ÁP DỤNG TÂM LÝ HỌC
VÀO PHÂN ĐỊNH VÀ ĐÀO TẠO ƠN GỌI
Ngày 30/10/2008, Bộ Giáo Dục Công Giáo công bố “Hướng dẫn sử dụng Tâm lý học trong Tuyển chọn và Đào tạo ứng sinh Linh mục.” Văn kiện được ĐTC Biển Đức 16 chuẩn y. Những tư tưởng chính của văn kiện là vai trò của các nhà tâm lý trong việc giúp nhận định ơn gọi; trách nhiệm của Giáo Hội khi nhận định, đánh giá xem các ứng sinh có phù hợp cho sứ vụ linh mục hay không; Đức Giám mục là người đại diện đầu tiên của Chúa Kitô trong việc đào tạo các linh mục; vai trò của người đào tạo là nhằm chuẩn bị cách tương xứng cho chức linh mục.
Phải nhắc đến bối cảnh văn hóa xã hội ảnh hưởng đến trạng thái tâm lý các ứng sinh, có những tổn thương không thể chữa lành hoặc những khó khăn tác động đến khả năng tiến bước trên con đường huấn luyện hướng đến chức linh mục của họ, không chỉ tại thời điểm gia nhập, mà cả thời điểm trước khi thụ phong nữa; nhưng nếu phát hiện kịp thời sẽ tránh được nhiều oái ăm.
Vì những ảnh hưởng đó và nhu cầu đào luyện con người của các ứng sinh, vấn đề sử dụng khoa học tâm lý trong chủng viện được đặt ra, với hy vọng những đóng góp của khoa tâm lý học góp phần đào tạo tâm lý cho các ứng sinh và chuẩn bị họ có một sự cân bằng nhân cách. Các trắc nghiệm tâm lý cho biết các chi tiết đáng lưu ý trong việc tuyển chọn và đào tạo ứng sinh, chúng cũng cho các ứng sinh hiểu rõ bản thân hơn, nhưng không nên chỉ dựa vào các trắc nghiệm tâm lý mà thôi.
Do hoàn cảnh đặc biệt, các chủng viện Bắc Mỹ sử dụng các trắc nghiệm tâm lý để đánh giá xem các ứng sinh có vấn đề gì không. Các vấn đề thường được quan tâm chú ý là xem các ứng sinh có vâng lời đủ hay không, có khả năng theo đuổi ơn gọi đến cùng hay không, có cởi mở, thân thiện, và có đáng tin cậy hay không, hoặc có các khuynh hướng lệnh lạc về giới tính hay không, để giám định sự trưởng thành và khả năng sống đời khiết tịnh. Nếu phát hiện ứng sinh có vấn đề và không thể thay đổi được thì không để ứng sinh ấy trong chủng viện nữa. Vì muốn làm tất cả những gì có thể làm để tránh các vấn nạn có thể có, họ không thể bỏ qua các trắc nghiệm tâm lý này.
Việc đào tạo nhân bản không thể tách rời với việc đào tạo thiêng liêng nên người hướng dẫn thiêng liêng có một vai trò đặc biệt. Những hình thức phân tích và hỗ trợ tâm lý không thể thay thế việc hướng dẫn thiêng liêng, vì chính đời sống thiêng liêng tạo đà tăng trưởng các đức tính của con người mà không bị sự tồn tại của tâm lý tự nhiên cản trở. Do đó phải chú trọng đến tầm quan trọng của ơn Chúa trong việc đào tạo ứng sinh. Ơn gọi linh mục là hồng ân và là mầu nhiệm vốn không thể đem so sánh với các phương pháp tâm lý.
Việc nhờ đến chuyên gia tâm lý chỉ được sử dụng trong một số trường hợp khó khăn đặc biệt. Do đó, nhà tâm lý học không thể là một phần của đội ngũ đào tạo. Sự trợ giúp tâm lý nên được hội nhập vào việc đào tạo toàn diện của ứng sinh, và không được gây trở ngại cho các giá trị thiêng liêng không thể thay thế. Các nhà tâm lý không được tiết lộ các khía cạnh đời sống riêng tư của khách hàng với đệ tam nhân, dù là thẩm quyền tôn giáo hay chính trị của họ, mà không có sự đồng thuận hoàn toàn của họ. Cũng thế, không ai, dù là Bề trên, có thể đi vào các chi tiết tiểu sử tâm lý của ứng sinh mà không có sự đồng thuận rõ ràng của họ.
Nhưng có hai thái cực sai lầm khi xem xét sự hỗ trợ về tâm lý đối với các ứng sinh linh mục: một là việc nhà tâm lý đóng vai trò vị linh hướng; hai là việc người đào tạo nghĩ rằng sự hỗ trợ từ các nhà tâm lý là không cần thiết đối với sự trưởng thành ơn gọi nơi những người khát khao chức linh mục. “Đối với nhà tâm lý nhắm mắt làm ngơ trước điều siêu việt, chối bỏ tầm quan trọng của đức khiết tịnh hoặc quay lưng lại đối với một số giá trị nào đó vốn thích hợp với Hội Thánh, thì rõ ràng họ chẳng thể có chỗ đứng trong việc giúp trưởng thành ơn gọi cho người hiến dâng đời mình cho sứ vụ. Nhà tâm lý nên có sự am hiểu lý thuyết và có cách tiếp cận nhằm đem chiều kích siêu việt của người ứng sinh hòa với lòng nhiệt thành và phẩm chất của họ, để tất cả những điều ấy đơm bông kết trái nơi người ứng sinh.” Giáo Hội đánh giá cao các phương pháp tâm lý và muốn chúng được sử dụng theo cách chúng có thể mang lại lợi ích.
Hướng dẫn sử dụng tâm lý học
trong việc tiếp nhận và đào luyện ứng sinh Linh mục:
Vì sự trưởng thành đầy đủ của các linh mục ngày mai
trong việc tiếp nhận và đào luyện ứng sinh Linh mục:
Vì sự trưởng thành đầy đủ của các linh mục ngày mai
Vaticano - Thứ Năm 30 Tháng 10 năm 2008 do Bộ Giáo Dục Công Giáo trình bày
I. Hội Thánh và việc phân định ơn gọi
(1) Mọi ơn gọi đều là ân huệ đến từ Thiên Chúa, được ban ở trong HT và qua HT. HT có nhiệm vụ phân định ơn gọi và tính thích hợp của ứng sinh, vừa bảo đảm thiện ích của HT vừa bảo đảm được thiện ích của ứng sinh trong tổng thể, mà cuối cùng bởi việc Giám mục nhìn nhận đó là ơn gọi đích thực của CTT. Mọi ơn gọi được định hình để phụng sự TC và xây dựng HT hầu tăng trưởng Nước TC ở giữa trần gian. Nhà đào tạo phải thực hiện hài hòa hai thiện ích này để chúng hội tụ và hỗ tương năng động với nhau để phụng sự TC và phục vụ con người.
(2) Tác vụ đồng hình đồng dạng với CK của linh mục đòi hỏi những năng lực và nhân đức đối thần cũng như luân lý, được nâng đỡ bởi sự quân bình nhân bản và tâm lý, tình cảm hầu có thể dâng hiến bản thân trong tự do của nếp sống độc thân, tương quan với mọi người.
Trong tổng thể bốn chiều kích đào tạo linh mục của PDV, nếu chiều kích thiêng liêng là yếu tố quan trọng nhất, thì chiều kích nhân bản là nền tảng của việc đào luyện toàn diện, khiến nhân cách linh mục trở thành nhịp cầu đưa người ta lại với CK, Đấng cứu độ. Các khả năng và phẩm chất nổi bật:
· Cảm thức tích cực và ổn định về nam tính của mình trong tương quan trưởng thành với người khác;
· Cảm thức vững chắc tính thuộc về trong hiệp thông với linh mục đoàn và cộng tác trách nhiệm với Giám mục;
· Sự tự do phấn khởi và nhất quán trong họat động hằng ngày;
· Can đảm lấy quyết định và trung thành với quyết định ấy;
· Hiểu biết những năng lực và giới hạn của mình để hội nhập chúng thành một nhãn quan tích cực về bản thân, với khả năng sửa chữa bản thân;
· Biết thưởng thức vẻ đẹp và nghệ thuật nhìn nhận chân lý;
· Tôn trọng, tín nhiệm và đón nhận người khác;
· Khả năng hội nhập phái tính của mình và sống bậc độc thân.
Những phẩm chất đó đạt được nhờ sự tương hợp của ứng sinh với hoạt động của ơn thánh nơi mình và nhờ một tiến trình đào luyện tiệm tiến, lâu dài, sinh động và cá vị hóa mà Giáo Hội cung cấp cho.
II. Chuẩn bị các nhà đào tạo
(3) Phải chuẩn bị thích đáng các nhà đào tạo để họ:
· hiểu rõ con người, các nhịp độ tăng trưởng, các tiềm năng và sự yếu đuối của ứng sinh, cũng như cách ứng sinh sống mối tương quan với Chúa;
· thực hiện việc phân định ơn gọi theo giáo huấn của Hội Thánh hầu an tâm quyết định thâu nhận hay thải hồi, cũng như đồng hành giúp ứng sinh thủ đắc các đức tính đối thần và luân lý trong sự nhất quán và tự do nội tâm dâng mình trọn vẹn phục vụ Hội Thánh.
(4) Có không ít những sai lầm trong việc biện phân ơn gọi khiến có những thiếu năng lực tâm lý, mang tính bệnh lý tỏ hiện ra sau khi chịu chức linh mục. Vì thế, nhà đào tạo cần được chuẩn bị chuyên môn về tâm lý, hiểu sâu về con người và những đòi hỏi của việc đào tạo, để:
· nhạy cảm với kỹ năng tâm lý để nhận ra những động lực thực của ứng sinh,
· phân định được những cản trở, cân nhắc chính xác và khôn ngoan chuyện đời của ứng sinh,
· lượng định về con người ứng sinh trong toàn thể và trong sự tăng trưởng tiệm tiến với những điểm mạnh và những điểm yếu của ứng sinh, cũng như việc ứng sinh ý thức về vấn đề của mình và khả năng ứng sinh kiểm soát cách có trách nhiệm và tự do hành xử của mình.
III. Đóng góp của khoa tâm lý trong phân định và đào tạo
(5) Quà tặng ơn gọi của Chúa vượt quá thẩm quyền phân định của khoa tâm lý. Nhưng khoa tâm lý hữu ích để lượng định tình trạng tâm lý, khả năng tăng triển nhân bản của ứng sinh; đồng thời giúp nhà đào tạo nhận ra các triệu chứng, hành trình chữa trị, nâng đỡ sự phát triển các phẩm chất và các mối tương quan để ứng sinh đáp trả ơn gọi tốt hơn.
Việc đào tạo phải lưu ý sự mất quân bình trong con người do đối kháng giữa lý tưởng dâng hiến và đời sống thực tiễn của ứng sinh, cũng như những khó khăn trong việc tăng triển tiệm tiến các đức tính nhân bản và các tương quan bị cản trở bởi những vết thương cá biệt trong quá khứ chưa được giải quyết. Sự trợ giúp của vị linh hướng và cha giải tội có thể giúp khắc phục với ơn Chúa.
Ngày nay, tâm thức của nhiều ứng sinh mới gia nhập bị ghi dấu bởi chủ nghĩa tiêu thụ, sự bất ổn trong các tương quan, chủ thuyết tương đối về luân lý, nhãn quan sai lầm về phái tính, thiếu chọn lựa và phủ định có hệ thống các giá trị… Những vết thương chưa được chữa lành gây nên những rối loạn trong chính mình mà ứng sinh không nhận ra lại gán cho những nguyên nhân bên ngòai, cản trở khả năng tiến bộ trong tiến trình đào tạo.
Trong một số trường hợp cá biệt, chuyên gia tâm lý có thể giúp ứng sinh vượt qua những vết thương ấy, nhờ phỏng vấn và trắc nghiệm [dĩ nhiên ứng sinh phải hiểu, tự do và đồng ý rõ rang trước] để nội tâm hóa lối sống của Chúa Giêsu ngày một vững vàng và sâu xa hơn. Nhà đào tạo tránh sử dụng kỹ thuật chuyên tâm lý và tâm lý bệnh học trên ứng sinh.
(6) Ban đào tạo chọn lựa các chuyên gia tâm lý, ngòai chuyên môn nghề nghiệp, phải có một nền nhân học kitô giáo về ngôi vị nhân linh, phái tính, ơn gọi độc thân linh mục, để can thiệp của họ không gây rối loạn hay đối kháng, nhưng hội nhập với việc đào tạo luân lý và thiêng liêng, với mầu nhiệm con người trong tương quan cá nhân với Chúa, đúng với quan điểm của Hội Thánh.
Hỗ trợ tâm lý phải hội nhập vào khung cảnh đào tạo toàn diện của ứng sinh, không cản trở việc đồng hành thiêng liêng luôn hướng ứng sinh về chân lý tác vụ thánh. Bầu khí đức tin, cầu nguyện, suy niệm, học hỏi thần học và đời sống cộng đoàn sẽ giúp ứng sinh hiểu biết ý nghĩa của việc sử dụng tâm lý vào hành trình ơn gọi của mình.
(7) Việc sử dụng chuyên viên tâm lý phải theo Rationes Institutiois Sacerdotalis lien hệ trong sự trung thành và nhất quán với Hướng dẫn này.
a. Sự phân định khởi đầu
(8) Ngay từ đầu, nhà đào tạo phải biết chính xác nhân cách, khuynh hướng, khả năng và tiềm năng của ứng sinh; lượng định bản chất và mức độ các vết thương, nếu có. Đừng quên hai khuynh hướng trái ngược của ứng sinh:
· giảm nhẹ/phủ nhận những yếu đuối riêng của mình, không nói lên những khó khăn nặng nề vì sợ không được hiểu và không được chấp nhận, vun đắp kỳ vọng ít có thực về tương lai của mình.
· thổi phồng những khó khăn, coi như ngăn trở không thể vượt qua cho hành trình ơn gọi: sự lệ thuộc tình cảm quá độ, gây hấn quá mức, thiếu khả năng trung thành với nhiệm vụ đảm nhận, không thiết lập được tương quan thanh thản, cởi mở, tín nhiệm và cộng tác huynh đệ với quyền bính, phái tính rối loạn và chưa định hình…
Nếu nghi ngờ có bệnh lý rối loạn tâm lý thì phải chữa trị trước khi nhận vào tu. Chuyên gia tâm lý cũng giúp nhà đào tạo vạch ra hành trình đào tạo thích hợp với nhu cầu cá nhân của ứng sinh. Việc định lượng khả năng sống đặc ân độc thân không chỉ lưu ý tới việc kiêng cữ hoạt động của cơ năng sinh sản, mà còn phải xét đến định hướng phái tính: Đức Khiết tịnh vì Nước Trời còn là cái gì hơn là không có những liên hệ tính dục.
b. Sự phân định kế tiếp
(9) Trong giai đoạn đào tạo, chuyên gia tâm lý cũng có thể giúp ứng sinh có được tốt hơn những đức tính nhân bản và luân lý, sự hiểu biết sâu xa hơn về nhân cách của chính mình, khắc phục những khủng hoảng có thể xảy ra, giảm bớt cường lực của những kháng cự tâm lý trước những yêu sách của đào tạo.
Đừng quên sự kiện một người có thể đạt được sự trưởng thành kitô và ơn gọi không luôn được chước miễn khỏi những khó khăn và căng thẳng, vẫn cần có kỷ luật nội tâm, tinh thần hy sinh, chấp nhận vất vả và thập giá, tín thác vào sự trợ giúp thiết yếu của ân sủng.
(10) Một ứng sinh, dù có cố gắng với hỗ trợ của chuyên gia tâm lý và bệnh lý, vẫn tỏ ra không có năng lực đối diện với thực tế và thiếu trưởng thành nghiêm trọng như quá lệ thuộc tình cảm, thiếu tự do và quân bình trong các tương quan, tính tình nghiêm khắc quá độ, thiếu trung tín, căn tính phái tính không rõ rang, khuynh hướng đồng tính mạnh, khó khăn hiển nhiên và như một nghĩa vụ nặng nề trong việc sống độc thân khiết tịnh… thì phải cho thôi.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét