tâm nâng đỡ ơn gọi bằng cách gặp gỡ, trao đổi, giúp đỡ các em cả về tinh thần và vật chất, nhất là làm gương sáng cho các em.
Đặc biệt là giúp các em tìm hiểu ơn gọi và xác định đúng ơn gọi của mình. Đây là vấn đề rất quan trọng.
Cũng nên nói thật về những hy sinh, từ bỏ là những yếu tố không thể thiếu trong đời sống tu, để các em không thất vọng khi đối mặt với thực tế.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Tránh làm gương mù gương xấu cho các chủng sinh dự bị, nhất là đừng để lại ấn tượng xấu khi họ ra đi.
Không đè nén, hay đối xử quan cách, hách dịch, kẻ cả… nhưng ý thức đó là những người anh em cùng lý tưởng trong Chúa Kitô.
Không bao giờ có ác ý trong lúc họ cộng tác với mình, nếu sai thì góp ý, đúng thì tán thành và khích lệ.
Không bao giờ bới lông tìm vết và khiển trách họ trước đám đông kẻo làm mất thanh danh người em của mình.
Đối với các mầm non ơn gọi, không bao giờ la mắng, quát nạt các em khi các em không chu toàn bổn phận, vì chúng đang ở tuổi mải ham chơi.
Không bao giờ quí em này mà ghét hay khinh chê em khác.
Không bắt phạt các em quá mức khi chúng làm cho mình không hài lòng.
Không bắt các em phải sống, phải làm mọi việc như mình đã sống, đã làm và đã luyện tập trong bao nhiêu năm (“trả thù đời”).
Không nên nói dối hay đánh lừa các em, vì chúng rất đơn sơ và tâm lý của các em dễ bị tổn thương.
Không bao giờ gieo vào đầu các em những hình ảnh, những tư tưởng và việc làm xấu, vì tâm hồn các em như một tờ giấy trắng rất dễ bị hoen ố.
Không để các em bè phái, nhưng dạy chúng sống đoàn kết yêu thương không phân biệt tuổi tác.
Không nên quên sửa lỗi cho các em. Cần chỉ cho các em biết được lỗi đã phạm và biết cách sửa lỗi để mỗi ngày trở nên tốt hơn.
Không nên bỏ mặc các em trong các sinh hoạt tri thức và thiêng liêng, cũng như sức khỏe và đời sống vật chất nữa.
Không nên bắt ép các em phải đọc quá nhiều kinh sách có thể làm cho chúng dị ứng với đời tu.
Không được dửng dưng với ơn gọi, và đặc biệt không bao giờ được phép coi thường và tiêu cực với ơn gọi.
Không bao giờ được nói xấu, chê bai hoặc có thái độ khinh dể các quyền bính trong Giáo Hội, cụ thể là các bề trên liên hệ.
Không làm gương xấu, gương mù hay có những hành vi làm cho những người trẻ vì đó mà mất niềm tin, thất vọng vào đời sống dâng hiến. Như vậy là dập tắt các mầm non ơn gọi. Không nên coi thường, lãnh đạm, thờ ơ với ơn gọi tu sĩ.
Nhưng cũng không nên hoàn toàn nói hay nói tốt về đời sống tu, làm họ vỡ mộng khi gặp thực tế trái ngược.
4. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC TU SĨ NAM NỮ
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Biết lắng nghe, kính trọng và yêu thương họ trong tình hiệp nhất. Cư xử hòa nhã và không nên phân biệt đối xử dòng hay triều.
Biết thông cảm và chia sẻ với họ những khó khăn và thách đố họ đang gặp phải.
Nhìn nhận những khả năng chuyên môn và kinh nghiệm về tri thức, cũng như đời sống hy sinh của họ trong nhà dòng.
Tạo mọi điều kiện cho các nam nữ tu sĩ cộng tác với mình được phát triển khả năng chuyên môn của họ.
Nên có những buổi trao đổi hay giao lưu với nhau về các lãnh vực chuyên môn như: giáo lý, Kinh Thánh và các kỹ năng khác.
Tổ chức những buổi cầu nguyện hay tĩnh tâm chung với tất cả nam nữ tu sĩ đang phục vụ tại giáo xứ.
Tổ chức những buổi thăm viếng và giúp đỡ các nam nữ tu sĩ trong giáo xứ bị bệnh tật, hay đang gặp khó khăn để xây dựng tinh thần hiệp thông và thăng tiến đời sống đạo đức.
Nhìn nhận giá trị các tổ chức tu trì trong và ngoài giáo phận.
Tôn trọng phẩm giá và sứ vụ tông đồ của các cộng đoàn tu sĩ. Tôn trọng các đặc sủng của từng cộng đoàn tu trì.
Sẵn sàng để các cộng đoàn tu cộng tác với mình trong công tác tông đồ thuộc địa hạt của mình, đặc biệt lãnh vực phụng vụ và bác ái. Và cũng sẵn sàng chia sẻ sứ vụ của mình với họ.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không nên xem thường và khinh miệt các tu sĩ, cư xử phân biệt nam tu và nữ tu.
Không độc tài áp đặt ý kiến của mình bắt người khác phải theo, nhưng để cho mọi người cùng đóng góp ý kiến xây dựng.
Không dùng những lời nói có tính cách sai khiến và trịch thượng, dù mình có là người đi trước, hoặc có quyền, có trách nhiệm.
Không nên lợi dụng, bắt họ làm việc quá nhiều mà quên đi rằng họ cũng cần phải có thời giờ nghỉ ngơi, bồi dưỡng thêm kiến thức và tu đức. Cũng đừng quên ơn và quên công lao của họ (vắt chanh bỏ vỏ).
Không dẫm chân lên nhau trong các công việc đã được cha xứ chỉ định.
Không nên ganh đua tài năng cũng như công việc phục vụ, để rồi kéo bè để lên án hay phê bình các nam nữ tu sĩ, chỉ vì ghen tức họ làm việc tốt, có hiệu quả nên được mọi người khen ngợi và yêu mến hơn mình.
5. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC NỮ TU LỚN TUỔI
VÀ CÓ TRÁCH NHIỆM
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Trước hết phải biết kính trọng họ, vì là những người lớn tuổi, cả tuổi đời lẫn tuổi tu.
Tìm cách nâng đỡ và động viên bằng cả tinh thần lẫn vật chất, tuy nhiên cũng cần phải giữ một khoảng cách nhất định vì luật âm dương không có bên giới về tuổi tác.
Dùng những lời nói tế nhị, có tính đề cao họ, vì có những người đáng tuổi bà, tuổi mẹ... nên họ rất hay tủi thân khi bị xúc phạm.
Nên mời các nữ tu cộng tác vào các công việc phục vụ trong giáo xứ, nhất là công việc mục vụ, để họ cảm thấy mình cũng có trách nhiệm với giáo xứ, chứ không phải là người đứng ngoài và hoàn toàn thụ động với các sinh hoạt của Giáo xứ.
Trao đổi với người có trách nhiệm trước khi giao cho các nữ tu công việc gì. Phải có sự hiểu biết, tin tưởng và an tâm khi trao công việc cho họ phụ trách.
Tuyệt đối kính trọng họ trong mọi hoàn cảnh. Nói năng phải lễ phép, lịch sự, thưa gửi đàng hoàng và đứng đắn.
Luôn lắng nghe những ý kiến xây dựng cách chân thành của họ cho mình về cách sống cũng như cách làm việc.
Trong khi tiếp xúc với họ, hay có việc cần phải trao đổi thì phải ở phòng khách, tiếp vắn gọn nhanh chóng, có một khoảng cách đủ an toàn.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không bao giờ dùng lời nói khinh chê và mỉa mai đối với các nữ tu lớn tuổi, hay xem họ là người không làm được việc gì hết và ăn bám.
Không nên nói những gì có tính làm nguy hại đến tinh thần hiệp nhất, ảnh hưởng đến người khác, vì các nữ tu khó lòng giữ được những chuyện kín.
Không nên quá đề cao tầm quan trọng của các nữ tu, để họ tự mãn và làm cao. Cũng không nên nói dối (nói đùa) với họ, vì tuổi già hay tin tưởng và dễ hiểu lầm.
Không nên chỉ trích, làm mất thanh danh và uy tín của các nữ tu giữa cộng đoàn giáo xứ.
Không nên kéo phe nhóm hay chỉ quan tâm đến những người mình phụ trách nhiều quá, vì làm như thế những người còn lại sẽ buồn và cảm thấy mình bị hất hủi.
Không nên nói năng với họ như những người ngang hàng, nói lời bất kính, coi thường, khinh dể hay xấc láo.
Không nên lạm dụng lòng tốt của họ; phân biệt đẳng cấp và tỏ thái độ bất cần.
Không nên can thiệp vào những việc nội bộ của họ, dù có được họ chia sẻ về trách nhiệm của họ.
Dù họ là nữ tu lớn tuổi, khi tiếp xúc không nên ở trong phòng kín, khoá cửa, tiếp xúc quá lâu giờ và đừng bao giờ tỏ ra quá thân mật với họ như người ngoài đời.
Không nên nói những chuyện sàm sỡ (tiếu lâm) với các nữ tu làm ảnh hưởng đến đời sống dâng hiến.
Đừng bao giờ đánh giá hay nhận xét về các thành viên cấp dưới hay cung cấp thông tin không chính xác của cấp dưới cho bề trên.
6. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC NỮ TU BẰNG TUỔI
VÀ CÓ TRÁCH NHIỆM
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Lắng nghe những ý kiến của họ khi xét thấy là đúng, là hợp lý. Nếu cộng tác với nhau trong công việc tông đồ, nên có kế hoạch cụ thể.
Cảm thông và chia sẻ những thất bại cũng như thành công để nâng đỡ, giúp họ vượt qua những bế tắc.
Phải dứt khoát trong vấn đề tình cảm. Lời nói phải thanh tao, đứng đắn lịch sự, cởi mở chân thành, có sao nói vậy.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không nên tỏ thái độ quan tâm họ hơn những người khác trong cộng đoàn của họ, cho dù họ là người có trách nhiệm, có nhiều việc trao đổi hợp tình hợp lý.
Không nên từ chối những việc họ cần đến sự trợ giúp của mình, khi việc đó là chính đáng và mình có thể làm được.
Không nên đưa ra điều kiện này điều kiện khác khi giúp họ, nhằm đưa họ vào thế kẹt.
Đừng nên nghe họ tâm sự những chuyện riêng tư của họ mà xét thấy không phù hợp với mình.
Không nên nói một lời hai ba ý. Trong các cuộc tiếp xúc, mình phải là người hoàn toàn chủ động, dứt khoát không để họ lạm dụng và ngược lại.
7. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC NỮ TU TRẺ
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Tôn trọng các nữ tu trẻ, coi họ như những người chị em trong Chúa. Nhìn nhận họ là những cộng tác viên, chứ không phải những thuộc hạ hay người giúp việc.
Sống liên đới nhưng phải khôn ngoan. Sống cởi mở và cùng nhau chia sẻ đời sống tâm linh và sứ vụ. Tin tưởng, cảm thông và sẵn sàng nâng đỡ nhau về tinh thần cũng như vật chất.
Sẵn sàng trao đổi những kinh nghiệm trong đời sống thiêng liêng, đời sống mục vụ, cũng như các công việc hoạt động tông đồ.
Thường xuyên kiểm tra và đôn đốc các công việc đã phân công cho các nữ tu giúp đỡ. Giúp đỡ họ thăng tiến về đời sống nhân bản, tâm linh và tri thức, trong khả năng và điều kiện của mình.
Nói năng đứng đắn, tư cách đàng hoàng, có sao nói vậy rất chân thành. Khi làm việc chung với nhau, cần có kế hoạch cụ thể, phải có giờ giấc, tôn trọng nơi chốn và thời gian. Luôn nghĩ tốt về mọi người, nên tìm và khai thác những khía cạnh tốt để động viên và khích lệ.
Cố gắng bao nhiêu có thể để xây dựng sự đoàn kết, gắn bó trong cộng đoàn của họ. Hãy tỏ ra là người bạn của họ và lắng nghe những trăn trở thắc mắc của họ về công việc để tìm ra giải pháp tốt nhất.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Cần phải giữ khoảng cách và nơi chốn khi tiếp xúc. Không nên tiếp lâu giờ một mình trong phòng riêng và đóng kín cửa.
Giữ khoảng cách tình cảm và những giới hạn cần thiết về thể lý cũng như tâm lý của các cuộc gặp gỡ. Tránh những cuộc hẹn hò riêng tư và vụng trộm.
Không nên khen một nữ tu nào đó mà mình quí mến trước mặt các nữ tu khác làm cho họ buồn, ghen tương và có thể hiểu lầm.
Không chiều chuộng hay cho quà cáp các nữ tu, vì họ rất yên chí mình là của riêng họ.
Không nên nói những lời thiếu đứng đắn, thiếu tư cách, hay những lời ẩn ý khó hiểu, những lời thiếu lành mạnh.
Khi làm việc với nhau trong một giáo xứ không nên tuỳ tiện cả về thời gian và nơi chốn, dù là có ý ngay lành.
Đừng bao giờ chê bai, đánh giá thấp hay nói xấu, nói các khuyết điểm, các sai lầm của bề trên của họ trước mặt họ.
Không bao giờ phân chia bè phái rồi mình đứng về phe này hay phe kia để chia rẽ.
Không nên nhận các nữ tu trẻ làm anh em kết nghĩa. Cũng không nên nhận lời khi các nữ tu trẻ đặt vấn đề muốn nhận làm bố hay anh tinh thần.
Không nghe những nữ tu trẻ nói xấu nhau, hay nói xấu những người trong cộng đoàn của họ.
Đừng bao giờ tỏ ra quan tâm một người hơn trong một nhóm người của cộng đoàn, vì đó là một điều vô cùng tai hại.
8. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC MẦM NON ƠN GỌI TU SĨ
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Năng gặp gỡ, khích lệ, động viên và nâng đỡ các em. Nói cho các em biết sự cao qúi của ơn gọi thánh hiến.
Sống thật vui vẻ và gương mẫu, để các em cảm nhận được thầy thật dễ mến.
Gần gũi, cởi mở và thân thiện với các em. Tỏ ra thầy hài lòng và sung sướng khi thấy dấu chỉ ơn gọi nơi các em.
Ý thức mình có trách nhiệm chăm lo những mầm non ơn gọi. Khơi dậy trong thanh thiếu niên khát vọng dâng hiến cho Chúa. Coi các mầm non ơn gọi là đối tượng quan trọng trong lời cầu nguyện của mình.
Luôn tỏ ra mình là người bạn, người anh, người thầy thực sự và sắp là người cha nữa, sẵn sàng đưa tay dìu dắt các em và đồng hành với chúng.
Giúp các em biết cách đề phòng và tránh xa những cám dỗ nguy hiểm có thể làm mất ơn gọi.
Mời gọi các em cộng tác với thầy phục vụ thiếu nhi, tham gia ca đoàn, giúp lễ, đọc sách Thánh và các sinh hoạt trong giáo xứ.
Hàng tuần hoặc hàng tháng qui tụ các em để nói về ơn gọi, về nhân bản và giáo lý.
Nên làm công tác tư tưởng với phụ huynh của các em, để họ quảng đại dâng hiến con cho Thiên Chúa. Luôn cảm thông và giúp đỡ cách vô vị lợi, không mong đáp đền.
Cần để cho các em hoàn toàn tự do lưạ chọn tiếp tục theo đuổi ơn gọi tu trì hay muốn thay đổi. Nếu có thể được, hãy đóng vai trò như là linh hướng cho các em.
Giúp các em ý thức về một nếp sống nhân bản sao cho phù hợp với nhà tu hành.
Nên nói cho các em biết về các điều kiện phải có để theo đuổi ơn gọi, chẳng hạn lòng nhiệt thành và tinh thần yêu mến các linh hồn.
Một điều cũng cần cho các em biết sớm đó là muốn tu thì phải có khả năng sống độc thân, vâng lời và nghèo khó.
Thỉnh thoảng cho các em cây bút, cuốn vở, hay sách đạo vào những dịp lễ quan thầy của các em hoặc ngày sinh, ngày khai trường...
Tổ chức cho các mầm non ơn gọi được giao lưu sinh hoạt với nhau trong giáo xứ, giáo hạt với những trò chơi có thưởng. Thỉnh thoảng tổ chức cho đi hành hương.
Nên dè dặt và tế nhị đối với các em nữ để các bậc phụ huynh và khách quan nhìn vào không ái ngại nhưng yên tâm ủng hộ.
Giúp ơn gọi nam cách đắc lực hơn trong vấn đề vật chất cũng như tinh thần mà không sợ dị nghị vấn đề phái tính. Coi các em sẽ là những người anh em của mình trong tương lai.
Quan tâm và cổ võ ơn gọi thánh hiến, bằng cách kêu gọi, tổ chức các lớp ơn gọi...
Quan tâm nâng đỡ ơn gọi bằng cách gặp gỡ, trao đổi, giúp đỡ các em cả về tinh thần lẫn vật chất, nhất là làm gương sáng cho các em.
Đặc biệt là giúp các em tìm hiểu ơn gọi và xác định đúng ơn gọi của mình, đây là vấn đề rất quan trọng.
Cũng nên nói thật về những hy sinh, từ bỏ là những yếu tố không thể thiếu trong đời sống tu, để các em không thất vọng khi đối mặt với thực tế.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không quên câu nói của Chúa Giêsu: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít”. Không dửng dưng với những em có dấu chỉ ơn gọi tu trì. Không im lặng khi các em muốn hiểu biết về cuộc sống tu trì.
Không sống cách buồn phiền và biếng nhác công việc bổn phận, khiến các em thấy thầy đang kéo lê cuộc đời.
Không tỏ ra xa cách và khép kín, ích kỷ. Không nên nghĩ rằng khi có nhiều người đi tu thì mình sẽ bị giảm giá trị.
Không mặc kệ các mầm non ơn gọi tự xoay sở kiếm tìm người giúp đỡ. Không quên cầu nguyện cho ơn gọi tu trì.
Không làm gì khiến các mầm non ơn gọi có cảm giác cuộc sống tu trì cô đơn và thiếu nâng đỡ.
Không nên dấu diếm những thử thách mà đời tu thường gặp phải, cũng như cám dỗ của thời đại. Nhưng cũng không nên hoàn toàn nói hay nói tốt về đời sống tu.
Không nên bao biện, vơ tất cả công việc về mình, đang khi có nhiều việc những mầm non ơn gọi làm rất tốt.
Không bỏ qua cơ hội có thể nâng đỡ các em về tinh thần hay vật chất.
Không quên rằng gia đình có vị trí quan trọng, là môi trường ươm trồng ơn gọi.
Không tạo áp lực buộc các em phải theo mình, khiến các em phải lệ thuộc mình cách nào đó.
Không nên can thiệp quá sâu vào đời sống riêng tư của các em, khai thác bí mật mà các em muốn giấu kín. Không nên có cung cách giáo điều, thiếu nhã nhặn và tế nhị.
Không đòi hỏi các em phải đạt ngay được những điều mà thầy đã tu tập trong nhiều năm.
Không nên quan tâm đặc biệt riêng một em nào cả, nhất là là nữ giới. Không nên tiếp xúc quá riêng tư với một mầm non nữ nào đó, khiến mọi người thấy đấy là gương mù.
Không dùng của cải và tài năng của mình làm cho các em bị choáng ngợp, khiến Chúa bị lu mờ đi trong tâm trí em.
Không được dửng dưng với ơn gọi, và đặc biệt không bao giờ được phép coi thường và tiêu cực với ơn gọi.
Không bao giờ được nói xấu, chê bai hoặc có thái độ khinh dể các quyền bính trong Giáo Hội, cụ thể là các bề trên liên hệ.
Không làm gương xấu, gương mù hay có những hành vi làm cho những người trẻ vì đó mà mất niềm tin, thất vọng vào đời sống dâng hiến. Như vậy là dập tắt các mầm non ơn gọi.
9. TƯƠNG QUAN VỚI GIÁO DÂN NÓI CHUNG
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Yêu mến, cư xử với giáo dân bằng ánh mắt và con tim của Chúa. Cư xử với giáo dân như anh chị em cùng một Cha trên trời.
Sống đúng tư cách người trưởng thành về nhân bản và tôn giáo. Sống hài hoà với mọi giới, mọi đoàn thể.
Tôn trọng ý thức trách nhiệm và tự do của giáo dân trong mọi lãnh vực của cuộc sống, nhất là lãnh vực tôn giáo.
Sống đúng tư cách là thầy xứ có bổn phận cộng tác với cha xứ để đào tạo một đội ngũ giáo dân trưởng thành.
Sống gương mẫu, góp phần giảng dạy và dẫn dắt giáo dân trong tinh thần khiêm tốn và phục vụ. Giúp giáo dân thấy được vị trí và vai trò của họ là làm chứng cho Chúa giữa lòng xã hội hôm nay.
Quí trọng việc tông đồ của giáo dân và sát cánh với họ trong lúc khó khăn, theo tinh thần của hiến chế về Giáo Hội và Sắc Lệnh Tông Đồng Giáo Dân.
Lắng nghe những thao thức và đáp ứng những nhu cầu tâm linh của họ trong phạm vi của mình.
Cảm thông và giúp đỡ. Để ý đến những cá nhân, gia đình đang gặp khó khăn để kịp thời thăm hỏi, động viên, nâng đỡ.
Hàng năm vào dịp tết, nên đi chúc tuổi, thăm hỏi và để hiểu biết hoàn cảnh giáo dân hơn. Sống sao để luôn gần gũi với những người nghèo và kém may mắn.
Đem giáo dân vào trong lời cầu nguyện.
Tôn trọng phẩm giá của họ cũng như sứ vụ, kinh nghiệm, chuyên môn và các kỹ năng của họ.
Mời gọi họ cộng tác trong các việc phù hợp với họ, tin tưởng họ, khiêm tốn, lắng nghe, hoà đồng với họ, xây dựng tình đoàn kết yêu thương, làm gương sáng cho họ về đời sống đạo đức cũng như bác ái…
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không nên có những cử chỉ lời nói thiếu trưởng thành về nhân bản. Không bao giờ cư xử một cách thiếu đức tin và lòng mến đối với giáo dân.
Không nên đánh giá thấp giáo dân, vì ngày nay họ cũng được học hỏi và hiểu biết nhiều. Không coi thường giáo dân, xem họ như ở bậc dưới.
Không đòi hỏi những điều kiện trong khi làm mục vụ cho giáo dân. Không nên đòi hỏi giáo dân trở thành Kitô hữu trưởng thành trong một sớm, một chiều.
Không nên xem thường vai trò làm ‘men’, làm ‘muối’, làm ‘ánh sáng’ của giáo dân giữa giòng đời. Không nên quên hướng dẫn về ý nghĩa, mục đích và cách thức hoạt động tông đồ.
Không bao giờ cho phép mình bỏ bê việc giảng dậy giáo lý cho giáo dân. Không bao giờ cho rằng giáo dân năng đến với mình là giáo dân hay quấy rầy và gây phiền phức.
Không nên giúp đỡ vì mục đích nào khác ngoài mục đích tạo cho họ có điều kiện sống xứng đáng phẩm giá và ơn gọi của họ.
Không bao giờ nghĩ rằng mình nghèo tới mức không có gì để cho giáo dân.
Không nhắm kiếm chác vật chất nơi giáo dân khi giúp họ việc này việc khác, nhưng hãy tỏ ra đó là vì sứ vụ và bác ái.
Không quên người nghèo là đối tượng Chúa ưu tiên. Không gần gũi quá đến suồng sã hoặc xa cách quá.
Không nên nói tiêu cực về người khác với giáo dân.
Không nên ăn nhậu như những thanh niên ngoài đời, kẻo gây gương mù cho giáo dân.
Không trịch thượng, coi thường những ước mong, kinh nghiệm, chuyên môn cũng như các kỹ năng khác của họ, thiếu tin tưởng, không cho họ có cơ hội làm việc, bỏ qua các sáng kiến của họ, gây chia rẽ, bè phái, nghi kỵ nhau làm cho họ tách biệt khỏi cộng đoàn.
10. TƯƠNG QUAN VỚI BAN HÀNH GIÁO
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Tâm niệm rằng họ là những người có lòng hy sinh phục vụ. Luôn coi họ là người cộng tác chia sẻ gánh nặng với cha và thầy xứ.
Nhìn nhận Ban hành giáo là nòng cốt. Biết đề cao, bảo vệ, khích lệ và động viên kịp thời, đúng lúc, trong chừng mực cho phép. Rộng rãi lời khen đối với họ.
Quan tâm đến cuộc sống gia đình của từng người, bằng những lời thăm hỏi, những món quà nhỏ bé vào những dịp vui buồn của gia đình họ (nếu có thể).
Mỗi năm nên tổ chức hành hương, du lịch và một vài bữa ăn để củng cố tinh thần và trao đổi về những thành công, thất bại và rút kinh nghiệm cho năm phụng vụ mới.
Quý mến, tôn trọng, tín nhiệm và trao trách nhiệm cho họ, khi họ có điều kiện làm được.
Bồi dưỡng đời sống thiêng liêng và tinh thần để họ có được động lực và sức sống cần thiết hoạt động mục vụ.
Gây tinh thần đoàn kết hợp nhất giữa các thành viên Ban Hành Giáo.
Phải là người có nhân bản, nghĩa là những “phép tắc” căn bản dùng để đối xử giữa con người với nhau cho đúng tình người.
Thầy xứ phải là con người có lòng biết ơn, biết xin lỗi, tiết chế lời nói, tiết chế nóng giận, ăn uống;
Đồng thời cũng phải biết lắng nghe và phải tế nhị với những người đại diện cộng đoàn, nhất là với Ban hành giáo, những người cộng tác đắc lực với cha xứ.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không nên đối xử với Ban hành giáo như người dưng, xem thường tiếng nói của họ, khiến họ cảm thấy thầy vô ơn.
Không nên sửa lỗi của một người nào trong ban hành giáo trước mặt cộng đoàn. Không xúc phạm một ai đó trong ban hành giáo bằng lời hay bằng hành động.
Không làm gì khi chưa được sự đồng ý và ủng hộ của cha xứ: thăm hỏi, biếu quà, tổ chức hành hương, du lịch cho ban hành giáo.
Không nên quá chú ý xây dựng tương quan với ban hành giáo tới mức phá vỡ mối hiệp thông thầy đang có với cha xứ.
Không đứng về phía ban hành giáo chống cha xứ và gây hại cho giáo dân.
Thầy xứ không được lộng quyền lèo lái họ, nhưng nâng đỡ và khuyến khích họ chu toàn trách nhiệm phục vụ Giáo hội, với những kinh nghiêm và chuyên môn của họ trong các lãnh vực.
11. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC ĐOÀN THỂ
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Tôn trọng và yêu qúi các đoàn thể đang hoạt động với những mục đích tốt. Nhìn nhận, hỗ trợ, cổ võ và khuyến khích các đoàn thể sống và phục vụ đúng vai trò của mình.
Tạo thuận lợi để các đoàn thể hoạt động trong sự hợp nhất với nhau, gắn liền với việc phát triển và phục vụ giáo xứ.
Có chương trình định kỳ gặp gỡ các đoàn thể trong giáo xứ. Giúp các đoàn thể hiểu được ý nghĩa và mục đích công việc phục vụ của họ để họ gắn kết và yêu quý chính đoàn thể của họ.
Giúp họ hiểu biết nhiều về đạo bằng việc mời gọi họ học hỏi Thánh Kinh, Giáo lý và phụng vụ, hoặc tổ chức hội thảo về những vấn đề liên quan.
Đối xử công bằng với hết mọi đoàn thể, yêu thương đồng đều với hết mọi thành viên trong hội đoàn.
Chỉ nên có mặt trong các cuộc bầu chọn lãnh đạo hội đoàn với tư các là người nói lên các nguyên tắc và tiêu chuẩn cũng như mục đích của bầu cử.
Tổ chức giao lưu giữa các hội đoàn qua những buổi trình diễn thánh ca, văn nghệ, thể thao, du lịch hoặc diễn đàn văn hóa...
Giúp các thành viên trong mỗi hội đoàn hiệp nhất và yêu thương nhau.
Luôn chú tâm củng cố những hội đoàn có sẵn và có thể thành lập thêm nếu cha xứ thấy cần. Luôn khích lệ, động viên và đồng hành cùng họ trong những sinh hoạt riêng của họ.
Giúp các thành viên trong đoàn hội sinh hoạt, học hỏi để đoàn hội thăng tiến, sống đạo và sống đời sống thân hữu thực sự.
Hướng họ tham gia các công việc từ thiện, bác ái xã hội nhằm giúp đỡ những người khó khăn, đau khổ.
Cộng tác với cha xứ làm thăng tiến phẩm giá và sứ vụ giáo dân, sẵn sàng lắng nghe họ, coi trọng những ước vọng của các đoàn thể.
Tôn trọng đoàn thể, nhất là những người đoàn trưởng. Nếu cần, có thể hướng dẫn, nâng đỡ nhưng rất cần sự khôn ngoan và tế nhị.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không nên đối xử phân biệt giữa các hội đoàn. Không nên gắn bó với những đoàn thể mà cha xứ không nhìn nhận.
Không qúi một đoàn thể nào đó cách đặc biệt lộ liễu, khiến bầu khí hợp nhất giữa các hội đoàn bị phá vỡ.
Không tiếc lời khen, cũng không vội chê trách các hội đoàn về những khuyết điểm của họ, cá nhân hay cả hội, nhưng cần góp ý nhỏ nhẹ.
Không cứng nhắc buộc các hội đoàn phải làm theo ý mình.
Không tương giao riêng tư với một thành viên nào trong hội đoàn, nếu không phải vì trách nhiệm và ích lợi cộng đoàn.
Không ngại khó khi phải giúp các hội đoàn hiệp nhất và yêu thương nhau.
Không can thiệp quá sâu vào nội bộ của hội đoàn, vào các cuộc bầu người lãnh trong hội đoàn tới mức các thành viên của hội ấy cảm thấy mình mất tự do bình bầu.
Không thành lập hội đoàn mà chưa có phép cha xứ. Không nhận giúp đỡ hay hướng dẫn trong mọi công tác sinh hoạt riêng của họ, khi không được sự đồng ý của cha xứ hay những vị hữu trách.
Không xen vào những chuyện nội bộ, nhất là trong công tác điều hành của họ. Không chỉ để ý hay chỉ quan tâm tới một số người để rồi gây sự chia rẽ trong đoàn thể.
Không nên để các đoàn hội quá chú trọng những hình thức bề ngoài mà xem thường đời sống nội tâm.
Không nên tạo ra những ganh đua, tranh dành ảnh hưởng, lấn át các tổ chức khác hoặc tìm cách cho đoàn hội của mình vượt trội.
12. TƯƠNG QUAN VỚI NHỮNG NGƯỜI GIÀ CẢ,
BỆNH TẬT VÀ HẤP HỐI
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Chuyên cần thăm viếng, ủi an, giúp họ hiểu được tình yêu vô tận của Chúa qua mầu nhiệm đau khổ.
Khích lệ họ tìm thấy sức mạnh và niềm hy vọng trong lời cầu nguyện và trong sự hiến dâng đau khổ để hiệp thông với cuộc thương khó của Đức Kitô.
Nhắc nhở cho họ rằng dưới ánh sáng Phục Sinh của Chúa Kitô, đau khổ và sự chết mang ý nghĩa chiến thắng cứu độ.
Cần chia sẻ ân cần cũng như nâng đỡ bằng lời cầu nguyện và công việc để giúp họ thắng vượt những khó khăn trong cuộc sống, những đau khổ thể xác, nhận thấy những giới hạn của con người, tránh đi những trường hợp cảm thấy cô đơn và bị bỏ rơi.
Cổ võ sự trọng kính các vị “kỳ lão” và những người già trong gia đình như “những nhân chứng của quá khứ và là người khơi sáng sự khôn ngoan cho giới trẻ hướng về tương lai”.
Luôn biết lắng nghe những chia sẻ, những câu chuyện quá khứ của người già. Tôn trọng ý kiến của người già.
Chuẩn bị cho họ những hành trang cần thiết trong buổi xế chiều để về với Chúa cách thảnh thơi. Nên dành thời gian thăm hỏi, động viên an ủi những khi họ đau ốm bệnh tật; hay những ngày lễ tết...
Cần quan tâm đặc biệt tới những người già cả cô thân cô thế, chia sẻ và thông cảm với những khó khăn vất vả cuộc sống.
Qúy trọng những kinh nghiệm và lòng mộ mến đạo đức bình dân; quan tâm thúc đẩy và hướng dẫn để họ có thể sống tốt hơn.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không chọn lựa phục vụ theo cảm tình riêng gia đình này hơn gia đình khác; không chọn làm khách danh dự trong các cuộc viếng thăm người bệnh.
Tránh những trường hợp không biết lắng nghe, không đặt mình vào địa vị và hoàn cảnh người nói chuyện, coi như mình biết hết rồi hoặc đã có câu trả lời.
Tránh tư tưởng loại trừ người già yếu, bệnh tật ra khỏi cuộc sống, và coi họ như món nợ quá khứ.
Tránh những tình cảm làm cho người già cảm thấy nghiệt ngã, cô đơn, không người chăm sóc.
Tránh phế bỏ những ý kiến, những thành tích của người già đã phấn đấu làm trong cả cuộc đời họ.
Không nên coi thường hay tỏ thái độ khinh khi đối với những người lớn tuổi. Không nên nói những lời thô lỗ hay xấc xược.
Không nói những lời bi quan hay những lời gây hoang mang cho người bệnh, lâm cơn hấp hối.
Tuyệt đối không mắng chửi hay nói xấu người già, người bệnh tật. Không được có những hành động hay cư xử thô lỗ, bất kính đối với những người già, người bệnh...
13. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC GÓA PHỤ,
NHẤT LÀ GÓA PHỤ TRẺ
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Cần có thái độ và tương quan trưởng thành, trong sáng và lành mạnh trong giao tiếp cũng như trong công việc. Cần dứt khoát ngay và xa tránh khi thấy có dấu hiệu không lành mạnh trong quan hệ.
Luôn sống trong sự khiêm tốn, biết giới hạn của mình. Khi có vấn đề, hãy giãi bày với cha linh hướng hoặc với anh em thân tín.
Phải cảnh giác và đề phòng, tránh những mối quan hệ làm ảnh hưởng đến đời sống bản thân mình, và những đối tượng mình quan hệ.
Giúp đỡ, nâng đỡ họ sống đúng bổn phận và ơn gọi. Phải tôn trọng họ - Nói năng phải ý tứ và cư xử có tư cách, đúng đắn.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Tránh sự tò mò, quan tâm quá giới hạn cho phép. Không nhận họ làm con hay em thiêng liêng. Tránh những tiếp xúc không bình thường và có thể làm giảm tự do thực sự của con tim.
Tránh tất cả những gì có thể gây nghi ngờ, làm xôn xao trong giáo dân và làm giảm uy tín của bản thân. Tránh gặp gỡ riêng tư lâu giờ trong nơi kín đáo, hoặc phòng riêng.
Tránh tặng quà, cùng những kỷ vật có liên quan đến cá nhân riêng tư. Tránh tạo những lầm tưởng về tình cảm.
Không nên quan tâm quá mức cho phép, mặc dầu đó là điều tốt trước mắt cho bản thân và cho họ.
Không nên quan tâm để trục lợi cho riêng mình như Chúa Giêsu đã cảnh báo “nuốt hết tài sản của các bà goá”.
Không được coi thường hay khinh rẻ họ trong cuộc sống cũng như trong các công việc của họ.
Không nên nói những lời bông đùa hay chọc ghẹo họ, nhất là những lời nói thuộc lãnh vực tình cảm, vì họ là những người rất nhậy cảm. Không nên có những cử chỉ hay cách cư xử suồng sã, mất tư cách.
14. TƯƠNG QUAN VỚI GIỚI TRẺ
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Thâm tín rằng giới trẻ là tài nguyên phong phú để xây dựng xã hội và Giáo Hội.
Quan tâm chăm sóc để huấn luyện họ thành những người nam và người nữ có phẩm cách nhân bản và Kitô giáo vững vàng.
Có thái độ đượm tình thương chân thành và tâm tình sẵn sàng phục vụ. Thiện cảm với những ước vọng, lý tưởng, quan điểm, vấn đề và hoạt động của họ.
Khích lệ và hướng dẫn giới trẻ để họ có khả năng nhận định có phê phán, nhờ đó họ có thể đương đầu với những tình huống khó xử.
Gần gũi giới trẻ để chỉ bảo và hướng dẫn họ tránh đi những “cạm bẫy”.
Giúp họ tự đào luyện trong bầu khí tin cậy, để họ có thể vượt qua những mâu thuẫn trong chính họ, tạo được những dự án tích cực cho cuộc sống và gắn bó dấn thân.
Sẵn sàng cho giới trẻ, cống hiến cho họ nhiều thời giờ, quan tâm và tình bạn. Quan tâm đặc biệt đến mục vụ giới trẻ ở cấp giáo xứ và giáo phận.
Giúp cộng đoàn tín hữu hiểu những nguyện vọng của giới trẻ và lưu tâm đến, trở nên chứng nhân cho giới trẻ về sự lương thiện trong đời sống nhân bản, và trung thực trong đức tin.
Giúp giới trẻ hoà nhập vào đời sống cộng đoàn, hiện diện sinh động và đóng góp năng động làm cho cộng đoàn trở nên đích thực là một cộng đoàn mang tính người và tính Kitô giáo.
Làm trung gian cho người trưởng thành và người trẻ liên kết chặt chẽ với nhau và trao đổi cho nhau những giá trị khác nhau, hầu xây dựng một cộng đoàn Kitô hữu đích thật và trọn vẹn.
Luôn tạo những sân chơi bổ ích cho giới trẻ. Tôn trọng họ - để họ phát huy sáng kiến trong những sinh hoạt đoàn thể.
Đồng hành với họ, yêu thương chăm sóc và đào tạo giáo dục giới trẻ về đời sống nhân bản, đức tin và luân lý để họ trở thành những người tín hữu thánh thiện, nhiệt thành sống đạo, thành những người công dân hữu ích cho xã hội và Giáo hội.
Động viên, hướng dẫn lòng hăng say của họ nhắm tới mục đích và lý tưởng cao thượng. Cuộc sống sẽ có ý nghĩa khi dấn thân phục vụ con người.
Tạo điều kiện cho giới trẻ hợp tác đóng góp vào sinh hoạt của giáo xứ, dấn thân hoạt động tông đồ.
Phải có đời sống đạo đức gương mẫu, nhất là đời sống cầu nguyện để nêu gương sáng cho giới trẻ.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Sống hòa đồng với giới trẻ mà không đồng hóa mình với họ. Không coi thường người trẻ trong hiện tại và trong tương lai của Giáo Hội.
Không ngại chia sẻ với họ những ước vọng và lý tưởng, cùng các quan điểm có giá trị, các vấn đề và hoạt động của họ.
Tránh đi sự thiếu hiểu biết về năng động tập thể. Nhưng phải quan tâm đặc biệt đến việc đào luyện các thủ lãnh điều khiển các nhóm trẻ.
Không để cho người trẻ tự phát triển trong bầu khí thuần giới trẻ, nhưng phải biết liên kết với toàn cộng đoàn Kitô hữu.
Tránh làm gương xấu cho người trẻ trong tư cách, lời ăn tiếng nói. Không làm cụt hứng những ý chí phấn đấu và sửa chữa của người trẻ. Tránh làm tan biến những ý chí, tâm hồn nhiệt huyết của người trẻ.
Không tạo những bầu khí không tốt cho người trẻ như tụ họp ăn nhậu, chơi bài, cãi vã vô bổ. Hoà đồng chứ không đồng hoá, tức là chia sẻ và thông cảm với họ nhưng tránh tất cả những gì không phù hợp với tư cách thầy xứ.
Không nên quá đua đòi hay chạy theo những kiểu cách của những người trẻ ngoài xã hội, như trang phục, đồ dùng hay vật dụng cá nhân, cách ăn uống hay vui chơi giải trí.
Không áp đặt tư tưởng, hành động theo một khuôn mẫu cổ điển lỗi thời, nhưng cũng không chạy theo đợt sóng mới đồi trụy.
15. TƯƠNG QUAN VỚI GIỚI THIẾU NHI
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Quy tụ các em thuộc độ tuổi thiếu nhi tương ứng với trình độ văn hoá phổ thông cấp I – II (tuổi ‘teen’), để phát triển và thăng tiến đức tin của các em trong đời sống của Giáo Hội giữa lòng thế giới hôm.
Giúp các em sống hiệp thông với Đức Kitô trong tất cả lời dạy và đời sống của Người, để nhờ ơn Chúa giúp, đức tin của các em được nuôi dưỡng và tăng trưởng mỗi ngày.
Việc dạy Giáo lý được canh tân và thích nghi phù hợp với lứa tuổi, trình độ và môi trường, để các em vừa nhận thức được nội dung giáo lý vừa canh tân đời sống liên kết mật thiết với Đức Kitô và hiệp thông với Giáo hội.
Dạy các em biết chăm chỉ học giáo lý, ngoan ngoãn và luôn vâng lời, trở nên thiếu nhi gương mẫu qua đời sống đạo đức, siêng năng đi lễ và rước lễ.
Khuyến khích các em hăng say làm chứng về Chúa cho bạn bè, như không nói tục, không đánh nhau, không gian dối ...
Nhắc các em tích cực tham gia các công việc từ thiện bác ái, và giúp đỡ cha mẹ công việc gia đình.
Cuộc sống của bản thân là mẫu gương lý tưởng cho các em noi theo. Yêu thương, tôn trọng các em, vì các em là hình ảnh của Chúa và là món quà Chúa gởi đến để ta phục vụ.
Luôn gần gũi, thân tình, niềm nở đón tiếp; chăm sóc, đào tạo, giáo dục các em.
Nơi các em đã sẵn những đức tính như đơn sơ, thật thà, khiêm tốn, dễ dạy…, phải nhằm khơi dậy và giúp các em phát triển các đức tính tốt đó.
Làm gương sáng trong lời ăn tiếng nói, cách cư xử, giao tiếp; đào tạo cho các em có nền tảng nhân bản, dấn thân phục vụ mọi người.
Giúp các em trở nên những tín hữu nhiệt thành, thánh thiện, hăng say sống đạo, đón nhận và sống các Bí tích sâu sắc; và cũng là những công dân tốt giữa xã hội.
Giúp các em hăng say học hỏi những điều thuộc niềm tin, giáo lý, Thánh kinh và đời sống luân lý trong Giáo Hội. Cũng khuyến khích trẻ trau dồi khả năng học vấn theo đà phát triển của xã hội; có tinh thần hoà đồng, làm việc tập thể.
Tâm hồn trẻ thơ như tờ giấy trắng, hãy vẽ vào tâm hồn các em “thần tượng” là Chúa Giêsu.
Hướng dẫn các em sống tình người, tình huynh đệ bạn bè, tình gia đình, tình yêu quê hương đất nước, tình nhân loại.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Trong công tác giáo dục, không nên nóng vội, phải biết kiên nhẫn. Không đòi hỏi khắt khe, coi các em như người đã trưởng thành.
Không xa cách các em, mà sống gần gũi yêu thương. Không nuông chiều các em quá. Không tạo cho các em tính tự phụ, cục bộ hay tự hào quá đáng.
Không nói xấu người khác trước mặt các em. Không chê bai em nào trước mặt tập thể. Không khen em nào trước những người khác, khi không cần thiết.
Không nên áp đặt trên các em theo kiểu trưởng giả, cha chú. Không bạo hành hay áp dụng hình thức kỷ luật mang tính nhục hình.
Không làm gương mù, gương xấu, ví dụ làm và dậy các em nói dối. Tránh nói năng cộc cằn thô lỗ thiếu văn hoá.
Không nói xấu người khác trước mặt các em. Không được có những hành động thô bạo hay mắng chửi: với chính các em hay với người khác trước mặt các em.
16. TƯƠNG QUAN VỚI NHỮNG NGƯỜI PHỤC VỤ
TRONG NHÀ XỨ, NHẤT LÀ CÔ BẾP
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Luôn tỏ thái độ biết ơn, tôn trọng, hoà nhã, vui vẻ. Luôn dùng những lời nói nhẹ nhàng. Góp ý cách chân thành, mang tính xây dựng.
Quan tâm đến sức khỏe và đời sống của họ. Động viên kịp thời và giúp đỡ họ khi cần.
Tạo điều kiện tốt cho họ để họ có thể an tâm phục vụ tốt những công việc nhà xứ. Nếu có thể được, trong những dịp đặc biệt, cộng tác với những người giúp việc trong công việc nhà xứ.
Cần thận trọng khi tiếp xúc, nhất là vấn đề mà biết là sẽ khiến nảy sinh tình cảm riêng tư.
Cần tôn trọng, yêu thương và nâng đỡ họ trong cuộc sống cũng như trong công việc.
Chăm lo đời sống vật chất cũng như tinh thần của họ. Luôn nghĩ tới đức công bằng: thù lao cần thiết để họ có phương tiện tối thiểu cho cuộc sống của họ và cho những người mà họ có trách nhiệm chăm sóc, để họ an tâm phục vụ.
Với người nữ giúp việc nên khôn ngoan và tỉnh thức trong cách nói năng, trong những cử chỉ giao tiếp. Ứng xử với họ như mẹ và chị em mình với tấm lòng trong sạch.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không khinh thường, nóng nảy, cáu gắt với những người phục vụ; tỏ thái độ kẻ cả, sai bảo, hạch sách, chỉ trích, trì chiết.
Không nên bày tỏ một sự quan tâm đặc biệt và sâu sắc quá mức. Không nên tiếp xúc lâu giờ và ở nơi kín đáo khi chỉ có hai người. Không nên nói và hành động gây gương mù gương xấu.
Không nên hành xử vượt quá chức năng của mình là một thầy xứ. Không nên có những lời nói hay hành động, cách cư xử thiếu trong sạch, thiếu sự đứng đắn.
Không nên để cô bếp xen vào những công việc quản trị và điều hành giáo xứ; tránh trao đổi bàn hỏi ý kiến về những công tác này.
Tâm sự, than thở về bệnh tình hay nỗi đau buồn để được cô bếp an ủi là điều nên tránh.
Không để cô bếp trở thành tờ báo sống đem chuyện thiên hạ vào nhà xứ hoặc chuyện nhà xứ ra ngoài, khiến ta phán đoán thiên lệch và phản ứng thiếu sáng suốt.
Đừng để thân nhân, người giúp việc, cô bếp lợi dụng, lộng hành làm cho giáo dân khó chịu với mình.
Không có lý do đặc biệt chính đáng, không nên để người nữ giúp việc và cô bếp vào phòng riêng của mình.
17. TƯƠNG QUAN VỚI CHÍNH QUYỀN
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Tôn trọng cởi mở và sẵn sàng đối thoại để hiểu biết nhau và cùng nhau cộng tác trong những công việc có liên quan đến đời sống chung của người dân.
Thỉnh thoảng thăm hỏi chính quyền, tích cực cộng tác với chính quyền trong các việc thúc đẩy sự phát triển tốt đẹp của đời sống xã hội và đẩy lùi những tiêu cực và những tệ nạn trong xã hội.
Khi có vấn đề gì có nguy hại đến đức tin và thiệt hại cho Giáo Hội, hãy trình bày với Bề trên để tìm cách khôn ngoan giải quyết.
Phải có thái độ tôn trọng những người lãnh đạo được nhân dân bầu chọn để lo việc chung. Luôn niềm nở, vui vẻ tiếp đón nhà chức trách địa phương khi họ đến thăm viếng nhà xứ hay trao đổi công tác.
Thân thiện đón nhận mặt tích cực mà chính quyền đề xướng. Cộng tác với chính quyền để lo cho công ích, nhất là các vấn đề an sinh xã hội nhằm thăng tiến con người: tìm công ăn việc làm cho dân, giáo dục thanh thiếu niên, đẩy lui các tệ nạn xã hội...
Viếng thăm xã giao các cấp chính quyền, nhất là chính quyền địa phương. Thăm hỏi động viên gia đình chức sắc địa phương dịp vui, buồn...
Cởi mở, đối thoại - lắng nghe và tìm hiểu những ưu tư của chính quyền. Nếu chính sách pháp luật hợp với luật Chúa, luật tự nhiên ta nên cùng họ hợp tác.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Tránh đối đầu, căng thẳng với chính quyền khi không cần thiết.
Tránh vội vàng nói, làm, quyết định điều gì làm thiệt hại cho đức tin, cho Giáo Hội.
Không cộng tác với chính quyền nếu biết chắc việc cộng tác đó làm thiệt hại cho Giáo Hội và cho đời sống của người dân.
Không luồn cúi để đạt được mục đích nào đó của riêng mình hay của giáo xứ, ngay cả của Giáo hội.
Không nên có thái độ nghi kỵ đối đầu. Tránh thái độ tự tôn, kỳ thị giai cấp, ý thức hệ hay đảng phái chính trị.
Không nói những lời thoá mạ mạt sát. Không hành động hay cư xử cách trịch thượng, thiếu tôn trọng.
Không nên có thái độ bất hợp tác trong bất cứ công tác nào do phía chính quyền đề xướng. Cũng không vì một vài quyền lợi mà nhượng bộ đến mức đánh mất căn tính của mình.
18. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC TÔN GIÁO BẠN,
NHẤT LÀ CÁC VỊ LÃNH ĐẠO
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Tôn trọng giá trị và niềm tin cũng như truyền thống của các tôn giáo khác.
Quan tâm thăm hỏi và chúc mừng tôn giáo bạn vào những dịp lễ hoặc những biến cố quan trọng. Luôn gây thiện cảm, thiết lập quan hệ và tình đoàn kết với các tôn giáo bạn.
Nhìn nhận và chấp nhận sự khác biệt của họ. Cộng tác với các tôn giáo bạn trong việc xây dựng công ích chung. Sẵn sàng đối thoại về mọi lãnh vực trên căn bản bình đẳng.
Cùng đối thoại để tìm ra những điểm gần gũi của tôn giáo bạn với tôn giáo của mình. Nhưng đối thoại trong tương quan bình đẳng và chân thành cởi mở.
Nên có thái độ hợp tác để cùng nhau phục vụ công ích, phục vụ con người và xã hội.
Tôn trọng niềm tin của họ, nhất là nơi các vị lãnh đạo của các tôn giáo bạn. Tạo nên những mối dây tương quan thân mật gần gũi.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không có thái độ khinh miệt, cho rằng chỉ đạo của mình là tốt, và hạ thấp tôn giáo bạn. Không xúc phạm đến niềm tin của các tôn giáo khác.
Không nói xấu hay chỉ trích cách sống, cách thờ phượng của các tôn giáo bạn. Không phủ nhận những gì là chân thật thánh thiện nơi các tôn giáo đó.
Không trình bày tôn giáo mình với ý định bắt người ta phải theo, trái lương tâm họ. Không nên có thái độ “quyền thế” để tìm cách khuất phục người khác.
Không nên bo bo khép kín trong chân lý của mình (khách quan cũng như chủ quan) để bắt người ta phải tuân phục chân lý đó.
Không được tỏ thái độ khinh thường, chê bai hay thoá mạ niềm tin của các tôn giáo bạn, hay xúc phạm tới niềm tin tôn giáo của người khác nói chung.
19. TƯƠNG QUAN VỚI LƯƠNG DÂN
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Sống chứng tá bằng đời sống bác ái, hiền hoà, cởi mở và yêu thương, sẵn sàng giúp đỡ mọi người. Quan tâm giúp đỡ, thăm hỏi động viên anh chị em không công giáo.
Tôn trọng phẩm giá và niềm tin của anh chị em không công giáo. Sẵn lòng cộng tác với họ trong việc xây dựng con người và xã hội.
Gần gũi và chia sẻ những gì mình có thể với những người không cùng tôn giáo, và niềm tin với mình. Sẵn lòng trả lời những thắc mắc về đạo một khi được hỏi.
Có những liên hệ thân tình và gần gũi với đồng bào lương dân trong địa bàn giáo xứ. Quan tâm tới những nhu cầu của họ.
Tôn trọng những phong tục tập quán tốt, nếu cần có thể tham gia cộng tác trong một số lãnh vực nào đó.
Thường xuyên thăm hỏi giúp đỡ mọi người trong phạm vi khả năng của mình, không phân biệt tôn giáo hay tín ngưỡng.
Phải hoà nhập với mọi người tại nơi mình giúp xứ, và phải nhập cuộc sống hài hoà với mọi người, mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi… Nói năng, cư xử và hành động giao tiếp hoà nhã lịch sự, nhất là tỏ thái độ tôn trọng.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Tránh nói hay làm gì có tính cách gây chia rẽ. Không gây gương mù gương xấu trong cách ăn nết ở.
Không phân biệt hay xa cách đối với lương dân. Không sống ích kỷ với họ, kỳ thị, phân biệt đối xử, kiêu căng trịch thượng với họ.
Không cư xử hay hành động bất công đối với bà con lương dân sống trong địa bàn giáo xứ.
20. TƯƠNG QUAN VỚI GIỚI GIÀU CÓ
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Yêu thương và cư xử với người giàu có cũng như mọi người. Thẳng thắn xin họ cộng tác và giúp đỡ khi nhu cầu mục vụ thực sự cần thiết.
Giúp họ cám ơn Chúa vì những gì đang có. Khích lệ họ làm việc bác ái, giúp đỡ người kém may mắn hơn mình.
Giúp họ có một tâm hồn bén nhạy trước những đau khổ của người xấu số, hăng hái tham gia chương trình từ thiện khi có dịp. Khuyến khích lòng quảng đại và tinh thần bác ái trong việc nâng đỡ những người kém may mắn hơn họ.
Tôn trọng yêu thương và nâng đỡ họ trong cuộc sống đức tin. Nói năng và cư xử lịch sử, hoà nhã. Sống thân tình và thăm hỏi động viên những khi cần thiết.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không tôn họ lên như một thần tượng. Không nói những điều có tính gợi ý xin xỏ.
Không thiên vị trong cách cư xử, nhất là trong vấn đề mục vụ; coi trọng họ hơn những người nghèo.
Không để mình bị lèo lái, chi phối bởi những ý kiến mà biết rõ rằng đằng sau đó là sức mạnh của vật chất. Không nên để bị chi phối hay lệ thuộc vào họ hay vào sự điều khiển của "đồng tiền."
Không đòi buộc họ phải giúp đỡ mình hay giáo xứ. Tránh những tương quan "trục lợi"; tránh nói những lời "vòi vĩnh." Đừng quá quỵ luỵ hay ham mê của cải của họ để rồi đánh mất nhân cách của mình.
21. TƯƠNG QUAN VỚI GIỚI NGHÈO
a. Những gì nên cư xử, nói và làm
Ý thức rằng người nghèo chính là đối tượng ưu tiên trong sứ vụ của Chúa Giêsu.
Tôn trọng và yêu thương họ như những người khác, vì ý thức rằng họ đều là con của cùng một Cha trên trời.
Sẵn sàng giúp đỡ khi họ có cần. Luôn cởi mở đón tiếp và dành thời gian cho họ, nghe họ tâm sự và chia sẻ.
Đi đến nhà thăm hỏi, nếu có thời gian. Có chương trình dành cho việc ủng hộ, giúp đỡ người nghèo, kể cả những người không thuộc địa phận mình coi sóc.
Quyết tâm sống vì người nghèo, cho người nghèo và sống thật là người nghèo. Phải đồng hành với những người nghèo và những người bị bỏ rơi.
Phải bác ái và quảng đại với những người nghèo khi họ đến với mình, không phân biệt tôn giáo.
Nên để ý giúp đỡ những bạn trẻ bất hạnh, không phân biệt lương giáo, giàu nghèo. Cư xử hoà nhã và vui vẻ - đón tiếp ân cần và chân thành.
Thăm viếng, động viên, an ủi và chia sẽ những khi có thể hay trong những dịp lễ tết. Tôn trọng phẩm giá và những giá trị cuộc sống của họ.
b. Những gì không nên cư xử, nói và làm
Không coi thường những người nghèo, cũng như những người thấp cổ bé miệng. Không nói hay làm điều gì khiến họ bị tổn thương.
Không coi họ là những gánh nặng, là người thừa của xã hội. Không đẩy họ ra ngoài cộng đoàn của mình.
Không giúp đỡ họ như theo kiểu bố thí của kẻ trên đối với người dưới.
Không tỏ ra khó chịu khi họ đến làm phiền. Không để cho họ hiểu lầm rằng mình là người chỉ giúp vật chất cho họ.
Không tỏ thái độ khinh thường hay xa lánh những người nghèo, người kém may mắn trong xã hội nói chung, và trong giáo xứ nói riêng.
Đừng để tính thờ ơ hay vô tâm đối với những người nghèo khổ và những người bị bỏ rơi.
Không nên xua đuổi những người nghèo đến với mình.
Tránh những lời nói khinh khi xúc phạm tới những người nghèo. Tránh thái độ tự kiêu tự tôn để rồi coi thường họ. Không nên đưa cái tôi mình lên mà kiêu kỳ cấp bậc với những người khác.
NHỮNG TRÔNG ĐỢI
1. LINH MỤC TƯƠNG LAI TRÔNG ĐỢI…
a) Nơi Giám Mục và Linh mục đoàn
Cần có sự cảm thông, chia sẻ và nâng đỡ từ Đức Giám mục. Nhưng không nên kỳ vọng quá nhiều vào Ngài, đòi hỏi sự nâng đỡ đặt biệt hơn anh em linh mục khác.
Cần có tình hiệp thông liên đới trong linh mục đoàn. Cùng cộng tác trong mục vụ, chia sẻ và nâng đỡ giữa anh em linh mục. Mong sự cộng tác và nâng đỡ, hiểu biết lẫn nhau, cùng nhau hướng tới vinh danh Thiên Chúa.
b) Nơi bản thân mỗi linh mục
Mong chính bản thân linh mục luôn biết hướng tới Chúa là trung tâm và cùng đích của đời sống linh mục của mình. Cần ơn Chúa giúp phát triển đời sống thiêng liêng, gắn bó mật thiết với Thiên Chúa tình yêu, sống hiền hoà với mọi người theo gương Chúa Kitô là Mục Tử nhân lành.
Không nên thần thánh hoá đời sống Linh mục, để đòi hỏi sự phục vụ, trọng vọng nơi giáo dân và tìm vinh danh cho mình. Không quan cách trong giao tiếp, coi khinh người khác, độc tài trong khi làm việc. Không được coi mình là người biết mọi thứ mà không chịu học hỏi. Không kiêu căng, tự phụ.
Mong dành nhiều thời giờ hơn cho việc giảng dạy giáo lý và soạn bài giảng lễ. Luôn cập nhật và tự trau dồi thêm kiến thức đạo đời để tiến kịp với thời đại, nếu không sẽ trở nên lạc hậu đối với giáo dân.
c) Nơi cha xứ
Mong cha xứ luôn hết lòng vì giáo dân, chu toàn bổn phận của mình, nhất là việc cử hành các bí tích. Mong cha xứ sống chan hoà, chịu khó tiếp khách, ghi nhận những tâm tình, tiếp thu ý kiến của giáo dân…
Mong cha xứ không co cụm chỉ biết mỗi xứ mình: Một mình một kiểu, không giống ai, không chơi với ai; phân bì, so sánh, khích bác, nói xấu cha xứ cũng như giáo dân các xứ lân cận.
Mong cha xứ không tự ti về những yếu kém của mình, dù Chúa ban cho một nén cũng hãy cố gắng làm lợi cho Chúa một nén.
Mong cha xứ không bỏ xứ đi quá nhiều, khổ cho dân, tạo vất vả cho các cha khác. Hoặc nghĩ mình chuẩn bị chuyển xứ rồi không làm gì cả hay làm qua loa cho xong …
Mong anh em linh mục cùng là cha sở cộng tác làm việc chung với nhau, thường xuyên giúp đỡ, ủi an, thăm viếng, tạo uy tín và giữ uy tín cho nhau.
d) Nơi Cha phó
Mong cha phó ý thức rõ quyền hạn và nghĩa vụ của mình, làm mọi việc mà cha xứ nhờ hay uỷ quyền và làm tốt nhất những gì có thể.
Mong cha phó năng động, cộng tác, chia sẻ gánh nặng mục vụ với cha xứ trong mọi lãnh vực; cảm thông, tha thứ những khiếm khuyết, yếu kém của cha xứ và giúp đỡ cha xứ chu toàn sứ vụ…
Mong cha phó coi cha xứ như người anh, tế nhị, tôn trọng, để cùng nhau phục vụ trong yêu thương.
Mong cha phó không vượt mặt, coi thường, hay chống đối cha xứ; gây áp lực, bất cộng tác, kết bè kết cánh, gây chia rẽ, phá rối cộng đoàn, chiến tranh lạnh với cha xứ, gây gương mù gương xấu.
Mong cha phó không ù lỳ, lười biếng, chỉ làm lễ lấy tiền, còn mọi việc mặc kệ; coi cha xứ là ông chủ còn mình là nô lệ. Trái lại, hãy mặc lấy tâm tình phục vụ như Chúa Kitô.
e) Nơi Thầy Xứ
Mong Thầy xứ ý thức mình chỉ là người cộng tác, cố gắng giúp cha xứ cách tốt nhất trong các lãnh vực ca đoàn, giáo lý, phụng vụ.
Mong thầy xứ làm mọi việc có sự đồng thuận của cha xứ; không làm gì theo ý mình, ngược với ý cha xứ.
Mong thầy xứ sống cởi mở, hoà nhã, lịch sự với hết mọi người; nhiệt tình và trách nhiệm với công việc, chứ không lười biếng công việc mà chỉ lo tìm kiếm các mối quan hệ tiền bạc.
Mong thầy xứ không ngông cuồng coi mình là giỏi, là hiểu biết rồi không coi ai ra gì. Ai mời đi ăn cũng đi, rồi rượu chè say sưa 100%, tiếng tốt thì ít, tiếng xấu thì nhiều.
Mong các tu sĩ cũng tương tự như thầy xứ vậy.
f) Nơi Giáo dân
Trông đợi sự cộng tác đặc biệt từ phía ban thường trực hội đồng giáo sứ, cùng bàn hỏi và tìm ra phương hướng chung, hiệu quả trong việc phát triển giáo xứ để các hội đoàn cùng hiệp nhất phát triển đức tin.
Mong giáo dân cầu nguyện cho cha xứ và nâng đỡ cha xứ về vật chất cũng như tinh thần.
Mong giáo dân yêu thương, tôn trọng cha xứ như người cha tinh thần mà Chúa gửi đến cho giáo xứ và giúp cha để cha thi hành tác vụ cách tốt nhất.
Mong giáo dân tha thứ cho cha xứ về những yếu kém, thiếu sót, lỗi lầm… và góp ý cho cha xứ về những gì cha xứ không chuyên môn, những mặt trái mà cha xứ không biết …
Mong giáo dân cộng tác với cha xứ trong những công việc chung, trong việc lãnh đạo cộng đoàn, xây dựng đoàn hội, cơ sở vật chất của giáo xứ … Đoàn kết, một lòng, luôn là những cánh tay cùng với cha xứ xây dựng giáo xứ, thăng tiến giáo xứ về mọi mặt.
Mong giáo dân không lỗi đức bác ái: chửi bới, nói xấu, nói hành, vu cáo, kiện tụng, bôi nhọ cha xứ. Coi cha như người xa lạ, rồi ác cảm, tránh mặt, không gặp, không đối thoại, không cộng tác.
Mong giáo dân không tìm cách ảnh hưởng lên cha xứ, cố gắng làm được một chức gì đó trong xứ rồi ỷ thế làm càn, mang tiếng cho cha xứ, gây gương mù.
Mong giáo dân không vay mượn tiền bạc cũng như vật dụng của cha xứ, vì vay mượn thì dễ mà trả thí khó, sinh ra nhiều phiền phức; cũng đừng lừa dối cha xứ về tình, tiền, quyền.
Mong giáo dân không bè phái, cực đoan dòng họ, làm việc thì ít mà bàn mưu tính kế hại nhau, làm mất mặt, mất thể diện của nhau thì nhiều…
g) Nơi Chính quyền
Mong Chính quyền tôn trọng, và tạo điều kiện để giáo dân thi hành bổn phận tôn giáo của mình. Đồng thời tạo sự đoàn kết, thông thoáng hơn trong các vấn đề xã hội, để giáo dân có thể tham gia nhiều hơn trong việc đóng góp xây dựng đất nước.
Mong Chính quyền để giáo dân được tham gia nhiều hơn trong các lĩnh vực: y tế, giáo dục, bác ái xã hội. Thay đổi những chính sách, hay thái độ cư xử kỳ thị, thù nghịch, không công bằng; không làm gì cách áp chế, khiến người dân có ác cảm với chính quyền.
2. GIÁO DÂN TRÔNG ĐỢI LINH MỤC
a) Trong tương quan với giáo dân
Giáo dân Việt Nam rất quí trọng linh mục. Lòng quí trọng này vừa là một lợi điểm lại vừa là một nguy cơ. Là lợi điểm vì giúp cho linh mục cảm thấy mình cần thiết và có ích, ít cảm thấy bị cô đơn. Là nguy cơ, vì lòng quí trọng ấy có thể làm cớ cho linh mục ỷ y mà tôn mình lên, coi thường thiên hạ, cho mình có quyền ăn trên ngồi trước, hách dịch, quan liêu.
Phải coi lòng quí trọng này là một ơn riêng Chúa dành cho hàng ngũ linh mục Việt Nam, để nhờ đó các vị được an vui và phấn khởi trong chức vụ chứ không phải ngược lại.
b) Trong căn tính linh mục
Giáo dân được nghe nói linh mục là một Đức Kitô khác. Chức linh mục được đề cao và do sự đề cao quá đáng quyền chức này mà linh mục dễ bị cám dỗ tôn mình lên, nhất là trong ngày chịu chức, khi người ta đến xin phép lành đầu tay hay ngỏ lời chúc mừng. Đây là một cử chỉ đầy lòng tin và sự khiêm nhường. Chớ gì tân linh mục xúc động mà tăng thêm lòng tạ ơn Chúa.
Giáo dân muốn linh mục nên giống Chúa Giêsu về lòng nhân ái và tinh thần phục vụ. Chúa Giêsu luôn gần gũi tiếp xúc với người ta và tìm cách làm ơn cho họ. Giáo dân cũng đợi chờ nơi linh mục đức tính này là dễ gặp, dễ nhờ. Vì đức tính này mà linh mục được định nghĩa rất sâu sắc và thâm thuý là con người “bị ăn” (Le prêtre est un homme mangé).
Nhiều linh mục ngày nay dành nhiều thời giờ cho mình mà ít cho giáo dân. Có linh mục làm lễ sáng xong là rút lui lên lầu, suốt ngày sống với máy vi tính và các thứ máy móc khác, hoặc đi vắng không mấy khi có mặt ở nhà, mọi việc giao cho thầy xứ, dì xứ hay Ban hành giáo, khiến cho giáo dân nhiều người cần gặp mà không gặp được. Có những cha sở tuy gặp được, nhưng giáo dân rất sợ tính lạnh lùng và hay bẳn gắt của cha. Vì thế, giáo dân mong linh mục hoạ lại hình ảnh Chúa Giêsu trong cách hành xử, nói năng và tiếp xúc.
Đức Giáo hoàng Grêgoriô Cả than phiền là có nhiều linh mục, nhưng rất ít linh mục chịu làm việc theo chức năng của mình hay có làm thì lại làm những việc ở bên ngoài chứ không phải việc bên trong. Việc chính yếu của linh mục là rao giảng lời Chúa, cử hành bí tích, giáo dục đức tin và lo phần rỗi cho các tín hữu. Những việc này phải làm trước rồi mới đến những việc khác như xây cất, mở mang cơ sở, hoạt động xã hội, phát triển dân sinh v.v…
Ở Việt Nam, cha sở có một vị trí xã hội tốt, nói thì dân dễ nghe và người ta cũng hay nhờ thế cha sở để làm công kia việc nọ. Vì thế, cha sở cũng dễ bị cám dỗ trở thành một nhân vật ngoài đời để có thế ăn nói với người ta. Điều này có thể đưa linh mục đi ra khỏi phạm vi chức vụ chính thức của mình. Linh mục phải coi chừng với tính thích làm quan tự nhiên của mình mà luôn nhớ rằng linh mục chính yếu là người phục vụ Chúa và Tin Mừng của Người.
Linh mục không chỉ biết có phòng thánh, nhà thờ và nhà xứ, mà cũng không ham mê lo những công việc bên ngoài. Phải theo bậc thang giá trị mà dành ưu tiên cho những việc thuộc bổn phận linh mục: làm lễ, giải tội, giảng thuyết, đi kẻ liệt, thăm viếng người nghèo khổ, ốm đau bệnh tật. Một linh mục làm đầy đủ bổn phận của mình thì chẳng còn thời giờ rảnh rỗi bao nhiêu; mà nếu có rảnh rỗi thì cũng nên dành thời giờ để học hành đọc sách vở thêm.
c) Trong đời sống tri thức
Làm linh mục rồi nhưng vẫn còn phải học, phải viết bài giảng và giảng thế nào cho người ta nghe được. Thường sau khi làm linh mục rồi, ít vị còn thích hay tiếp tục làm việc tinh thần. Vì vậy, giáo dân mong linh mục dành giờ làm việc tinh thần mỗi ngày: soạn bài giảng không dài quá, không chạy theo thời sự nhưng chú trọng vào sứ điệp lời Chúa, không khuyên lơn hời hợt nhưng mở lối cho những áp dụng thiết thực, không chiều theo thị hiếu người nghe mà chú tâm vào việc giáo dục đức tin và đem lại cho người ta một cái gì có chất lượng.
Dân chúng hôm nay thích sự hào nhoáng và hình thức bên ngoài; thích vui, thích dễ, thích ồn ào. Linh mục phải giữ chừng mực; nếu chiều theo khuynh hướng này thì linh mục cũng dễ trở thành hời hợt nông cạn.
d) Trong tác phong linh mục
Giáo dân muốn linh mục có tác phong thích đáng trong cách ăn mặc, nói năng, cư xử. Ăn mặc như người ta có cái lợi là dễ hoà đồng, thoải mái, nhưng có cái bất lợi là có thể làm cho linh mục quên căn tính của mình mà không còn giữ gìn hay ít giữ gìn trong lời ăn tiếng nói, trong cách ăn mặc và cư xử với người ta nữa. Vì vậy, tuy ăn mặc như người đời, nhưng linh mục vẫn phải giữ cho mình cái cốt cách là linh mục: đơn sơ xứng đáng với con người được học hành, có chữ nghĩa và có văn hoá, không chải chuốt quá đáng mà cũng không lôi thôi, bừa bãi trong cách ăn mặc, lối nói năng, chứ không áo quần luộm thuộm, đầu tóc bù xù, nói năng bừa bãi. Có dư luận nhiều linh mục trẻ sau 1975 thiếu nhân bản trong cách hành xử, đáng cho các linh mục lưu ý vì có liên quan đến ảnh hưởng và uy tín của các vị trong vấn đề làm chứng cho Chúa và cho đạo.
Thận trọng trong vấn đề vật chất: tiền bạc, của cải, đất đai nhà ở, đồ dùng cá nhân. Giáo dân rất để ý. Họ thích những linh mục không lo làm giầu hay tìm kiếm của cải vật chất cho mình hoặc bà con họ hàng. Họ nể trọng những linh mục sống đơn sơ giản dị, không xa hoa trong cách ăn mặc và biết sử dụng tiền bạc cách đích đáng.
e) Trong các tương quan
Một trong những lý do khiến ít người theo đạo, dù đạo có tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh, nhà thờ đẹp đẽ, nhiều cơ sở to lớn và các lễ nghi rất tưng bừng lôi cuốn, đó là tại giới linh mục xa cách dân chúng. Do đó, linh mục phải để ý hơn đến những nghèo và ít học, chứ không chỉ chơi với người giầu có và học thức.
Giáo dân mong muốn thấy cha sở và cha phó sống gắn bó thân tình, đồng tâm nhất trí với nhau trong công tác mục vụ và hướng dẫn cộng đoàn. Gương sống thân mật, kính trọng, yêu thương và nhường nhịn nhau giữa các vị mục tử là yếu tố có sức thuyết phục nhất đối với cộng đoàn dân Chúa.
Họ mong linh mục bén nhạy với mọi diễn biến đổi thay của tình hình xã hội để có những kế sách và phương án uyển chuyển, thích nghi năng động và cảm thông sâu sắc những khó khăn trong việc sống đạo của người tín hữu. Mong các ngài nhiệt thành việc tông đồ và vui vẻ hoà nhã, tậm tâm phục vụ như người cha, người anh và là trụ cột vững vàng trong đại gia đình giáo xứ giữa những biến động phức tạp của xã hội hôm nay.
3. Kết luận
Chớ gì mỗi người theo đuổi cho đến cùng những ước mơ và dự phóng tương lai của mình. Xin Chúa tiếp tục cho đến hoàn thành tốt đẹp những gì Ngài đã khởi sự với chúng ta và cho chúng ta.
[1] MP. Trần Minh Huy, Đào tạo và tự đào tạo thiêng liêng… tr.283-291.
[2] Vaticanô II, Vui Mừng và Hy Vọng, 7/12/1965, số 1.
[3] Phụ Lục: Thủ dâm trẻ nít và tuổi dậy thì.
[4] JP II, Tông huấn Ecclesia in Asia số 30.
[5] Thư HĐGMVN ngày 8/10/2008 gửi Cộng đồng Dân Chúa tại Việt Nam ký bởi Chủ tịch HĐGMVN và đại diện ba giáo tỉnh.
[6] JP II, Tông huấn Ecclesia in Asia số 48.
[7] HĐGMVN, Quan điểm về một số vấn đề trong hoàn cảnh hiện nay, I,2 và II,2, ngày 25/9/2008)
[8] JP II, Tông huấn Ecclesia in Asia số 48.
[9] Vaticanô II, Hiến chế Mục vụ Vui Mừng và Hy vọng, số 1.
[10] JP II, Tông huấn Ecclesia in Asia số 15.
[11] JP II, Tông huấn Ecclesia in Asia số 41.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét